TẠP
A-HÀM QUYỂN 35
KINH
970. XÁ-LA-BỘ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ có xuất gia ngoại đạo tên là Xá-la-bộ[2]
ở bên bờ ao Tu-ma-kiệt-đà[3]; giữa đồ chúng của mình,
tự tuyên bố như vầy: “Pháp của Sa-môn họ Thích, ta biết
hết. Trước đây ta đã biết Pháp luật kia nhưng buông bỏ
hết.”
Bấy
giờ có nhiều Tỳ-kheo sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Vương
xá khất thực, nghe ngoại đạo tên Xá-la-bộ ở bên bờ ao
Tu-ma-kiệt-đà, giữa đồ chúng mình tuyên bố như vầy: “Pháp
của Sa-môn họ Thích, ta biết hết. Trước đây ta đã biết
Pháp luật kia nhưng buông bỏ hết.” Sau khi nghe những lời
này, khất thực rồi họ trở về tinh xá, cất y bát, rửa
chân xong đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi
lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng nay chúng con đắp y, mang bát vào thành Vương
xá khất thực, nghe xuất gia ngoại đạo tên là Xá-la-bộ
ở bên bờ ao Tu-ma-kiệt-đà, giữa đồ chúng của mình tuyên
bố như vầy: ‘Pháp của Sa-môn họ Thích, ta biết hết. Trước
đây ta đã biết Pháp luật kia nhưng buông bỏ hết’. Lành
thay! Xin Thế Tôn vì thương xót Xá-la-bộ, mà đích thân đến
bên bờ ao Tu-ma-kiệt-đà.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Vào buổi chiều sau khi từ
thiền tịnh dậy, Ngài đến chỗ Xá-la-bộ bên bờ ao Tu-ma-kiệt-đà.
Xuất gia ngoại đạo Xá-la-bộ từ xa trông thấy Thế Tôn
đến, lo sửa soạn chỗ ngồi, thỉnh Phật ngồi. Sau khi Thế
Tôn an tọa, Ngài nói với Xá-la-bộ:
“Ông
có thật nói như vầy: ‘Pháp của Sa-môn họ Thích, ta biết
hết. Sau khi đã biết hết rồi, ta buông bỏ hết không’?”
Lúc
ấy, Xá-la-bộ im lặng không đáp.
Phật
bảo Xá-la-bộ:
“Ông
nay nên nói. Vì sao im lặng? Nếu sự hiểu biết của ông đầy
đủ thì Ta sẽ tùy hỷ. Nếu sự hiểu biết của ông chưa
đầy đủ, thì Ta sẽ giúp cho ông đầy đủ.”
Xá-la-bộ
vẫn im lặng. Nói như vậy hai, ba lần, nhưng cả ba lần cũng
vẫn giữ im lặng. Lúc ấy, Xá-la-bộ có một đệ tử phạm
hạnh bạch Xá-la-bộ rằng:
“Thưa
thầy, lý ra thầy nên đi đến Sa-môn Cù-đàm trình bày tri
kiến của mình. Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đã tự đến đây,
vì sao thầy không nói? Sa-môn Cù-đàm lại nói với thầy:
‘Nếu đầy đủ thì Ngài sẽ tùy hỷ. Nếu không đầy đủ
Ngài sẽ giúp cho đầy đủ’. Vì sao thầy im lặng mà không
nói?”
Khi
người đệ tử phạm hạnh khuyên, ông vẫn làm thinh. Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Xá-la-bộ:
“Nếu
có người nói: ‘Sa-môn Cù-đàm không phải là Như Lai, Ứng
Cúng, Đẳng Chánh Giác’. Ta sẽ khéo can gián, khéo cật vấn.
Khi được khéo can gián, khéo cật vấn, người kia sẽ nói
lảng qua những việc khác; hoặc phẫn nộ, kiêu mạn, ôm hận,
phẫn hận, chống đối, không chấp nhận, không có cách gì
tỏ bày; hoặc im lặng xấu hổ cúi đầu, âm thầm tự nghĩ,
tự xét; như Xá-la-bộ hôm nay.
Hoặc
lại có người nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm không có[4]
Chánh pháp luật’. Ta sẽ khéo can gián, khéo cật vấn. Người
kia cũng ngồi im như ông hôm nay.
