TẠP
A-HÀM QUYỂN 36
KINH
993. TÁN THƯỢNG TỌA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có các Thượng tọa Tỳ-kheo,
sống y chỉ bên cạnh Phật như Tôn giả A-nhã Kiều-trần-như,
Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Ma-ha
Mục-kiền-liên, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nhị Thập
Ức Nhĩ, Tôn giả Đà-la-phiêu Ma-la Tử, Tôn giả Bà-na-ca-bà-sa,
Tôn giả Da-xá-xá-la-ca-tỳ-ha-lợi, Tôn giả Phú-lưu-na, Tôn
giả Phân-đà-đàn-ni-ca. Như các Thượng tọa này, các Thượng
tọa Tỳ-kheo khác cũng sống y chỉ ở bên Phật.
Lúc
đó Tôn giả Bà-kỳ-xá[2] đang ở tại giảng đường Lộc
tử mẫu trong vườn phía Đông, nước Xá-vệ. Tôn giả Bà-kỳ-xá
tự nghĩ: “Hôm nay Thế Tôn đang trú trong vườn Cấp cô độc,
rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ cùng với các Thượng
tọa Tỳ-kheo sống y chỉ bên cạnh Phật. Nay ta nên đi đến
chỗ Thế Tôn, nói kệ khen ngợi từng Thượng tọa Tỳ-kheo
một.” Suy nghĩ như vậy xong, Bà-kỳ-xá liền đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui
qua một bên, nói kệ:
Tỳ-kheo
Tối thượng tọa,
Đã
đoạn các tham dục;
Vượt
khỏi các thế gian,
Tất
cả mọi tích tụ;
Trí
sâu, ít nói năng,
Dõng
mãnh siêng phương tiện;
Đạo
đức sạch sáng ngời:
Con
nay cúi đầu lạy.
Đấng
hàng phục ma oán,
Xa
lìa nơi đám đông;
Không
bị năm dục trói,
Thường
ở nơi vắng lặng;
Rỗng
suốt, ít ham muốn:
Con
nay cúi đầu lạy.
Thắng
tộc Giá-la-diên,
Thiền
tư không phóng dật,
Nội
tâm vui chánh thọ,
Trong
sạch lìa bụi nhơ,
Tuệ
biện hiển nghĩa sâu:
Cho
nên con cúi lạy.
Đấng
đạt Thần thông tuệ,
Vượt
qua sức thần thông;
Trong
sáu thứ thần thông,
Tự
tại không sợ hãi;
Là
thần thông tối thắng:
Cho
nên con cúi lạy.
Chúng
sanh nơi năm đường,
Cho
đến cõi Phạm thế;
Trời,
người tưởng ưu liệt,
Trong
đại thiên thế giới;
Mắt
tịnh thiên thấy hết:
Cho
nên con cúi lạy.
Sức
phương tiện tinh cần,
Đoạn
trừ tập khởi ái;
Xé
toạc lưới sanh tử,
Tâm
thường vui Chánh pháp;
Lìa
các tưởng hy vọng,
Vượt
qua bờ bên kia;
Trong
sạch, không bụi nhơ:
Cho
nên con cúi lạy.
Thoát
hẳn mọi sợ hãi,
Lìa
tài vật, không dính;
Biết
đủ, không nghi hoặc,
Hàng
phục giặc ma oán;
Quán
niệm thân thanh tịnh:
Cho
nên con cúi lạy.
Không
có các thế gian,
Rừng
gai góc phiền não;
Trừ
hẳn kết phược sử,
Dứt
nhân duyên ba cõi;
Tinh
luyện diệt các cấu,
Rốt
cùng sáng hiện bày;
Nơi
rừng lìa khỏi rừng:
Cho
nên con cúi lạy.
Dứt
giả trá, si, nhuế,
Điều
phục các ái hỷ;
Ra
khỏi mọi kiến xứ,
Không
cửa nhà nương tựa;
Thanh
tịnh không vết nhơ:
Cho
nên con cúi lạy.
