TẠP
A-HÀM QUYỂN 37
KINH
1023. PHẢ-CẦU-NA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Phả-cầu-na[2] đang
ở tại giảng đường Lộc tử mẫu trong vườn phía Đông,
bị bệnh nguy khốn.
Tôn
giả A-nan đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
đứng lui qua một bên bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Phả-cầu-na ở giảng đường Lộc tử
mẫu trong vườn phía Đông bị bệnh nguy khốn. Bệnh của
Tỳ-kheo như vậy có thể chết. Lành thay, Thế Tôn! Xin Ngài
vì thương xót mà đến giảng đường Lộc tử mẫu, vườn
phía Đông, chỗ Tôn giả Phả-cầu-na.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Chiều hôm đó sau khi từ
thiền tịnh dậy, Thế Tôn đến giảng đường Lộc tử mẫu,
vườn phía Đông, vào phòng Tôn giả Phả-cầu-na, trải tòa
mà ngồi và vì Tôn giả Phả-cầu-na thuyết pháp, dạy dỗ,
soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Sau
khi Thế Tôn đi rồi, không lâu Tôn giả Phả-cầu-na mạng
chung. Lúc mạng chung, các căn vui tươi, gương mặt thanh tịnh,
sắc da tươi sáng. Tôn giả A-nan khi cúng dường xá-lợi Tôn
giả Phả-cầu-na xong, về chỗ Phật đảnh lễ dưới chân
Phật, đứng lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đến thăm, không lâu Tôn giả Phả-cầu-na
mạng chung. Lúc Tôn giả này sắp qua đời, các căn vui tươi,
sắc da thanh tịnh, nhuận ánh sáng tươi. Bạch Thế Tôn, không
biết Tôn giả ấy sẽ sanh về đâu, thọ sanh thế nào, đời
sau ra sao?”
Phật
bảo A-nan:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào trước khi chưa bệnh, chưa đoạn năm hạ phần
kết. Khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, tâm không điều
hòa, mạng sống suy mòn, nhưng được nghe Đại Sư chỉ dạy,
nhắc nhở, nói nhiều pháp. Khi được nghe pháp xong, đoạn
năm hạ phần kết. A-nan, đó là phước lợi được từ sự
chỉ dạy, nhắc nhở của Đại Sư.
“Lại
nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bệnh, chưa
đoạn năm hạ phần kết. Sau đó bệnh phát khởi, thân thể
đau đớn, mạng sống suy mòn dần, không nhờ được nghe Đại
Sư chỉ dạy, nhắc nhở, nói pháp, nhưng gặp được các vị
Đại đức đa văn, tu phạm hạnh, chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết
pháp. Khi được nghe pháp xong, đoạn năm hạ phần kết. A-nan,
đó gọi là được phước lợi từ sự chỉ dạy, nhắc nhở,
nghe pháp.
“Lại
nữa, A-nan, nếu Tỳ-kheo nào trước khi chưa bệnh, chưa đoạn
năm hạ phần kết,... cho đến mạng sống suy mòn, không được
nghe Đại Sư chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp; lại không
nghe các vị Đại đức đa văn phạm hạnh chỉ dạy, nhắc
nhở, thuyết pháp; nhưng trước kia đã lãnh thọ pháp, một
mình ở nơi vắng lặng tư duy, quán sát, đoạn được năm
hạ phần kết. A-nan, đó gọi là được phước lợi từ sự
tư duy, quán sát pháp đã nghe từ trước.
“Lại
nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bệnh đã
đoạn năm hạ phần kết, nhưng chưa được ái tận giải
thoát vô thượng[3], tâm không khéo giải thoát khỏi các lậu.
Sau đó tuy mắc bệnh, thân bị khổ đau, mạng sống suy mòn,
nhưng nghe được Phật chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp,
được ái tận giải thoát vô thượng, chẳng khởi các lậu,
lìa dục giải thoát. A-nan, đó gọi là được phước lợi
từ sự thuyết pháp của Đại Sư.
“Lại
nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bệnh đã
đoạn năm hạ phần kết, nhưng chưa được ái tận giải
thoát vô thượng, chưa ly dục, giải thoát khỏi các lậu.
Sau đó biết thân khởi bệnh, chịu khổ đau vô cùng. Tuy chẳng
được Đại Sư chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp, nhưng lại
được các vị Đại đức đa văn, phạm hạnh khác chỉ dạy,
nhắc nhở, thuyết pháp, được ái tận giải thoát vô thượng,
chẳng khởi các lậu, ly dục, giải thoát. A-nan, đó gọi là
được phước lớn từ sự chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp.
“Lại
nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bị bệnh,
đã đoạn năm hạ phần kết, nhưng chưa được ái tận giải
thoát vô thượng, không ly dục, giải thoát khỏi các lậu.
Sau đó thân bệnh khởi, sanh khổ đau vô cùng. Tuy không được
Phật chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp, cũng không được
các vị Đại đức đa văn khác chỉ dạy, nhắc nhở, nói
pháp, nhưng ở chỗ vắng lặng tư duy, cân nhắc, quán sát,
được ái tận giải thoát vô thượng, không khởi các lậu,
ly dục, giải thoát. A-nan, đó gọi là được phước lợi
từ sự tư duy những gì đã được nghe từ giáo pháp[4].
“Duyên
gì các căn Tỳ-kheo Phả-cầu-na không được vui tươi, tướng
mạo thanh tịnh, da dẻ nhuận tươi, trước khi Tỳ-kheo Phả-cầu-na
chưa bị bệnh, chưa đoạn năm hạ phần kết? Tỳ-kheo này
tự mình được nghe từ sự chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết
pháp của Đại Sư, đoạn năm hạ phần kết.”
Rồi
Thế Tôn xác nhận Tôn giả Phả-cầu-na đã đắc quả A-na-hàm.
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những lời Phật dạy,
hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ rồi lui.
*
KINH
1024. A-THẤP-BA-THỆ[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-thấp-ba-thệ[6] ở
giảng đường Lộc tử mẫu, vườn phía Đông, thân bị bệnh
nặng, vô cùng đau khổ. Tôn giả Phú-lân-ni là vị chăm sóc,
cung cấp. Nói đầy đủ như kinh Bạt-ca-lê ở trước[7]. Đó
là, ba thọ... cho đến chuyển tăng không giảm.
Phật
bảo A-thấp-ba-thệ:
“Ông
chớ hối hận[8].”
A-thấp-ba-thệ
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, thật sự con có điều hối hận!”
Phật
bảo A-thấp-ba-thệ:
“Ông
có phá giới không?”