“Hay
lại có người nói: ‘Đệ tử[5] nào của Sa-môn Cù-đàm
không phải là bậc thiện hướng[6].’ Ta sẽ khéo can gián,
khéo cật vấn. Người kia cũng ngồi im như ông hôm nay.”
Bấy
giờ, Thế Tôn ở bên bờ ao Tu-ma-kiệt-đà rống lên tiếng
rống sư tử, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Lúc ấy,
đệ tử phạm hạnh của Xá-la-bộ nói với Xá-la-bộ:
“Giống
như trâu bị cắt đi hai cái sừng, nhốt vào trong chuồng trâu
trống, nó quỳ xuống đất rống to. Thầy cũng như vậy, ở
trong chúng không có đệ tử của Sa-môn Cù-đàm thì làm sư
tử rống.
“Giống
như người con gái muốn nói giọng đàn ông, nhưng khi phát
ra tiếng, thì liền là tiếng đàn bà. Thầy cũng như vậy,
ở trong chúng không có đệ tử của Sa-môn Cù-đàm thì làm
sư tử rống.
“Giống
như con dã can muốn kêu tiếng chồn, như khi phát ra tiếng
thì vẫn là tiếng dã can. Thầy cũng như vậy, lúc không có
Sa-môn Cù-đàm thì thầy ở giữa chúng đệ tử của mình
muốn làm sư tử rống.”
Sau
khi đệ tử phạm hạnh của Xá-la-bộ ở trước Xá-la-bộ
nói ra những lời trách cứ, hủy báng rồi, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy bỏ đi.
*
KINH
971. THƯỢNG TỌA[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ, bên bờ ao Tu-ma-kiệt-đà trong thành Vương
xá, có xuất gia ngoại đạo tên là Thượng Tọa[8] đang ở
cạnh hồ này, ông ở trong chúng của mình tự nói như vầy:
“Tôi nói một bài kệ, nếu ai có thể đáp được, tôi sẽ
theo vị ấy tu hành phạm hạnh.”
Sáng
sớm hôm ấy, có nhiều Tỳ-kheo đắp y, ôm bát vào thành Vương
xá khất thực, nghe có xuất gia ngoại đạo tên là Thượng
Tọa ở cạnh bờ ao Tu-ma-kiệt-đà, vị này ở trong chúng
của mình tự nói như vầy: “Tôi nói một bài kệ, nếu ai
có thể đáp được, tôi sẽ theo vị ấy tu hành phạm hạnh.”
Các Tỳ-kheo khất thực xong, trở về tinh xá, cất y bát, rửa
chân xong đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm các Tỳ-kheo chúng con vào thành khất thực,
nghe xuất gia ngoại đạo tên là Thượng Tọa ở cạnh bờ
ao Tu-ma-kiệt-đà, giữa đồ chúng của mình tự nói như vầy:
‘Tôi nói một bài kệ, nếu ai đáp được, tôi sẽ theo vị
ấy tu hành phạm hạnh.’ Xin Thế Tôn vì thương xót nên đích
thân đến ông ấy.”
Thế
Tôn im lặng nhận lời. Buổi chiều hôm đó sau khi từ thiền
tịnh dậy, Ngài đến cạnh bờ ao Tu-ma-kiệt-đà. Khi xuất
gia ngoại đạo Thượng Tọa từ xa trông thấy Thế Tôn, liền
trải chỗ ngồi, thỉnh Phật an tọa, Thế Tôn ngồi xong, bảo
xuất gia ngoại đạo Thượng Tọa rằng:
“Có
thật ông đã nói những lời như vầy: ‘Tôi nói một bài
kệ, nếu ai đáp được, thì tôi sẽ theo vị ấy tu hành phạm
hạnh’ chăng? Bây giờ ông hãy nói kệ, Ta có thể đáp lại.”
Lúc
ấy, ngoại đạo kia chất giường dây[9] lên thành chỗ ngồi
cao, tự mình lên đó ngồi và nói kệ:
Tỳ-kheo
sống đúng pháp,
Không
khủng bố chúng sanh,
Ý
lặng, hành xả ly,
Trì
giới thuận đình chỉ.
Bấy
giờ, Thế Tôn biết rõ tâm ngoại đạo Thượng Tọa này,
Ngài liền nói kệ:
Nếu
ông tự hành theo
Những
gì kệ ông nói;
Đối
với ông, Ta sẽ
Xem
như người Hiền thiện.
Xét
những gì ông nói,
Nói,
làm không tương ưng.