Tâm
kia chuyển tự tại,
Kiên
cố không khuynh động;
Trí
tuệ đại đức lực,
Khuất
phục ma khó phục;
Đoạn
trừ kết vô minh:
Cho
nên con cúi lạy.
Đại
nhân xa tối tăm,
Đấng
Mâu-ni vắng lặng,
Chánh
pháp lìa lỗi nhơ,
Ánh
sáng tự hiện chiếu,
Soi
khắp mọi thế giới,
Cho
nên gọi là Phật.
Địa
thần, hư không thiên,
Thiên
tử Tam thập tam;
Ánh
sáng ắt bị che,
Cho
nên gọi là Phật.
Qua
bờ sanh tử hữu,
Siêu
việt vượt mọi loài;
Mềm
mỏng khéo điều phục,
Chánh
giác đệ nhất giác;
Đoạn
tận mọi kết phược,
Hàng
phục các ngoại đạo;
Đập
tan bọn ma oán,
Đắc
Vô thượng Chánh giác;
Lìa
trần diệt các cấu:
Cho
nên con cúi lạy.
Khi
Tôn giả Bà-kỳ-xá nói kệ khen ngợi, các Tỳ-kheo lắng nghe
những lời này, tất cả đều hoan hỷ.
*
KINH
994. BÀ-KỲ-XÁ TÁN PHẬT[3]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Bà-kỳ-xá đang ở tại
giảng đường Lộc tử mẫu trong vườn phía Đông, nước
Xá-vệ, bị bệnh nặng nguy khốn. Tôn giả Phú-lân-ni là người
chăm sóc bệnh nhân, cung cấp cúng dường.
Khi
ấy Tôn giả Bà-kỳ-xá nói với Tôn giả Phú-lân-ni:
“Thầy
hãy đến chỗ Thế Tôn, chuyển lời tôi bạch Thế Tôn rằng:
‘Tôn giả Bà-kỳ-xá đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, kính
thăm hỏi Thế Tôn ít bệnh, ít não và sống khinh lợi, an
vui chăng?’ Lại nói tiếp: ‘Tôn giả Bà-kỳ-xá ở tại
giảng đường Lộc tử mẫu trong vườn phía Đông, đang bị
bệnh nặng nguy khốn, muốn được gặp Thế Tôn, nhưng không
đủ sức để đến chỗ Phật. Lành thay! Thế Tôn! Xin Ngài
mở lòng thương xót đến chỗ của Bà-kỳ-xá ở giảng đường
Lộc tử mẫu tại vườn phía Đông’.”
Lúc
ấy, Tôn giả Phú-lân-ni nhận lời đi đến Thế Tôn. Sau khi
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên thưa:
“Tôn
giả Bà-kỳ-xá ở giảng đường Lộc tử mẫu trong vườn
phía Đông bị bệnh nặng nguy khốn, muốn được gặp Thế
Tôn nhưng không đủ sức đi đến diện kiến Ngài. Lành thay!
Thế Tôn! Xin Ngài vì thương xót đến chỗ Tôn giả Bà-kỳ-xá
ở giảng đường Lộc tử mẫu trong vườn phía Đông.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Tôn giả Phú-lân-ni biết
Phật đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng lên đảnh
lễ dưới chân Phật rồi đi.
Chiều
hôm ấy sau khi từ thiền tịnh dậy, Thế Tôn đến Tôn giả
Bà-kỳ-xá. Tôn giả Bà-kỳ-xá từ xa trông thấy Thế Tôn,
muốn vịn giường mà đứng dậy. Bấy giờ, Thế Tôn thấy
Tôn giả Bà-kỳ-xá tựa giường muốn gượng dậy, liền bảo:
“Bà-kỳ-xá
chớ nên khinh động.”