A-thấp-ba-thệ
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con không phá giới.”
Phật
bảo A-thấp-ba-thệ:
“Ông
không phá giới sao hối hận?”
A-thấp-ba-thệ
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, trước khi con chưa bệnh, con tu tập nhiều, chứng
nhập tịnh lạc của thân an chỉ[9]. Tu tập tam-muội nhiều.
Còn hôm nay, con lại không nhập tam-muội kia được[10]. Con
tự suy nghĩ không lẽ tam-muội này thoái thất chăng?”
Phật
bảo A-thấp-ba-thệ:
“Nay
Ta hỏi ông, tùy ý đáp cho Ta. Này A-thấp-ba-thệ, ông có thấy
sắc tức là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau chăng?”
A-thấp-ba-thệ
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Lại
hỏi:
“Ông
có thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã, khác ngã, hoặc
ở trong nhau chăng?”
A-thấp-ba-thệ
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Phật
bảo A-thấp-ba-thệ:
“Ông
đã không thấy sắc là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau; không
thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã, khác ngã, hoặc ở
trong nhau, vậy vì sao lại hối hận?”
A-thấp-ba-thệ
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, vì không chánh tư duy.”
Phật
bảo A-thấp-ba-thệ:
“Nếu
Sa-môn, Bà-la-môn nào tam-muội kiên cố, tam-muội bình đẳng,
mà không nhập được tam-muội kia, thì không nên khởi nghĩ
rằng mình thoái thất đối với tam-muội. Nếu Thánh đệ
tử lại không thấy sắc là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau;
không thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã, khác ngã, hoặc
ở trong nhau. Mà chỉ nên giác tri như vậy, thì tham dục hoàn
toàn sạch hết không còn; sân nhuế, ngu si hết hẳn không
còn. Khi tất cả lậu đã tận trừ, tâm vô lậu giải thoát,
hiện tại tự biết tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những việc cần làm đã xong, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.”
Khi
nghe Phật thuyết pháp này, Tôn giả A-thấp-ba-thệ không khởi
các lậu, tâm được giải thoát, vui mừng, phấn khởi; vì
tâm được vui mừng, phấn khởi nên thân bệnh liền dứt
trừ.
Phật
nói kinh này làm cho Tôn giả A-thấp-ba-thệ hoan hỷ, tùy hỷ,
rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, ra về.
Kinh
Sai-ma-ca[11]. Nh nói về ngũ thọ ấm.
*
KINH
1025. TẬT BỆNH (1)[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Tỳ-kheo tuổi trẻ mới học,
xuất gia trong Pháp luật này chưa được lâu, ít người thân
quen, một mình làm lữ khách, không có người cung cấp, đang
trú trong phòng khách Tăng ngoài rìa một tụ lạc, bệnh đau
nguy khốn. Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có một Tỳ-kheo tuổi trẻ, mới học... cho đến
bệnh đau nguy khốn đang ở trong phòng khách Tăng ngoài rìa
một tụ lạc. Có Tỳ-kheo bệnh sống ít chết nhiều như vậy.
Lành thay! Xin Thế Tôn vì thương xót mà đến trú xứ này!”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Buổi chiều, sau khi từ
thiền tịnh dậy, Thế Tôn đến trú xứ này. Tỳ-kheo bệnh
này từ xa trông thấy Thế Tôn, vịn giường muốn dậy, Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Hãy
nằm nghỉ, chớ dậy! Thế nào Tỳ-kheo, có thể chịu đựng
được khổ đau không?” … Chi tiết như kinh Sai-ma-ca trước
đã nói. “Ba thọ như vậy... cho đến bệnh khổ chỉ tăng
không giảm.”
Phật
nói Tỳ-kheo bệnh:
“Bây
giờ Ta hỏi ông, cứ đáp theo ý cho Ta.”
“Ông
không hối hận chăng[13]?”
Tỳ-kheo
bệnh bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, thật sự, có hối hận.”
Phật
bảo Tỳ-kheo bệnh:
“Ông
không phạm giới chăng?”
Tỳ-kheo
bệnh bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, thật sự, không phạm giới.”
Phật
bảo Tỳ-kheo bệnh:
“Nếu
ông không phạm giới, tại sao ông lại hối hận?”
Tỳ-kheo
bệnh bạch Phật:
“Con
tuổi trẻ xuất gia chưa bao lâu, đối với pháp Thượng nhân
và tri kiến thắng diệu chưa có sở đắc; con tự nghĩ, lúc
mạng chung biết sanh nơi đâu? Cho nên sanh ra hối hận.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Nay
Ta hỏi ông, cứ đáp theo ý cho Ta. Thế nào Tỳ-kheo, vì có
nhãn nên có nhãn thức phải không?”
Tỳ-kheo
bệnh bạch:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Lại
hỏi:
“Tỳ-kheo,
ý ngươi thế nào? Vì có nhãn thức nên có nhãn xúc và do
nhãn xúc làm nhân làm duyên nên sanh ra cảm thọ hoặc khổ,
hoặc vui, hoặc không khổ không vui bên trong phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đối
với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng nói như vậy.
“Thế
nào Tỳ-kheo? Nếu không có nhãn thì không có nhãn thức phải
không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Lại
hỏi:
“Tỳ-kheo,
nếu không có nhãn thức thì không có nhãn xúc phải không?
Nếu không có nhãn xúc thì không có nhãn xúc làm nhân làm
duyên sanh ra cảm thọ hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không khổ
không vui bên trong, phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Đối
với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng nói như vậy.
“Cho
nên, Tỳ-kheo, phải khéo tư duy pháp như vậy, thì lúc mạng
chung mới tốt đẹp được và đời sau cũng tốt đẹp.”
Bấy
giờ, Thế Tôn vì Tỳ-kheo bệnh nói pháp, chỉ dạy, soi sáng,
làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi. Sau khi
Thế Tôn đi rồi, không lâu Tỳ-kheo mạng chung. Khi sắp mạng
chung, các căn ông vui tươi, tướng mạo thanh tịnh, sắc da
tươi sáng. Lúc ấy, nhiều Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Tỳ-kheo
trẻ tuổi kia bị bệnh nguy khốn, nay Tôn giả đã mạng chung.
Khi vị này sắp qua đời, các căn vui tươi, tướng mạo thanh
tịnh, sắc da tươi sáng. Thế nào Thế Tôn, Tỳ-kheo này sẽ
sanh về nơi nào? Thọ sanh ra sao? Đời sau thế nào?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo
kia đã qua đời kia thật sự là bảo vật[14]. Nghe Ta nói pháp
hiểu biết rõ ràng, đối với pháp không sợ hãi, đắc Bát-niết-bàn.