Người
giữ gìn tịnh giới:
Tĩnh
lặng, tự điều phục;
Chớ
khủng bố chúng sanh;
Ý
tĩnh lặng, xa lìa.
Thuận
điều phục, tĩnh lặng;
Tâm,
miệng, thân lìa ác.
Khéo
nhiếp nơi trụ xứ,
Không
để cho phóng dật:
Đây
gọi là tùy thuận,
Điều
phục và tĩnh lặng.
Khi
ấy, xuất gia ngoại đạo Thượng Tọa tự nghĩ: “Sa-môn
Cù-đàm đã biết tâm ta.” Liền từ trên chỗ ngồi bước
xuống, chắp tay bạch Phật:
“Nay
con có thể xuất gia thọ cụ túc, trở thành pháp Tỳ-kheo,
ở nơi Chánh pháp luật không?”
Phật
bảo xuất gia ngoại đạo Thượng Tọa:
“Nay
ông có thể xuất gia thọ cụ túc, trở thành Tỳ-kheo, ở
nơi Chánh pháp luật.”
Sau
khi xuất gia ngoại đạo Thượng Tọa đã xuất gia và trở
thành Tỳ-kheo rồi, tự suy nghĩ về lý do khiến cho người
thiện nam cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chánh tín xuất
gia học đạo, sống không nhà,... cho đến tâm thiện giải
thoát, đắc A-la-hán.
*
KINH
972. TAM ĐẾ[10]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ có nhiều tu sĩ Ba-la-môn ở cạnh ao Tu-ma-kiệt-đà,
tập hợp lại một chỗ bàn luận như vầy: “Chân đế của
Bà-la-môn như vậy[11]. Chân đế của Ba-la-môn như vậy.”
Bấy
giờ Thế Tôn biết tâm niệm của các xuất gia Bà-la-môn kia,
Ngài đi đến bờ ao Tu-ma-kiệt-đà. Lúc ấy, các xuất gia
Bà-la-môn từ xa trông thấy Đức Phật đang đến, liền vì
Phật sửa soạn chỗ ngồi, thỉnh Phật an tọa. Phật ngồi
vào chỗ ngồi xong, bảo các xuất gia Bà-la-môn:
“Các
ông tụ tập ở bờ ao Tu-ma-kiệt-đà này, để bàn luận những
gì?”
Xuất
gia Bà-la-môn bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, các tu sĩ Bà-la-môn chúng tôi tập hợp nơi đây bàn
luận như vầy: ‘Chân đế của Bà-la-môn như vậy. Chân đế
của Bà-la-môn như vậy’.”
Phật
bảo các xuất gia Bà-la-môn:
“Có
ba chân đế của Bà-la-môn[12] mà Ta đã tự mình giác ngộ,
thành Đẳng Chánh Giác, lại vì người diễn nói. Xuất gia
Bà-la-môn các ông nói như vầy: ‘Không hại tất cả chúng
sanh.’ Đó là chân đế của Bà-la-môn, chẳng phải hư dối.
Họ nói với nhau rằng: ‘Ta hơn, rằng ta bằng, rằng ta kém[13].’
Nếu đối với chân đế kia không bị trói buộc, đắm trước
và đối với tất cả thế gian biểu hiện lòng từ, đó gọi
là chân đế thứ nhất của Bà-la-môn, mà Ta đã tự giác
ngộ, thành Đẳng Chánh Giác và vì người diễn nói.
“Lại
nữa, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Những gì là pháp tập khởi[14]
đều là diệt pháp.’ Đó là chân đế, chẳng phải là hư
vọng... cho đến đối với chân đế này chẳng chấp trước
và đối với tất cả thế gian quán sát sanh diệt. Đó gọi
là chân đế thứ hai của Bà-la-môn.
“Lại
nữa, Bà-la-môn nói vầy: ‘Không có ta bất cứ ở đâu, bất
cứ sự gì, hoàn toàn không có gì. Không có ta bất cứ ở
đâu, bất cứ sự gì, hoàn toàn không có gì[15].’ Đó là
chân đế, chẳng phải hư vọng, như trước đã nói,... cho
đến đối với chân đế kia không bị trói đắm và đối
với tất cả thế gian vô ngã như nhau. Đó gọi là chân đế
thứ ba của Bà-la-môn, Ta đã tự giác ngộ, thành Đẳng Chánh
Giác và vì người diễn nói.”