Thế
Tôn liền ngồi xuống hỏi Tôn giả Bà-kỳ-xá:
“Những
bệnh khổ của ông có bình hòa, dễ chịu đựng không? Sự
đau nhức nơi thân tăng hay giảm.” Nói đầy đủ như kinh
Diệm-ma-ca ở trước... cho đến “… những bệnh khổ của
con có cảm giác càng tăng thêm chứ không thuyên giảm.”
Phật
bảo Bà-kỳ-xá:
“Bây
giờ Ta hỏi ông, tùy ý mà trả lời Ta. Ông đã được tâm
không nhiễm, không đắm, không nhơ, giải thoát, lìa các điên
đảo, phải không?”
Bà-kỳ-xá
bạch Phật:
“Tâm
con không nhiễm, không đắm, không nhơ, giải thoát, lìa các
điên đảo.”
Phật
bảo Bà-kỳ-xá:
“Làm
sao ông có được tâm không nhiễm, không đắm, không nhơ,
giải thoát, lìa các điên đảo?”
Bà-kỳ-xá
bạch Phật:
“Con
đối với sắc quá khứ được nhận thức bởi mắt, tâm
không luyến tiếc, đối với sắc vị lai, không mơ tưởng,
đối với sắc hiện tại không đắm nhiễm. Con ở nơi sắc
quá khứ, vị lai, hiện tại được nhận thức bởi mắt,
đã dứt sạch niệm tham dục, ái lạc, vô dục, diệt tận,
tịch diệt, tịch tĩnh, viễn ly, giải thoát. Tâm đã giải
thoát, cho nên không nhiễm, không đắm, không nhơ, lìa các
điên đảo, an trụ chánh thọ. Cũng vậy, với nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý. Đối với pháp quá khứ được nhận thức bởi ý,
tâm không luyến tiếc, đối với sắc vị lai, không mơ tưởng,
đối với sắc hiện tại không đắm nhiễm. Trong pháp quá
khứ, vị lai, hiện tại, niệm tham dục, niệm ái lạc không
còn nữa, vô dục, diệt tận, tịch diệt, tịch tĩnh, viễn
ly, giải thoát. Tâm đã giải thoát, cho nên không nhiễm, không
đắm, không nhơ, lìa các điên đảo, an trụ chánh thọ. Xin
Đức Thế Tôn hôm nay ban cho con điều lợi ích tối hậu,
nghe con nói kệ.”
Phật
bảo Bà-kỳ-xá:
“Nên
biết đúng lúc.”
Tôn
giả Bà-kỳ-xá ngồi ngay ngắn, buộc niệm ở trước và nói
kệ:
Nay
con ở trước Phật,
Cúi
đầu cung kính lạy.
Đối
với tất cả pháp,
Thảy
đều được giải thoát.
Khéo
hiểu các tướng pháp,
Tin
sâu, vui Chánh pháp.
Thế
Tôn, Đẳng Chánh Giác,
Thế
Tôn là Đại Sư.
Thế
Tôn hàng ma oán,
Thế
Tôn Đại Mâu-ni;
Diệt
trừ tất cả sử,
Tự
độ các loài sanh.
Thế
Tôn đối thế gian,
Giác
tri tất cả pháp.
Thế
gian ắt không có
Ai
biết pháp hơn Phật.
Ở
trong cõi Thiên, Nhân,
Cũng
không ai bằng Phật.
Cho
nên hôm nay con,
Lễ
bậc Đại tinh tấn,
Cúi
đầu lễ Thượng sĩ,
Lễ
đấng Đại tinh tấn,
Đã
nhổ gai ái dục.
Hôm
nay giờ phút cuối,
Con
được thấy Thế Tôn.
Cúi
lễ đấng Nhật chủng,
Đêm
nay Bát-niết-bàn.
Chánh
trí buộc chánh niệm,
Đối
thân hư hoại này;
Các
dư lực còn lại,
Từ
đêm nay diệt hẳn.
Ba
cõi không còn nhiễm,
Vào
Vô dư Niết-bàn.