Các ông nên cúng dường xá-lợi.”
Bấy
giờ, Thế Tôn thọ ký cho Tỳ-kheo này là bậc nhất[15].
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1026. TẬT BỆNH (2)[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Nói như trên chỉ có sự sai biệt là:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói. Nếu Tỳ-kheo
nào nghĩ như vầy: Ta đối với thức thân này và tất cả
tướng cảnh giới bên ngoài không thấy có ngã, ngã sở, ngã
mạn trói buộc sai sử, cùng tâm giải thoát, tuệ giải thoát,
thì hiện tại tự biết tác chứng, an trụ đầy đủ. Đối
với thức thân này và tất cả tướng cảnh giới bên ngoài
không thấy có ngã, ngã sở, ngã mạn trói buộc sai sử, cùng
với tâm giải thoát, tuệ giải thoát kia, thì hiện tại tự
biết tác chứng, an trụ đầy đủ. Tỳ-kheo kia đối với
thức thân của mình và tất cả tướng cảnh giới bên ngoài,
không thấy có ngã, ngã sở, ngã mạn trói buộc sai sử, tâm
giải thoát, tuệ giải thoát, thì hiện tại tự biết tác
chứng, an trụ đầy đủ. Đối với thức thân của mình và
tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài, không thấy có
ngã, ngã sở, ngã mạn trói buộc, sai sử, cùng tâm giải thoát,
tuệ giải thoát, thì hiện tại tự biết tác chứng, an trụ
đầy đủ. Nếu Tỳ-kheo kia đối với thức thân này và tất
cả tướng của cảnh giới bên ngoài không thấy có ngã, ngã
sở, ngã mạn trói buộc, sai sử, cùng tâm giải thoát, tuệ
giải thoát thì trong hiện tại tự biết tác chứng, an trụ
đầy đủ. Đối với thức thân của mình và tất cả tướng
của cảnh giới bên ngoài, không thấy có ngã, ngã sở, ngã
mạn trói buộc sai sử, cùng tâm giải thoát, tuệ giải thoát
thì hiện tại tự biết tác chứng, an trụ đầy đủ. Đó
gọi là Tỳ-kheo đoạn ái dục, chuyển các kết, dừng ngã
mạn, hiện quán cứu cánh thoát khổ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1027. TỲ-KHEO BỆNH[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Nói như trên, chỉ có một vài sai biệt
là:... cho đến Phật nói với Tỳ-kheo bệnh:
“Ông
không tự phạm giới phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con không phải vì để thọ trì tịnh giới mà ở
chỗ Thế Tôn tu phạm hạnh.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ông
vì những pháp gì mà ở chỗ Ta tu phạm hạnh?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Vì
ly tham dục nên ở chỗ Thế Tôn tu phạm hạnh. Vì ly sân nhuế,
ngu si nên ở chỗ Thế Tôn tu phạm hạnh.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! Ông nên thật sự vì để ly tham dục nên
ở chỗ Ta tu phạm hạnh. Vì ly sân nhuế, ngu si nên ở chỗ
Ta tu phạm hạnh. Này Tỳ-kheo, vì tham dục trói buộc nên không
ly được dục. Vì vô minh trói buộc nên tuệ không thanh tịnh.
Cho nên Tỳ-kheo, ở nơi dục mà ly dục, tâm giải thoát. Do
ly vô minh nên tuệ giải thoát. Nếu Tỳ-kheo nào, ở nơi mà
dục ly dục, tự thân tác chứng tâm giải thoát. Do ly vô minh
nên tuệ giải thoát. Đó gọi là Tỳ-kheo đoạn các ái dục,
chuyển kết phược, dừng ngã mạn, hiện quán, cứu cánh biên
tế khổ. Cho nên Tỳ-kheo đối với pháp này phải khéo tư
duy.”
Nói
đầy đủ như trên... cho đến thọ ký bậc nhất.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1028. TẬT BỆNH (3)[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo cùng tụ tập
ở giảng đường Già-lê-lệ[19]. Lúc đó có nhiều Tỳ-kheo
bệnh.
Buổi
chiều sau khi Thế Tôn từ thiền tịnh tỉnh giấc, đến giảng
đường Già-lê-lệ, trải tòa ngồi trước đại chúng, rồi
bảo các Tỳ-kheo:
“Nên
chánh niệm, chánh trí để đợi thời. Đó là giáo huấn của
Ta[20]. Này các Tỳ-kheo, thế nào là chánh niệm? Là Tỳ-kheo
sống quán niệm thân trên thân, tinh cần, chánh niệm, chánh
trí, điều phục tham ưu thế gian, sống quán niệm ngoại thân
trên thân, sống quán niệm nội ngoại thân trên thân; nội
thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ; nội tâm, ngoại tâm, nội
ngoại tâm; sống quán niệm nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại
pháp, phương tiện tinh cần, chánh niệm, chánh trí, điều
phục tham ưu thế gian. Đó gọi là Tỳ-kheo ức niệm chánh.
“Thế
nào là chánh trí? Tỳ-kheo hoặc tới hoặc lui, an trụ chánh
trí; nhìn trông, quán sát, co, duỗi, cúi, ngước, nắm cầm
y bát, đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức... cho đến năm mươi,
sáu mươi người nói năng hay im lặng đều hành với chánh
trí. Tỳ-kheo, đó gọi là chánh trí. Cũng thế, Tỳ-kheo nào
an trụ vào chánh niệm, chánh trí, có thể khởi cảm thọ
lạc, có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.
“Thế
nào là nhân duyên? Duyên vào thân khởi suy nghĩ: ‘Thân này
của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm thọ
lạc cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán sát
thân và cảm thọ lạc, quán sát vô thường, quán sát sanh
diệt, quán sát ly dục, quán sát diệt tận, quán sát xả.
Vị ấy quán sát thân cùng với cảm thọ lạc là vô thường...
cho đến xả. Nếu ở nơi thân và cảm thọ lạc mà kết sử
tham dục[21] vĩnh viễn không còn sai sử nữa[22]. Cũng vậy,
với chánh niệm, chánh trí, biết cảm thọ khổ phát sanh,
có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.
“Thế
nào là nhân duyên? Cũng vậy, duyên vào thân khởi tư duy: ‘Thân
này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm
thọ khổ cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán
sát thân và cảm thọ khổ, là vô thường cho đến xả. Ở
nơi thân này và cảm thọ khổ mà kết sử sân nhuế vĩnh
viễn không còn sai sử nữa. Cũng vậy, với chánh niệm, chánh
trí, biết cảm thọ không khổ, không vui phát sanh, có nhân
duyên chứ không phải không nhân duyên.