Bấy
giờ các xuất gia Bà-la-môn đều ngồi yên im lặng. Thế Tôn
nghĩ rằng: “Hôm nay Ta soi sáng sự ngu si của họ, tiêu diệt
điều ác của họ, nhưng hiện tại trong chúng này không có
một người có khả năng tự suy xét, muốn tạo nhân duyên
để ở trong pháp của Sa-môn Cù-đàm tu hành phạm hạnh!”
Ngài
đã biết như vậy rồi, nên từ chỗ ngồi đứng dậy mà
đi.
*
KINH
973. CHIÊN-ĐÀ[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ Tôn giả A-nan cũng ở đó.
Lúc
ấy có xuất gia ngoại đạo tên là Chiên-đà[17] đến chỗ
Tôn giả A-nan, cùng thăm hỏi khích lệ nhau xong, ngồi lui qua
một bên, hỏi Tôn giả A-nan:
“Vì
lý do gì Tôn giả xuất gia tu phạm hạnh ở nơi Sa-môn Cù-đàm?”
Tôn
giả A-nan đáp:
“Vì
muốn đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si, nên tôi xuất gia tu
phạm hạnh ở nơi Sa-môn Cù-đàm.”
Chiên-đà
lại hỏi:
“Vị
ấy có thể nói về sự đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si chăng?”
Tôn
giả A-nan đáp:
“Tôi
cũng có thể nói về sự đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si.”
Chiên-đà
lại hỏi:
“Ngài
thấy tham dục, sân nhuế, ngu si có những sai lầm, tai hại
gì mà nói đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si?”
A-nan
đáp:
“Vì
nhiễm trước tham dục, làm che mờ tâm nên hoặc tự hại
mình, hoặc hại người, hoặc hại cả hai, hiện tại mắc
tội, đời sau mắc tội, hiện tại, đời sau cả hai đều
mắc tội; tâm lúc nào cũng cảm thấy buồn khổ. Nếu bị
sân nhuế che mờ, ngu si che mờ thì tự hại mình, hại người,
mình người đều hại... cho đến lúc nào cũng có cảm giác
buồn khổ.
“Lại
nữa tham dục là sự mù quáng, là không có mắt, là không
có trí, làm tuệ lực sút kém, làm chướng ngại, không phải
là minh, chẳng phải Đẳng giác, chẳng chuyển đến Niết-bàn.
Đối với sân nhuế, ngu si cũng lại như vậy. Tôi thấy tham
dục, sân nhuế, ngu si có những sai lầm tai hại như vậy nên
nói phải đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si.”
Chiên-đà
lại hỏi:
“Ngài
thấy đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si có phước lợi gì mà
nói đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si?”
A-nan
đáp:
“Đoạn
tham dục rồi thì không tự hại, cũng không hại người, cũng
không hại cả hai. Và lại hiện tại không mắc tội, đời
sau không mắc tội; hiện tại, đời sau đều không mắc tội;
tâm pháp lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ, sung sướng. Đối
với sân nhuế, ngu si cũng như vậy. Trong hiện tại thường
xa lìa nhiệt não, không chờ thời tiết mà chứng đắc các
hiện pháp khác, duyên tự thân mà giác tri[18]. Và vì những
công đức lợi ích như vậy, nên nói cần đoạn tham dục,
sân nhuế, ngu si.”
Chiên-đà
lại hỏi Tôn giả A-nan:
“Có
đạo, có đạo tích nào, mà tu tập, tu tập nhiều thì có
thể đoạn được tham dục, sân nhuế, ngu si không?”
A-nan
đáp:
“Có,
đó là tám Thánh đạo: Chánh kiến... cho đến chánh định.”
Ngoại
đạo Chiên-đà thưa Tôn giả A-nan:
“Đây
là đạo hiền thiện vậy thay! Là tích hiền thiện vậy thay!
Nếu tu tập, tu tập nhiều thì sẽ có khả năng đoạn tham
dục, sân nhuế, ngu si.”
Ngoại
đạo Chiên-đà nghe Tôn giả A-nan nói xong, hoan hỷ, tùy hỷ,
từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
*
KINH
974. BỔ-LŨ-ĐÊ-CA (1)[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến
chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một
bên. Khi ấy, Thế Tôn vì Tôn giả Xá-lợi-phất thuyết nhiều
pháp, chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui xong, Đức Phật im lặng.