Cảm
thọ khổ và vui,
Cũng
không khổ không vui;
Từ
nhân duyên xúc sanh,
Hôm
nay ắt đoạn tận.
Khổ
thọ và lạc thọ,
Cũng
không khổ không vui;
Từ
nhân duyên xúc sanh,
Hôm
nay đều biến tri.
Hoặc
bên trong, bên ngoài,
Các
cảm thọ khổ vui;
Đối
thọ không chỗ đắm,
Chánh
trí chánh buộc tâm;
Ban
đầu, giữa, sau cùng,
Các
tụ không chướng ngại.
Các
tụ đã đoạn rồi,
Biết
rõ ái không còn.
Người
thấy rõ chân thật,
Nói
chín mươi mốt kiếp;
Trong
ba kiếp không trống,
Có
đấng Đại Tiên nhân.
Cõi
không không nơi tựa,
Chỉ
sợ kiếp khủng bố.
Nên
biết Đại Tiên nhân,
Lại
xuất hiện thế gian,
An
ủi các trời, người,
Mở
mắt, lìa bụi mờ;
Thức
tỉnh các chúng sanh,
Cho
biết mọi thứ khổ:
Khổ
khổ và khổ tập,
Tịch
diệt, vượt qua khổ;
Bát
Thánh đạo Hiền thánh,
An
ổn đến Niết-bàn.
Điều
thế gian khó được,
Hiện
tiền tất đã được;
Đời
này, được thân người,
Chánh
pháp được diễn nói.
Theo
những gì mình muốn,
Lìa
cấu cầu thanh tịnh;
Chuyên
tu tự lợi mình,
Chớ
khiến rỗng không quả.
Luống
không thời sanh lo,
Gần
nơi địa ngục khổ.
Đối
Chánh pháp được nói,
Không
thích, không muốn nhận;
Sẽ
ở lâu sanh tử,
Bao
giờ dứt luân hồi!
Trường
kỳ ôm ưu não,
Như
người buôn mất của.
Nay
con đủ mọi tốt,
Không
còn sanh, già, chết.
Luân
hồi đã chấm dứt,
Không
còn sanh lại nữa.
Dòng
nước sông ái, thức,
Từ
nay tất cạn khô.
Đã
nhổ cội rễ uẩn,
Khoen
xích không tiếp nối.
Cúng
dường Đại Sư xong,
Việc
làm đã hoàn tất,
Gánh
nặng đã buông xuống,
Hữu
lưu đã đoạn xong;
Không
còn thích thọ sanh,
Không
còn tử đáng ghét;
Chánh
trí, chánh buộc niệm,
Chỉ
chờ phút cuối cùng.
Long
tượng nhớ rừng hoang,
Sáu
mươi thú hùng mạnh,
Một
mai thoát gông xiềng,
Thong
dong trong rừng núi.
Bà-kỳ-xá
cũng vậy,
Miệng
Đại Sư sanh con;
Chán
bỏ lìa đồ chúng,
Chánh
niệm chờ thời đến.
Nay
nói với mọi người,
Những
ai đến tụ hội;
Nghe
kệ Ta sau cùng,
Nghĩa
chúng được lợi ích.
Có
sanh ắt có diệt,
Các
hành đều vô thường.
Pháp
chóng sanh, chóng tử,
Nào
đáng nương cậy lâu.
Nên
phải có chí mạnh,
Tinh
cần cầu phương tiện;
Quán
sát có sợ hãi,
Tùy
thuận đạo Mâu-ni,
Mau
hết khổ ấm này,
Chớ
tăng thêm luân chuyển.
Đứa
con từ miệng Phật,
Khen
nói kệ này xong;
Xin
từ biệt đại chúng,
Bà-kỳ-xá
Niết-bàn.
Vì
tấm lòng từ bi,
Nói
kệ vô thượng này;
Tôn
giả Bà-kỳ-xá,
Con
sanh từ pháp Phật.