“Thế
nào là nhân duyên? Là duyên vào thân khởi suy nghĩ: ‘Thân
này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm
thọ chẳng khổ chẳng lạc, cũng vô thường, hữu vi, tâm
nhân duyên sanh’. Quán sát thân và cảm thọ không khổ, không
lạc kia, là vô thường cho đến xả. Nếu những gì ở nơi
thân và cảm thọ không khổ không lạc mà kết sử vô minh
sử vĩnh viễn không còn sai sử nữa. Đa văn Thánh đệ tử
quán sát như vậy, đối với sắc yểm ly, đối với thọ,
tưởng, hành, thức yểm ly. Đã yểm ly rồi, ly dục. Ly dục
rồi, được giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm
xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ:
Khi
đang cảm giác lạc;
Không
biết cảm giác lạc.
Vì
kết sử tham dục,
Nên
không thấy xuất ly.
Khi
đang cảm giác khổ,
Không
biết cảm giác khổ.
Vì
kết sử sân nhuế,
Nên
không thấy xuất ly.
Cảm
thọ không lạc, khổ,
Đẳng
Chánh Giác đã nói,
Người
kia không thể biết,
Nên
không qua bờ kia.
Nếu
Tỳ-kheo tinh tấn,
Chánh
trí không xiêu động;
Nơi
tất cả thọ kia,
Trí
tuệ đều biết hết.
Thường
biết các thọ rồi,
Hiện
tại hết các lậu;
Mạng
chung nương trí tuệ,
Niết-bàn,
không đọa lạc.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1029. TẬT BỆNH (4)[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Nói như trên.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo tụ tập nơi giảng đường Già-lê-lệ[24],
đa số đều bị bệnh. Nói như trên, chỉ có một vài sai
biệt là: cho đến “… Thánh đệ tử nên quán sát như vầy,
ở nơi sắc mà giải thoát, ở nơi thọ, tưởng, hành, thức
giải thoát. Ta nói những người này giải thoát sanh, lão,
bệnh, tử.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Bậc
trí tuệ đa văn,
Đều
tỏ rõ các thọ.
Đối
cảm thọ khổ, lạc,
Phân
biệt thật rõ ràng.
Nên
biết sự chắc thật,
Phàm
phu có lên xuống;
Nơi
lạc không nhiễm trước,
Nơi
khổ không xiêu động.
Biết
thọ không thọ sanh.
Y cảm
thọ tham, nhuế.
Đoạn
trừ những pháp này,
Tâm
kia khéo giải thoát.
Buộc
niệm vào diệu cảnh,
Chánh
hướng đợi hết đời.
Nếu
Tỳ-kheo tinh cần,
Chánh
trí chẳng xiêu động;
Đối
với mọi thọ này,
Kẻ
trí thường giác tri.
Thấu
rõ các thọ rồi,
Hiện
tại hết các lậu,
Mạng
chung nương trí tuệ,
Niết-bàn
không đọa lạc.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ làm lễ rồi lui.
*
KINH
1030. CẤP CÔ ĐỘC (1)[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ gia chủ Cấp Cô Độc bị bệnh,
thân thể khổ đau vô cùng.
Thế
Tôn nghe tin này, sáng sớm Ngài đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ
khất thực, theo thứ tự khất thực đến nhà gia chủ Cấp
Cô Độc. Gia chủ từ xa trông thấy Thế Tôn, vịn giường
muốn dậy, Thế Tôn thấy thế liền bảo:
“Gia
chủ, chớ dậy mà tăng bệnh khổ.”
Thế
Tôn ngồi xuống rồi bảo gia chủ:
“Thế
nào gia chủ? Bệnh có thể chịu được không? Thân bệnh,
đau đớn tăng hay giảm?”
Gia
chủ bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, rất đau đớn, khó chịu nổi!... cho đến nói ba
thọ, chi tiết như kinh Sai-ma... cho đến “… cảm thọ khổ
chỉ tăng chứ không giảm.”
Phật
bảo gia chủ:
“Nên
học như vầy: Đối với Phật có tín thanh tịnh bất hoại,
đối với Pháp, Tăng, có tín thanh tịnh bất hoại và thành
tựu Thánh giới.”
Gia
chủ bạch Phật:
“Như
Thế Tôn đã dạy về bốn bất hoại tịnh. Con có pháp này,
trong pháp này có con. Bạch Thế Tôn, nay đối với Phật con
có lòng tin thanh tịnh bất hoại, đối với Pháp, Tăng có
lòng tin thanh tịnh bất hoại và thành tựu Thánh giới.”
Phật
bảo gia chủ:
“Lành
thay! Lành thay!” Rồi liền thọ ký cho gia chủ đắc quả
A-na-hàm.
Gia
chủ bạch Phật:
“Hôm
nay, con xin cung thỉnh Thế Tôn thọ thực ở đây.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Gia chủ liền dạy tôi tớ
sửa soạn các thứ đồ ăn thức uống tinh khiết, ngon lành
cúng dường Thế Tôn. Thế Tôn thọ thực xong, vì gia chủ
nói đủ các pháp, chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ
khỏi chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1031. CẤP CÔ ĐỘC (2)[26]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-nan nghe gia chủ Cấp
Cô Độc thân bị bệnh khổ, đến nhà ông thăm.
Từ
xa gia chủ trông thấy A-nan, vịn giường muốn dậy... cho đến
nói về ba thọ, đầy đủ như kinh Sai-ma ở trước dạy...
cho đến “…bệnh khổ chỉ tăng chứ không giảm.”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan bảo gia chủ:
“Đừng
sợ hãi! Chỉ có phàm phu ngu si vô học vì không tin Phật,
không tin Pháp, Tăng, không đầy đủ Thánh giới, nên có sự
sợ hãi và sợ sau khi mạng chung cùng cái khổ đời sau. Còn
ông đối với sự bất tín ấy ngày nay đã đoạn, đã biến
tri. Đối với Phật đầy đủ lòng tin thanh tịnh. Đối với
Pháp, Tăng đầy đủ lòng tin thanh tịnh. Đã thành tựu Thánh
giới.”
Gia
chủ thưa Tôn giả A-nan:
“Ngày
nay con còn sợ hãi cái gì? Lần đầu tiên con mới gặp Thế
Tôn giữa bãi tha ma trong rừng Lạnh, thành Vương xá, liền
được lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Phật, được
lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Pháp, Tăng và thành
tựu Thánh giới. Từ đó đến nay, nhà có tiền của đều
đem cúng dường cho đệ tử Phật là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.”