Tôn giả Xá-lợi-phất sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi đi.
Lúc
ấy, có xuất gia ngoại đạo tên Bổ-lũ-đê-ca[20] trên đường
đi lại, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Ngài
từ đâu lại?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Này
Hỏa chủng, tôi từ chỗ Thế Tôn, nghe Đại Sư nói pháp,
dạy dỗ, rồi tới đây.”
Bổ-lũ-để-ca
hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Đến
nay vẫn còn chưa dứt sữa[21], vẫn theo Đại Sư nghe thuyết
pháp, thọ lãnh pháp chăng?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Này
Hỏa chủng, tôi không dứt sữa, vẫn ở nơi Đại Sư nghe
thuyết pháp, thọ lãnh pháp.”
Bổ-lũ-đề-ca
nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Tôi
đã dứt sữa từ lâu, xả bỏ những gì Thầy đã truyền
dạy.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Pháp
của ông là pháp luật được diễn thuyết một cách tệ hại,
được giác ngộ một cách tệ hại; chẳng phải là pháp xuất
ly, chẳng phải là đạo chánh giác, là pháp hư hoại, chẳng
phải pháp đáng để khen ngợi, chẳng phải pháp đáng để
y chỉ.
“Lại
nữa, vị Thầy kia không phải là bậc Đẳng chánh giác, cho
nên ông nhanh chóng dứt bỏ sữa, lìa bỏ giáo pháp của Thầy.
Ví như con bò sữa, cộc cằn hung dữ, dịch sữa lại ít.
Nghé con bú sữa xong vội vã bỏ đi. Cũng vậy, pháp luật
như vậy được diễn thuyết một cách tệ hại, được giác
ngộ môït cách tệ hại; chẳng phải là pháp xuất ly, chẳng
phải là đạo Chánh giác, là pháp hư hoại, chẳng phải pháp
đáng để khen ngợi, chẳng phải pháp đáng để y chỉ.
“Lại
nữa, vị Thầy ấy không phải là bậc Đẳng chánh giác, cho
nên ông nhanh chóng lìa bỏ giáo pháp mà Thầy ông đã dạy.
Pháp mà tôi có là Chánh pháp luật, là thiện giác, là xuất
ly, là đạo chánh giác, chẳng hoại, đáng để khen ngợi,
đáng để y chỉ.
“Lại
nữa, Đại Sư của tôi là Bậc Đẳng Chánh Giác, cho nên từ
lâu được uống dòng sữa của Ngài, được nghe Đại Sư
dạy dỗ chánh pháp, ví như con bò sữa không cộc cằn hung
dữ, lại có nhiều dịch sữa. Nghé con của nó uống sữa
lâu mà không chán. Pháp của tôi cũng vậy, là Chánh pháp luật...
cho đến từ lâu đã được nghe và lãnh thọ giáo pháp.”
Khi
ấy, Bổ-lũ-đê-ca nói với Xá-lợi-phất:
“Tôn
giả chóng được thiện lợi nơi Chánh pháp luật... cho đến
từ lâu đã được nghe và lãnh thọ giáo pháp.”
Xuất
gia ngoại đạo Bổ-lũ-để-ca nghe những gì Xá-lợi-phất
nói xong, hoan hỷ, tùy hỷ, lên đường mà đi.
*
KINH
975. BỔ-LŨ-ĐÊ-CA (2)[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ xuất gia ngoại đạo Bổ-lũ-đê-ca
đi đến chỗ Phật, sau khi cùng Thế Tôn chào hỏi an úy xong,
ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, hôm trước có nhiều xuất gia ngoại đạo Sa-môn,
Bà-la-môn tập hợp ở giảng đường Vị tằng hữu[23] bàn
luận như vầy: ‘Trí tuệ của Sa-môn Cù-đàm như cái nhà
trống, không thể ở giữa chỗ đông người kiến lập luận
nghị: Điều này nên, điều này không nên; điều này hợp,
điều này không hợp. Như con trâu mù đi cạnh bờ ruộng không
vào trong ruộng. Sa-môn Cù-đàm cũng lại như vậy, không có
điều gì nên, không nên; không có điều gì hợp, không hợp.’”