Do
rũ lòng bi mẫn,
Nói
kệ Vô thượng này;
Sau
đó Bát-niết-bàn,
Tất
cả nên kính lễ.[4]
*
KINH
995. A-LUYỆN-NHÃ[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy giờ
vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Tỳ-kheo
A-luyện-nhã[6],
An
trụ nơi vắng vẻ[7],
Lặng
lẽ tu phạm hạnh,
Ăn
chỉ một lần ngồi[8],
Do
vì nhân duyên gì,
Nhan
sắc được tươi sáng?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Với
quá khứ không lo,
Vị
lai không mơ thích;
Hiện
tại tùy chỗ được,
Chánh
trí buộc giữ niệm.
Ăn
uống luôn buộc niệm,
Nhan
sắc thường tươi sáng.
Tâm,
tưởng ruỗi vị lai,
Buồn
tiếc theo quá khứ;
Lửa
ngu si tự nấu,
Như
mưa đá chết cỏ.
Thiên
tử này lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Chóng
đắc Bát-niết-bàn;
Mọi
sợ hãi đều qua,
Thoát
hẳn đời ân ái.
Vị
Thiên tử này nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh
lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
996. KIÊU MẠN[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Không
khéo điều phục tâm,
Khởi
dục vọng kiêu mạn[10];
Chưa
từng tu tịch mặc,
Cũng
chẳng vào chánh thọ[11].
Ở
rừng mà phóng dật,
Không
qua đến bờ kia[12].
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Đã
lìa nơi kiêu mạn,
Tâm
thường vào chánh định;
Trí
sáng khéo phân biệt,
Giải
thoát tất cả phược.
Một
mình nơi rừng vắng,
Tâm
này không phóng dật;
Nhanh
chóng vượt qua bờ
Kẻ
thù tử ma kia.
Thiên
tử này lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Chóng
đắc Bát-niết-bàn;
Mọi
sợ hãi đều qua,
Thoát
hẳn đời ân ái.
Vị
Thiên tử này nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh
lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
997. CÔNG ĐỨC TĂNG TRƯỞNG[13]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Làm
sao được ngày đêm,
Công
đức luôn tăng trưởng?
Làm
sao sanh cõi trời?
Xin
Ngài giải nói rõ.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Trồng
vườn cây ăn quả,
Rừng
cây cho bóng mát;
Cầu,
thuyền dùng qua sông,
Tạo
ra nhà phước đức;
Đào
giếng giúp đỡ khát,
Khách
xá giúp lữ hành;
Những
công đức như vậy,
Ngày
đêm thường tăng trưởng.
Giới
đầy đủ như pháp,
Nhờ
đó sanh cõi trời.
Thiên
tử này lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Chóng
đắc Bát-niết-bàn;
Mọi
sợ hãi đều qua,
Thoát
hẳn đời ân ái.
Vị
Thiên tử này nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh
lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
998. CHO GÌ ĐƯỢC SỨC LỚN[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Thí
gì được sức lớn?
Thí
gì được diệu sắc?
Thí
gì được an vui?
Thí
gì được mắt sáng?
Tu
tập những thí nào,
Gọi
là nhất thiết thí?
Nay
xin hỏi Thế Tôn,
Xin
Ngài phân biệt nói.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Thí
ăn được sức lớn,
Thí
y được diệu sắc;
Thí
xe được an vui,
Thí
đèn được mắt sáng;
Lữ
quán để tiếp khách[15],
Gọi
là nhất thiết thí.
Đem
pháp để dạy người,
Đó
là thí cam lộ[16].
Thiên
tử này lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Chóng
đắc Bát-niết-bàn;
Mọi
sợ hãi đều qua,
Thoát
hẳn đời ân ái.
Vị
Thiên tử này nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh
lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
999. HOAN HỶ[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử tên là Tất-bề-lê[18],
tướng mạo tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi
đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng
từ thân chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ:
Chư
Thiên và người đời,
Đều
ưa thích thức ăn;
Vậy
có các thế gian,
Phước
lạc tự theo chăng[19]?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Tịnh
tín tâm huệ thí,
Đời
này và đời sau
Theo
chỗ người này đến,
Phước
báo theo như bóng.