Tôn
giả A-nan nói:
“Lành
thay, gia chủ! Ông tự ký thuyết quả Tu-đà-hoàn.”
Gia
chủ bạch Tôn giả A-nan:
“Xin
mời Tôn giả thọ thực tại đây.”
Tôn
giả A-nan im lặng nhận lời.
Gia
chủ liền cho sửa soạn các thứ đồ ăn thức uống tinh khiết,
ngon lành, cúng dường Tôn giả A-nan. Sau khi thọ thực xong,
lại vì gia chủ thuyết pháp, chỉ dạy, soi sáng, làm an vui,
rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1032. CẤP CÔ ĐỘC (3)[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất nghe tin
gia chủ Cấp Cô Độc thân bị bệnh khổ. Nghe vạây, hỏi
Tôn giả A-nan:
“Thầy
có biết chăng? Gia chủ Cấp Cô Độc thân đang bị bệnh khổ.
Chúng ta hãy cùng đến thăm.”
Tôn
giả A-nan im lặng nhận lời. Khi ấy Tôn giả Xá-lợi-phất
cùng Tôn giả A-nan đến nhà gia chủ Cấp Cô Độc. Gia chủ
từ xa trông thấy Tôn giả Xá-lợi-phất, vịn giường muốn
dậy... cho đến nói về ba thọ, đầy đủ như kinh Sai-ma,
“... bệnh khổ của thân càng tăng chứ không giảm.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bảo gia chủ:
“Nên
học như vầy: Không chấp trước mắt, không có thức tham
dục y trên nhãn giới mà sanh. Không chấp trước tai, mũi,
lưỡi, thân, ý, không có thức tham dục y trên ý giới mà
sanh. Không chấp trước sắc, không có thức tham dục y trên
sắc giới sanh. Không chấp trước thanh, hương, vị, xúc, pháp,
không có thức tham dục y trên pháp giới sanh. Không chấp trước
địa giới, không có thức tham dục y trên địa giới sanh.
Không chấp trước thủy, hỏa, phong, không, thức giới, không
có thức tham dục y trên thức giới sanh. Không chấp trước
sắc uẩn, không có thức tham dục y trên sắc uẩn sanh. Không
chấp trước thọ, tưởng, hành, thức uẩn,... không có thức
tham dục y trên thức ấm sanh.”
Lúc
ấy gia chủ Cấp Cô Độc cảm động rơi nước mắt. Tôn
giả A-nan nói với gia chủ:
“Gia
chủ khiếp sợ hạ liệt chăng[28]?”
Gia
chủ thưa với Tôn giả A-nan:
“Con
không khiếp sợ hạ liệt. Con tự xét lại từ khi phụng sự
Phật cho đến nay, đã hơn hai mươi năm, mà con chưa lần nào
nghe Tôn giả Xá-lợi-phất nói pháp sâu xa, vi diệu như những
gì vừa được nghe hôm nay.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bảo gia chủ:
“Từ
lâu tôi cũng chưa từng vì các gia chủ nói pháp như vậy.”
Gia
chủ thưa Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Có
bạch y tại gia nào có tín thù thắng, niệm thù thắng, lạc
thù thắng, nhưng vì không nghe pháp sâu xa nên sanh ra thoái
thất. Lành thay, Tôn giả Xá-lợi-phất! Xin Tôn giả thương
xót vì hàng bạch y tại gia mà nói pháp thâm diệu. Tôn giả
Xá-lợi-phất, hôm nay xin Tôn giả thọ thực tại đây.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất im lặng nhận lời. Gia chủ liền cho sửa
soạn đồ ăn thức uống tinh khiết ngon lành cung kính cúng
dường. Thọ thực xong, ngài lại vì gia chủ thuyết pháp,
chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng
dậy ra về.
*
KINH
1033. ĐẠT-MA-ĐỀ-LY[29]
Đạt-ma-đề-ly,
kinh thứ nhất cũng nói đầy đủ như kinh đầu Đức Thế
Tôn nói pháp cho gia chủ Cấp Cô Độc. Kinh thứ hai cũng nói
như vậy, chỉ có một vài sai khác là:
“Nếu
lại có gia chủ nào y vào bốn bất hoại tịnh, rồi còn hướng
lên tu tập sáu niệm, từ niệm Như Lai sự... cho đến niệm
Thiên.”
Gia
chủ bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, y vào bốn bất hoại tịnh, rồi còn hướng lên
tu tập sáu tùy niệm, ngày nay con đều thành tựu. Con thường
tu tập niệm Như Lai sự... cho đến niệm Thiên.”
Phật
bảo gia chủ:
“Lành
thay! Lành thay! Hôm nay ông tự ký thuyết quả A-na-hàm.”
Gia
chủ bạch Phật:
“Xin
Thế Tôn nhận lời thỉnh thọ thực của con.”
Bấy
giờ Thế Tôn im lặng nhận lời. Gia chủ biết Phật đã nhận
lời, liền cho sửa soạn đồ ăn thức uống tinh khiết ngon
lành, cung kính cúng dường. Thế Tôn thọ thực xong lại vì
gia chủ nói pháp, chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi Ngài
từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1034. TRƯỜNG THỌ[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ có đồng tử Trường Thọ[31] là cháu
gia chủ Thọ Đề thân mắc bệnh nặng.
Bấy
giờ Thế Tôn nghe đồng tử Trường Thọ thân mắc bệnh nặng,
sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Vương xá khất thực, theo
thứ tự đi đến nhà đồng tử Trường Thọ. Đồng tử Trường
Thọ từ xa thấy Thế Tôn, vịn giường muốn dậy... cho đến
nói về ba thọ như kinh Sai-ma đã nói đầy đủ;... cho đến
“… bệnh khổ chỉ tăng không giảm.”
“Cho
nên, đồng tử, nên học như vầy: Hãy có tín thanh tịnh bất
hoại đối với Phật. Hãy có tín thanh tịnh bất hoại đối
với Pháp, Tăng và thành tựu Thánh giới. Nên học như vậy.”
Đồng
tử bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, như Thế Tôn đã nói về bốn bất hoại tịnh. Hiện
tại con đều có. Con lúc nào cũng có tín thanh tịnh bất hoại
đối với Phật; có tín thanh tịnh bất hoại đối với Pháp,
Tăng và thành tựu Thánh giới.”