Phậy
bảo Bổ-lũ-đê-ca:
“Sự
bàn luận của các ngoại đạo này nói ‘nên hay không nên,
hợp hay không hợp’, đối với Chánh pháp luật như trò đùa
của trẻ con. Ví như người tám, chín mươi tuổi; tóc bạc,
răng rụng, làm trò đùa như trẻ con, dùng đất bùn nặn ra
các thứ hình voi, ngựa. Mọi người đều nói: ‘Đây là
bé con già tuổi’. Cũng vậy, này Hỏa chủng, các thứ luận
thuyết cho rằng: ‘Nên không nên, hợp không hợp’ đối
với Chánh pháp luật như trò đùa của trẻ con. Nhưng ở trong
đó không có gì cho Tỳ-kheo cần nỗ lực cả.”
Bổ-lũ-để-ca
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, ở nơi nào có điều mà Tỳ-kheo cần nỗ lực?”
Phật
bảo ngoại đạo:
“Cái
gì không thanh tịnh khiến cho thanh tịnh; đó là chỗ Tỳ-kheo
cần nỗ lực. Không điều phục khiến họ điều phục; đó
là chỗ Tỳ-kheo cần nỗ lực. Không định khiến cho họ được
chánh định; đó là chỗ Tỳ-kheo cần nỗ lực. Không giải
thoát khiến họ được giải thoát; đó là chỗ Tỳ-kheo cần
nỗ lực. Không đoạn khiến cho đoạn, không biến tri khiến
cho biến tri, không tu khiến cho tu, không đắc khiến cho đắc;
đó là chỗ Tỳ-kheo cần nỗ lực.
“Thế
nào là không thanh tịnh khiến thanh tịnh? Giới không thanh
tịnh khiến cho giới thanh tịnh. Thế nào là không điều phục
khiến họ điều phục? Các căn mắt, các căn tai, mũi, lưỡi,
thân, ý không điều phục khiến điều phục đầy đủ; đó
gọi là không điều phục khiến họ điều phục. Thế nào
là không định khiến họ được chánh định? Tâm không chánh
định khiến cho được chánh định. Thế nào là không giải
thoát khiến được giải thoát? Tâm không giải thoát tham dục,
sân nhuế, ngu si khiến được giải thoát. Thế nào là không
đoạn khiến đoạn? Vô minh, hữu ái không đoạn khiến đoạn.
Thế nào là không biến tri khiến biến tri? Đối với danh
sắc không biến tri khiến biến tri. Thế nào là không tu khiến
cho tu? Đối với chỉ quán không tu khiến tu. Thế nào là không
đắc khiến đắc? Đối Niết-bàn không đắc khiến đắc.
Đây gọi là chỗ Tỳ-kheo cần nỗ lực.”
Bổ-lũ-để-ca
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, ý nghĩa ấy là chỗ Tỳ-kheo cần nỗ lực. Sự kiên
cố này là chỗ Tỳ-kheo cần nỗ lực. Đó chính là tận trừ
các hữu lậu.”
Sau
khi nghe những gì Phật dạy, xuất gia ngoại đạo Bổ-lũ-đê-ca
hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
*
KINH
976. THI-BÀ (1)[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ có xuất gia ngoại đạo tên là Thi-bà[25]
đến chỗ Phật, cùng Thế Tôn chào đón thăm hỏi an úy, rồi
ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, thế nào là học? Gọi là học, vậy thế nào là
học?”
Phật
bảo Thi-bà:
“Học
những gì nên học, nên gọi là học.”
Thi-bà
bạch Phật:
“Học
những gì?”
Phật
bảo Thi-bà:
“Tùy
thời học tăng thượng giới, học tăng thượng ý, học tăng
thượng tuệ.”
Thi-bà
bạch Phật:
“Nếu
Tỳ-kheo A-la-hán nào các lậu đã tạân, những việc làm đã
xong, đã trút bỏ các gánh nặng, chóng được tự lợi, tận
trừ những kết sử của hữu, bằng chánh trí mà khéo giải
thoát, bấy giờ lại còn phải học những gì nữa?”
Phật
bảo Thi-bà:
“Nếu
Tỳ-kheo A-la-hán nào các lậu đã tận... cho đến chánh trí
khéo giải thoát, chính lúc này giác tri tham dục vĩnh viễn
sạch hết không còn và giác tri sân nhuế, ngu si vĩnh viễn
sạch hết không còn, nên không còn tạo lại các điều ác,
lúc nào cũng thực hành các điều lành. Thi-bà, đó gọi là
học những gì nên học.”