Cho
nên bỏ keo kiệt,
Hành
huệ thí không nhơ;
Thí
rồi, tâm hoan hỷ,
Đời
này đời khác nhận.
Thiên
tử Tất-bề-lê này bạch Phật:
“Lạ
thay! Thế Tôn khéo nói nghĩa trên:
Tịnh
tín tâm huệ thí,
Đời
này và đời sau;
Theo
chỗ người này đến,
Phước
báo theo như bóng;
Cho
nên bỏ keo kiệt,
Hành
huệ thí không nhơ;
Thí
rồi tâm hoan hỷ,
Đời
này đời khác nhận.
Thiên
tử Tất-bề-lê bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con tự biết thời quá khứ, đã từng làm quốc
vương tên Tất-bề-lê, bố thí, làm phước khắp cả bốn
cửa thành. Và ở trong thành kia có bốn giao lộ, ở nơi đó
cũng bố thí làm phước.
“Lúc
ấy đệ nhất phu nhân đến nói với con: ‘Đại vương làm
phước đức lớn, mà tôi không có sức để tu các phước
nghiệp.’
“Khi
đó, con nói: ‘Ngoài cửa thành phía Đông, bố thí, làm phước,
việc đó đều thuộc về phu nhân.’
“Các
vương tử cũng đến tâu với con: ‘Đại vương làm nhiều
công đức, phu nhân cũng vậy. Mà chúng con không có sức để
làm các phước nghiệp. Nay chúng con xin được nương vào Đại
vương làm chút công đức.’
“Khi
đó, con đáp: ‘Ngoài cửa thành phía Nam, bố thí, làm phước,
việc đó đều thuộc về các con.’
“Bấy
giờ có quan đại thần lại đến tâu với con: ‘Ngày nay
Đại vương, phu nhân, cùng vương tử làm nhiều công đức.
Còn hạ thần không có sức làm các phước nghiệp, xin nương
vào Đại vương làm chút công đức.’
“Khi
đó, con bảo: ‘Ngoài cửa thành phía Tây, bố thí làm phước,
việc đó đều thuộc về các ông.’
“Bấy
giờ, các tướng sĩ lại đến tâu với con: ‘Ngày nay Đại
vương, làm nhiều công đức, phu nhân, vương tử và các đại
thần đều cùng làm, chỉ có chúng hạ thần không có sức
để làm phước nghiệp, xin nương vào Đại vương để làm.’
“Khi
đó, con đáp: ‘Ngoài cửa thành phía Bắc, bố thí làm phước,
việc đó đều thuộc về các ông.’
“Bấy
giờ, thứ dân trong nước lại đến tâu với con: ‘Ngày nay
Đại vương làm nhiều công đức, phu nhân, vương tử, đại
thần, các tướng sĩ đều cùng làm. Chỉ có chúng tôi không
có sức để tu phước, nguyện xin nương vào Đại vương làm
chút công đức.’
“Khi
đó, con đáp: ‘Trong thành kia, ở đầu bốn giao lộ, bố
thí làm phước, việc đó đều thuộc về các ngươi.’
“Bấy
giờ, vua, phu nhân, vương tử, đại thần, tướng sĩ, thứ
dân, mọi người đều bố thí, làm các công đức. Việc huệ
thí công đức trước đây của con do đó mà bị gián đoạn.
Khi đó những người con đã bảo họ làm phước đều trở
về chỗ con, làm lễ con và tâu con rằng: ‘Đại vương nên
biết, những nơi tu phước, phu nhân, vương tử, đại thần,
tướng sĩ, thứ dân, mỗi người đều y cứ chỗ mình mà
bố thí, làm phước. Sự bố thí của Đại vương đến do
đó mà bị gián đoạn.’