Phật
bảo đồng tử:
“Ông
nên y vào bốn bất hoại tịnh, để hướng lên tu tập sáu
minh phần tưởng[32]. Những gì là sáu? Quán tưởng tất cả
hành là vô thường, quán tưởng vô thường là khổ, quán
tưởng khổ là vô ngã, quán tưởng về thực, quán tưởng
tất cả thế gian không gì đáng vui, quán tưởng về sự chết.”
Đồng
tử bạch Phật:
“Như
Thế Tôn nói y vào bốn bất hoại tịnh để tu tập sáu minh
phần tưởng. Hiện tại con đều có. Nhưng con tự nghĩ, sau
khi chết, con không biết ông nội của con là gia chủ Thọ
Đề[33] sẽ thế nào?”
Bấy
giờ gia chủ Thọ Đề nói với đồng tử Trường Thọ:
“Đối
với ông, cháu đừng nghĩ đến. Hiện giờ cháu nên nghe Thế
Tôn nói pháp, suy nghĩ và nhớ lấy, mới có thể được phước
lợi, an vui, nhiêu ích lâu dài.”
Đồng
tử Trường Thọ nói:
“Đối
với tất cả hành con sẽ quán tưởng chúng là vô thường,
quán tưởng vô thường là khổ, quán tưởng khổ là vô ngã,
quán tưởng về thực, quán tưởng thế gian không gì đáng
vui, quán tưởng về tử, lúc nào chúng cũng hiện hữu trước
mặt.”
Phật
bảo đồng tử:
“Hôm
nay con đã tự ký thuyết quả Tư-đà-hàm.”
Đồng
tử Trường Thọ bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, xin thỉnh Ngài thọ thực tại nhà con.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Trường Thọ đồng tử
liền cho sửa soạn đồ ăn thức uống tinh khiết, ngon lành,
cung kính cúng dường. Thế Tôn thọ thực xong, vì đồng tử
thuyết pháp, chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ
ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1035. BÀ-TẨU[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Lộc dã, tại trú xứ Tiên
nhân, nước Ba-la-nại. Bấy giờ gia chủ Bà-tẩu[35] thân bị
bệnh khổ. Nói đầy đủ như kinh Gia chủ Đạt-ma-đề-na[36]
ở trước... được thọ ký đắc quả A-na-hàm... cho đến
từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1036. SA-LA[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Câu-ni-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ có Sa-la họ Thích[38] bị bệnh liệt nặng.
Thế
Tôn hay tin Sa-la họ Thích bệnh liệt nặng, sáng sớm đắp
y, mang bát vào thành Ca-tỳ-la-vệ khất thực, theo thứ tự
đến nhà Sa-la họ Thích. Từ xa Sa-la họ Thích trông thấy
Thế Tôn, vịn giường muốn dậy... cho đến nói về ba thọ
như đã nói đầy đủ trong kinh Sai-ma-ca... cho đến “…bệnh
khổ chỉ tăng chứ không giảm.”
“Cho
nên, Sa-la họ Thích, nên học như vầy: Hãy có tín thanh tịnh
bất hoại đối với Phật. Hãy có tín thanh tịnh bất hoại
đối với Pháp, Tăng và thành tựu Thánh giới.”
Sa-la
họ Thích bạch Phật:
“Như
Thế Tôn nói: Hãy có tín thanh tịnh bất hoại đối với Phật.
Hãy có tín thanh tịnh bất hoại đối với Pháp, Tăng và thành
tựu Thánh giới. Con đều có đủ. Con lúc nào cũng có tín
thanh tịnh bất hoại đối với Phật; tín thanh tịnh bất
hoại đối với Pháp, Tăng và thành tựu Thánh giới.”
Phật
bảo Sa-la họ Thích:
“Cho
nên ông phải y vào tín thanh tịnh bất hoại đối với Phật,
tín thanh tịnh bất hoại đối với Pháp, Tăng và thành tựu
Thánh giới, để hướng lên tu tập năm hỷ xứ[39]. Những
gì là năm? Đó là niệm Như Lai sự... cho đến tự những
pháp bố thí.”
Sa-la
họ Thích bạch Phật:
“Như
Thế Tôn đã nói y vào bốn bất hoại tịnh, để tu năm hỷ
xứ, con cũng đã có. Con lúc nào cũng niệm Như Lai sự... cho
đến tự những pháp bố thí.”
Phật
dạy:
“Lành
thay! Lành thay! Nay tự ông ký thuyết quả Tư-đà-hàm.”
Sa-la
bạch Phật:
“Xin
Thế Tôn hôm nay, thọ thực tại nhà con.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Gia chủ Sa-la liền cho sửa
soạn đồ ăn thức uống tinh khiết, ngon lành, cung kính cúng
dường. Thế Tôn thọ thực xong, lại vì gia chủ thuyết pháp,
chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng
dậy ra về.
*
KINH
1037. DA-THÂU[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật trú trong một tinh xá Khúc cốc, thôn Na-lê[41].
Bấy giờ, gia chủ Da-thâu[42] bị bệnh trầm trọng, như vậy...
cho đến ký thuyết đắc quả A-na-hàm. Như đã nói đầy đủ
trong kinh Đạt-ma-đề-na[43].
*
KINH
1038. MA-NA-ĐỀ-NA[44]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật trú bên ao Kiệt-già, tại nước Chiêm-bà.
Bấy giờ có gia chủ Ma-na-đề-na[45] bị bệnh mới bớt[46].
Bấy
giờ gia chủ nói với một người nam:
“Này
thiện nam tử, ông hãy đến chỗ Tôn giả A-na-luật, thay tôi
đảnh lễ dưới chân, hỏi thăm cuộc sống có thoải mái,
an lạc không? Ngày mai, xin cùng bốn vị nhận lời thỉnh của
tôi. Nếu nhận lời, ông nên vì tôi bạch rằng tôi là người
thế tục, bận nhiều công việc vương gia, không thể đích
thân đến rước được; xin Tôn giả thương xót, đến giờ
cùng bốn vị đến phó hội theo lời mời của tôi.”
Lúc
ấy người nam kia vâng lời gia chủ, đi đến chỗ Tôn giả
A-na-luật, đảnh lễ dưới chân, thưa Tôn giả rằng:
“Gia
chủ Ma-na-đề-na xin kính lễ và hỏi thăm cuộc sống của
Tôn giả ít bệnh, ít não, thoải mái, an lạc không? Và trưa
ngày mai, xin mời Tôn giả cùng bốn vị, thương xót mà nhận
lời thỉnh cầu của gia chủ.”