Sau
khi xuất gia ngoại đạo Thi-bà nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.
*
KINH
977. THI-BÀ (2)[26]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ xuất gia ngoại đạo Thi-bà[27] đi đến
chỗ Phật, cùng Thế Tôn thăm hỏi an úy xong, ngồi lui qua
một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, có một số xuất gia Bà-la-môn thấy như vầy, nói
như vầy: ‘Tất cả những gì được giác tri bởi con người,
tất cả những thứ ấy đều là nhân đã được tạo tác
từ trước[28]. Tu các khổ hạnh khiến cho các nghiệp quá
khứ sạch hết, không còn tạo ra nghiệp mới, đoạn các nhân
duyên, không còn các lậu trong đời vị lai. Vì các lậu đã
hết nên nghiệp hết. Vì nghiệp hết nên hết khổ. Khổ hết
nên rốt ráo biên tế của khổ.’ Nay chủ trương của Cù-đàm
là như thế nào?”
Phật
bảo Thi-bà:
“Sa-môn,
Bà-la-môn kia thật sự nói một cách mơ hồ, không suy xét,
không cân nhắc, ngu si, không khéo léo, không biện biệt. Vì
sao? Hoặc khổ khởi lên do gió mà chúng sanh giác tri, hoặc
khởi do đờm, hoặc khởi từ nước dãi, hoặc khởi từ đẳng
phần[29], hoặc do tự hại, hoặc do kẻ khác hại, hoặc do
thời tiết khí hậu. Người tự hại kia, hoặc nhổ tóc, hoặc
nhổ râu, hoặc thường đứng giơ tay, hoặc ngồi xổm trên
đất, hoặc nằm giữa tro đất, hoặc nằm trên chông gai,
hoặc nằm trên cái chày, hoặc nằm trên ván, hoặc nằm trên
đất trét phân trâu, hoặc nằm trong nước, hoặc một ngày
tắm rửa ba lần, hoặc đứng một chân, thân xoay chuyển theo
mặt trời. Họ siêng năng thực hành mọi thứ khổ như vậy.
Này Thi-bà, đó gọi là tự hại. Còn khổ do hay kẻ khác hại
là, hoặc bị người khác dùng tay, đá, dao, gậy, các thứ
hại thân. Đó gọi là kẻ khác làm hại.
“Này
Thi-bà, hoặc bị thời tiết làm hại, như mùa Đông thì thật
lạnh, mùa Xuân thì thật nóng, mùa Hạ vừa nóng vừa lạnh.
Đó là bị thời tiết hại. Những điều này thật có ở
thế gian, chẳng phải hư vọng. Này Thi-bà, thế gian có những
thực tế này như bị gió làm hại... cho đến bị thời tiết,
khí hậu làm hại. Chúng sanh kia giác tri như thật. Ông cũng
tự có những tai họa này: gió, đờm, nước dãi, thời tiết
làm hại,... cho đến biết thời tiết làm hại như vậy, được
giác tri như thật như vậy.
“Này
Thi-bà, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào nói rằng: tất cả những
gì người ta tri giác được đều là nhân đã được tạo
từ trước, thì đó là bỏ việc thực tế ở thế gian mà
nói theo sự nhận thấy hư vọng của chính mình.
“Này
Thi-bà, có năm nhân năm duyên sanh tâm ưu khổ. Những gì là
năm? Nhân bởi tham dục triền phược, duyên bởi tham dục
triền phược mà sanh tâm pháp ưu khổ. Nhân bởi sân nhuế,
thùy miên, trạo hối, nghi triền phược; duyên bởi sân nhuế,
thùy miên, trạo hối, nghi triền phược sanh tâm pháp ưu khổ.
Này Thi-bà, đó là là năm nhân, năm duyên sanh tâm ưu khổ?
“Này
Thi-bà, có năm nhân, năm duyên không sanh tâm ưu khổ. Những
gì là năm? Nhân tham dục trói buộc, duyên tham dục trói buộc
sanh tâm ưu khổ, lìa tham dục trói buộc, thì không khởi tâm
ưu khổ. Đây gọi là năm nhân, năm duyên không khởi tâm ưu
khổ, ngay hiện tại không bị thiêu đốt, không đợi thời
tiết, thông suốt những gì được thấy, duyên nơi chính mình
mà giác tri.