“Khi
đó, con đáp: ‘Này Thiện nam, các nước láng giềng hằng
năm nộp tài vật cung ứng cho ta, phân nửa cho vào kho, còn
phân nửa để lại các nước ấy thí ân, làm phước.’
“Người
kia vâng theo lệnh vua, đến nước lân cận, gom góp tài vật,
phân nửa cho vào kho, phân nửa để lại cho nước đó thí
ân, làm phước.
“Trước
kia con trường kỳ thí ân, làm phước như vậy, nên luôn luôn
được phước báo khả ái, khả niệm, khả ý, thường hưởng
được khoái lạc không cùng tận. Do phước nghiệp này cùng
với quả phước báo phước, tất cả đều dồn vào nhóm
công đức lớn. Ví như năm con sông lớn hợp thành một dòng,
đó là sông Hằng, Da-bố-na, Tát-la-do, Y-la-bạt-đề, Ma-hê.
Năm con sông này hợp thành một dòng như vậy mà không ai có
thể đo lường số lượng trăm, ngàn, vạn, ức đấu hộc
nước sông kia. Nước của con sông lớn này trở thành một
khối lượng nước lớn. Quả báo của các công đức đã
làm của con cũng như vậy, không thể đo lường, tất cả
đều nhập vào nhóm công đức lớn.”
Thiên
tử Tất-bề-lê nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ
lễ Phật rồi biến mất.
*
KINH
1000. VIỄN DU[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Người
nào có thể làm
Thiện
tri thức viễn du[21]?
Người
nào có thể làm
Thiện
tri thức tại gia?
Người
nào có thể làm
Thiện
tri thức thông tài[22]?
Người
nào có thể làm
Thiện
tri thức đời sau?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Người
dẫn đầu đoàn buôn,
Thiện
tri thức du hành.
Vợ
hiền lương trinh chính,
Thiện
tri thức tại gia.
Thân
tộc gần gũi nhau,
Thiện
tri thức thông tài.
Công
đức mình tu tập,
Thiện
tri thức đời sau.
Thiên
tử này lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Chóng
đắc Bát-niết-bàn;
Mọi
sợ hãi đều qua,
Thoát
hẳn đời ân ái.
Vị
Thiên tử này nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh
lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1001. XÂM BỨC[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Vận
tối đem mạng đi,
Nên
khiến người đoản mạng.
Bị
sự già bức bách,
Mà
không người cứu hộ.
Thấy
già, bệnh, chết đó,
Khiến
người sợ vô cùng.
Chỉ
làm các công đức,
Vui
đi đến chỗ vui.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Vận
tối đem mạng đi,
Nên
khiến người đoản mạng.
Bị
sự già bức bách,
Mà
không người cứu hộ.
Thấy
lỗi hữu dư này,
Khiến
người sợ vô cùng.
Đoạn
tham ái ở đời,
Nhập
Niết-bàn vô dư.
Thiên
tử này lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Chóng
đắc Bát-niết-bàn;
Mọi
sợ hãi đều qua,
Thoát
hẳn đời ân ái.
Vị
Thiên tử này nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh
lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1002. ĐOẠN TRỪ[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Đối
mấy pháp đoạn trừ?
Mấy
pháp nên vất bỏ?
Và
đối với mấy pháp,
Tăng
thượng phương tiện tu?
Phải
siêu việt mấy tụ[25],
Tỳ-kheo
vượt dòng siết[26]?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Năm
đoạn trừ, năm xả[27],
Đối
năm căn tu thêm[28],
Vượt
lên năm hòa hợp[29],
Tỳ-kheo
qua dòng sâu.
Thiên
tử này lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Chóng
đắc Bát-niết-bàn;
Mọi
sợ hãi đều qua,
Thoát
hẳn đời ân ái.
Vị
Thiên tử này nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh
lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1003. TỈNH NGỦ[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo
tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Mấy
người ngủ khi thức?
Mấy
người thức khi ngủ[31]?