Lúc
ấy, Tôn giả A-na-luật im lặng nhận lời mời. Bấy giờ
người kia lại vì gia chủ Ma-na-đề-na thưa Tôn giả A-na-luật:
“Gia
chủ là người thế tục bận nhiều công việc vương gia không
thể đích thân đến rước được, xin Tôn giả thương xót,
cùng bốn vị nhận lời mời trưa ngày mai của gia chủ.”
Tôn
giả A-na-luật nói:
“Ông
cứ an tâm, tôi tự biết thời. Ngày mai sẽ cùng bốn vị
đến nhà gia chủ.”
Khi
ấy, người này theo lời dạy của Tôn giả A-na-luật về
thưa lại gia chủ:
“Thưa
A-lê[47], nên biết, tôi đã đến Tôn giả A-na-luật, trình
đầy đủ theo tôn ý và Tôn giả A-na-luật nói rằng gia chủ
cứ an tâm, ngài tự biết thời.”
Tối
hôm đó, gia chủ Ma-na-đề-na sửa soạn đồ ăn thức uống
tinh khiết, ngon lành. Sáng sớm, lại sai người kia đến chỗ
Tôn giả A-na-luật thưa đã đến giờ. Người kia liền vâng
lời đi đến chỗ Tôn giả A-na-luật, cúi đầu đảnh lễ
dưới chân, bạch rằng: “Đồ cúng dường đã sửa soạn
xong, xin ngài biết thời.”
Bấy
giờ, Tôn giả A-na-luật đắp y ôm bát cùng với bốn vị
đi đến nhà gia chủ. Trong lúc ấy, các thể nữ đang đứng
vây quanh gia chủ Ma-na-đề-na, đứng trong cửa bên trái, trông
thấy Tôn giả A-na-luật cúi người ôm chân kính lễ, đưa
tới chỗ ngồi; mỗi người tự cúi đầu hỏi thăm, rồi
ngồi lui qua một bên.
Tô
giả A-na-luật hỏi thăm gia chủ:
“Cuộc
sống có kham nhẫn, an vui không?”
Gia
chủ đáp:
“Vâng,
thưa Tôn giả, sống kham nhẫn an vui. Trước đây, con bị bệnh
nặng nhưng hôm nay đã bớt rồi.”
Tôn
giả A-na-luật hỏi gia chủ:
“Gia
chủ sống, trụ tâm thế nào để có thể khiến cho bệnh
tật khổ não bớt dần?”
Gia
chủ bạch:
“Thưa
Tôn giả A-na-luật, con trụ vào bốn Niệm xứ, chuyên tu buộc
niệm, nên các thứ bệnh tật khổ đau nơi thân đều được
đình chỉ. Những gì là bốn? Sống quán niệm nội thân trên
thân, nỗ lực tinh cần, chánh niệm, chánh trí, điều phục
tham ưu thế gian; ngoại thân, nội ngoại thân; nội thọ, ngoại
thọ, nội ngoại thọ; nọâi tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm,
sống quán niệm nội pháp; ngoại pháp, nội ngoại pháp trên
pháp, nỗ lực tinh cần, chánh niệm, chánh trí, điều phục
tham ưu thế gian. Như vậy, Tôn giả A-na-luật, con nhờ buộc
tâm trụ vào bốn Niệm xứ nên mọi thứ bệnh tật khổ đau
nơi thân đều được đình chỉ. Thưa Tôn giả A-na-luật,
nhờ trụ tâm được nên mọi thứ tất bệnh khổ đau đều
được đình chỉ.”
Tôn
giả A-na-luật bảo gia chủ:
“Hôm
nay, gia chủ tự ký thuyết quả A-na-hàm.”
Lúc
này, gia chủ Ma-na-đề-na mang các thứ đồ ăn thức uống
thanh khiết, ngon lành, tự tay cúng dường đầy đủ. Sau khi
thọ thực và súc rửa miệng xong, gia chủ Ma-na-đề-na lại
ngồi nơi ghế thấp nghe pháp. Tôn giả A-na-luật nói pháp,
chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng
dậy ra về.
*
KINH
1039. THUẦN-ĐÀ[48]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong tinh xá Kim sư, tại thành Vương xá[49].
Bấy giờ, có gia chủ Thuần-đà[50] đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên.
Lúc
này, Thế Tôn hỏi gia chủ Thuần-đà:
“Hiện
tại, ông ưa thích tịnh hạnh[51] của những Sa-môn, Bà-la-môn
nào?”
Thuần-đà
bạch Phật:
“Có
Sa-môn, Bà-la-môn thờ phụng nước, thờ Tỳ-thấp-ba Thiên[52],
cầm trượng, bình nước, thường rửa sạch tay mình[53]. Vị
Chánh sĩ như vậy thường khéo nói pháp rằng: ‘Này thiện
nam, vào ngày mười lăm mỗi tháng dùng mạt vụn hồ-ma và
am-ma-la để gội tóc, tu hành trai pháp, mặc đồ mới sạch,
đeo tràng hoa[54] dài, lụa trắng, nằm lên trên đất trét
phân bò. Này thiện nam, sáng mai dậy sớm lấy tay sờ đất
và nói như vầy: ‘Đất này trong sạch. Ta cũng sạch như
vậy’. Tay cầm cục phân trâu cùng nắm một nắm cỏ tươi,
miệng nói: ‘Cái này trong sạch. Ta cũng trong sạch như vậy.’
Nếu ai như vậy thì được thấy là trong sạch. Nếu ai không
như vậy, hoàn toàn không trong sạch’. Bạch Thế Tôn, Sa-môn,
Bà-la-môn nào, nếu trong sạch như vậy thì đáng cho con kính
ngưỡng.”
Phật
bảo Thuần-đà:
“Có
pháp đen và báo ứng đen, bất tịnh, quả bất tịnh, gánh
nặng chúc xuống. Nếu ai đã thành tựu những pháp ác này,
dù cho sáng mai dậy sớm lấy tay sờ đất và nói rằng ‘thanh
tịnh’ thì vẫn bất tịnh, cho dù không chạm cũng không thanh
tịnh. Người này cầm cục phân bò và nắm cỏ tươi nói
rằng ‘thanh tịnh’ thì vẫn bất tịnh, cho dù không chạm
cũng không thanh tịnh.
“Này
Thuần-đà, thế nào là pháp đen, báo ứng đen, bất tịnh,
quả bất tịnh, gánh nặng chúc xuống... cho đến chạm hay
không chạm, tất cả đều bất tịnh?
“Này
Thuần-đà, đối với tất cả chúng sanh cho đến côn trùng
cũng không tránh xa sự sát hại, tay thường tanh máu, tâm thường
suy nghĩ đến đánh đập, sát hại, không hổ, không thẹn,
tham lam, keo kiệt. Đó là nghiệp ác sát sanh.
“Đối
với tài vật, làng xóm, đất trống của người, cũng không
xa lìa trộm cắp.
“Đối
với những người được bảo hộ của cha mẹ, anh em, chị
em, phu chủ, thân tộc cho đến người trao vòng hoa, mà dùng
sức cưỡng bức, làm mọi việc tà dâm, không lìa bỏ tà
dâm.
“Nói
dối không chân thật: Hoặc ở chốn vua quan, các nhà nói chân
thật, nơi có nhiều người tụ tập cần lời nói thích đáng,
nhưng lại nói lời không thật; không thấy nói thấy, thấy
nói không thấy, không nghe nói nghe, nghe nói không nghe; biết
nói không biết, không biết nói biết. Vì chính mình, vì người
khác, hoặc vì tài lợi, biết mà nói dối không chịu lìa
bỏ.
“Hoặc
nói hai lưỡi chia lìa, đem chuyện chỗ này đến nói chỗ
kia, đem chuyện chỗ kia đến nói chỗ này, phá hoại lẫn
nhau, làm cho tan rã sự hòa hợp, khiến kẻ ly gián vui mừng.
“Hoặc
không lìa bỏ lời nói thô ác, mắng nhiếc. Có những lời
nói dịu dàng, êm tai, làm vui lòng, rõ ràng dễ hiểu, lời
nói được ưa nghe, được nhiều người yêu mến, hợp ý,
tùy thuận tam-muội. Xả bỏ những lời như vậy mà nói lời
gắt gao, cộc cằn, bị nhiều người ghét, không ưa, không
hợp ý, không tùy thuận tam-muội[55]. Nói những lời như vậy,
không lìa bỏ lời nói thô. Đó gọi là ác khẩu.
“Hoặc
lời nói bại hoại thêu dệt[56], nói không đúng lúc, nói
không thực tế, lời nói vô nghĩa, lời nói phi pháp, lời
nói thiếu suy nghĩ. Nói những lời bại hoại như vậy.
“Không
lìa bỏ tham lam; đối với tài vật người khác khởi tham
dục, nói rằng ‘Nếu ta có vật này thì rất tốt’.
“Không
xả bỏ sân nhuế tệ ác; trong tâm suy nghĩ, chúng sanh kia đáng
bị trói, đáng bị roi vọt, gậy gộc, đáng giết, muốn cho
nó khó sống.
“Không
bỏ tà kiến; điên đảo thấy như vầy: ‘Không có bố thí,
không có quả báo, không có phước, không có điều thiện
điều ác, không có nghiệp thiện ác và quả báo, không có
đời này, đời khác, không có cha mẹ, không có chúng sanh
hóa sanh; thế gian không có A-la-hán, không có các vị chánh
hành, chánh hướng[57] mà trong đời này hay đời khác tự
biết tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập,
những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa.’ Này Thuần-đà, đó gọi là pháp đen,
báo ứng đen, bất tịnh, quả bất tịnh, gánh nặng chúc xuống...
cho đến cầm lấy hay không cầm lấy tất cả đều bất tịnh.
“Này
Thuần-đà, có pháp trắng, báo ứng trắng, tịnh và quả tịnh,
nhẹ nhàng đi lên. Nếu ai đã tạo thành những thứ này, mà
sáng sớm sờ đất, nói cái này tịnh ta tịnh, thì cũng được
thanh tịnh, hay không sờ, thì cũng được thanh tịnh; và cầm
cục phân bò cùng nắm cỏ tươi, nếu nhân tịnh quả tịnh
thì dù có cầm nắm hay không cầm nắm cũng được thanh tịnh.
“Thuần-đà,
thế nào là pháp trắng, báo ứng trắng, đến, sờ hay không
sờ, thì cũng được thanh tịnh?
“Đó
là, có nghĩa là người không sát sanh, lìa bỏ sát sanh, bỏ
đao trượng, biết hổ thẹn, thương xót nghĩ đến tất cả
chúng sanh. Không trộm cướp, lìa bỏ trộm cướp, vật cho
thì lấy, không cho không lấy, tâm sạch không tham. Lìa tà
dâm hoặc đối người được cha mẹ bảo hộ,... cho đến
người trao vòng hoa đều không cưỡng bức, làm chuyện tà
dâm. Lìa nói dối, căn cứ vào sự thật mà nói. Xa lìa nói
hai lưỡi, không đi đến chỗ này nói chuyện chỗ kia, đến
chỗ kia nói chuyện chỗ này, phá hoại lẫn nhau; đã bị ly
gián nên làm hòa hợp, đã hòa hợp nên tùy hỷ. Xa lìa ác
khẩu, không thô rắn, những lời nói ra khiến nhiều người
ưa thích. Tránh lời nói hư hoại, nói lời chân thật, nói
đúng lúc, nói đúng sự thật, nói có ý nghĩa, nói như pháp,
nói chánh kiến. Lìa tham dục, đối với của cải, đồ vật
người khác không tưởng là của mình mà sanh tham đắm. Lìa
sân nhuế, không nghĩ đến việc đánh đập, bắt trói, giết
hại, gây các tai nạn. Thành tựu chánh kiến, không thấy điên
đảo, nói có bố thí, có quả báo, có phước, có quả báo
thiện hạnh, ác hạnh, có đời này, có cha mẹ, có chúng sanh
hóa sanh, trong đời có A-la-hán, ngay trong đời này hay đời
khác mà hiện tại tự biết tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Này Thuần-đà,
đó gọi là pháp trắng, báo ứng trắng, đến, sờ hay không
sờ, thì cũng được thanh tịnh.”
Sau
khi gia chủ Thuần-đà nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy
hỷ đảnh lễ ra về.
*
KINH
1040. XẢ HÀNH[58]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong tinh xá Kim sư[59], tại thành Vương
xá. Bấy giờ, có Ba-la-môn vào ngày mười lăm, gội đầu,
rồi thọ trai pháp, đeo tràng hoa dài, khoác áo lụa trắng[60],
tay cầm nắm cỏ tươi đi đến chỗ Phật, cùng Thế Tôn thăm
hỏi an úy nhau xong, ngồi lui qua một bên.
Khi
đó Phật bảo Bà-la-môn:
“Ông
gội đầu, đeo tràng hoa dài, khoác áo lụa trắng, đó là
pháp của ai vậy?”