“Này
Thi-bà, lại có pháp hiện tại không bị thiêu đốt, không
đợi thời tiết, đó là tám Thánh đạo, chánh kiến... cho
đến chánh định.”
Lúc
nói pháp này, xuất gia ngoại đạo Thi-bà xa lìa trần cấu,
đắc pháp nhãn thanh tịnh. Thi-bà thấy pháp, đắc pháp, biết
pháp, thâm nhập pháp, lìa hồ nghi, không do người khác, vào
trong Chánh pháp luật, đắc vô sở úy, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, sửa lại y phục, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay con có thể xuất gia, thọ cụ túc, trở thành
Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp luật chăng?”
Phật
bảo Thi-bà:
“Nay
người được xuất gia…” Nói như trên,... cho đến tâm
thiện giải thoát, đắc A-la-hán.
*
KINH
978. THƯƠNG CHỦ[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Hảo y Yêm-la[31] tại thôn
Na-la. Bấy giờ tại thôn Na-la có Thương chủ [32] xuất gia
ngoại đạo, đã một trăm hai mươi tuổi, các căn suy yếu,
được các Trưởng giả, Bà-la-môn, Cư sĩ thôn Na-la tôn trọng,
cúng dường như bậc A-la-hán.
Thương
chủ xuất gia ngoại đạo kia trước đây có một người thân,
mệnh chung sanh về cõi trời. Ông ở cõi trời kia nhìn thấy
Thương chủ xuất gia ngoại đạo, nghĩ rằng: “Ta muốn đến
bảo Thương chủ xuất gia ngoại đạo đến chỗ Thế Tôn,
tu hành phạm hạnh. Sợ ông ta không nghe theo lời ta. Nay ta
nên đến đó, bằng ý luận [33] khiến cho hỏi.” Sau đó
liền hiện thân xuống thôn Na-la, đến chỗ Thương chủ xuất
gia ngoại đạo kia và nói kệ rằng:
Sao
là ác tri thức,
Hiện
tướng thiện tri thức?
Sao
là thiện tri thức,
Đồng
một thể như mình?
Vì
sao cầu đoạn dứt?
Làm
sao lìa thiêu đốt?
“Này
Tiên nhân, nếu ông đem ý luận này hỏi những người kia,
ai có thể giải rõ, nói nghĩa kia và đáp được cho ông thì
có thể theo người ấy xuất gia tu phạm hạnh.”
Thương
chủ xuất gia ngoại đạo nhận những lời mách bảo của
vị Thiên nọ, đến chỗ Phú-la-na Ca-diếp đem ý của bài
kệ này hỏi Phú-lan-na Ca-diếp. Phú-lan-na Ca-diếp còn không
thể hiểu được huống chi là có thể đáp lại.
Sau
đó Thương chủ xuất gia ngoại đạo đến chỗ Mạt-ca-lê-cù-xá-lợi
Tử, San-xà-gia-tỳ-la-chi Tử, A-kỳ-đa-chỉ-xá-khâm-ba-la, Ca-la-câu-đà
Ca-chiên-diên, Ni-càn-đà Nhã-đề Tử, đều đem ý của bài
kệ này để hỏi, tất cả đều không thể đáp.
Khi
đó Thương chủ xuất gia ngoại đạo nghĩ rằng: “Ta đem
ý luận bài kệ này hỏi các bậc Thầy xuất gia, tất cả
đều không đáp được. Nay ta lại muốn cầu xuất gia, hiện
tại ta tự có tiền của, chẳng bằng trở về nhà hưởng
thụ ngũ dục.” Lại suy nghĩ: “Nay ta hãy đến Sa-môn Cù-đàm.
Nhưng các vị Thầy Sa-môn, Bà-la-môn kỳ cựu như Phú-la-na
Ca-diếp v.v... đều không thể đáp, mà Sa-môn Cù-đàm xuất
gia tuổi trẻ, sao có thể thấu tỏ được. Nhưng ta nghe bậc
tiên túc nói: ‘Chớ khinh người xuất gia tuổi trẻ mới
học. Hoặc có Sa-môn xuất gia tuổi trẻ oai đức lớn.’
Hôm nay ta sẽ đến Sa-môn Cù-đàm, đem ý luận tâm niệm này
để hỏi.”
Bấy
giờ, Thế Tôn biết được tâm niệm của Thương chủ kia,
liền nói kệ:
Sao
là ác tri thức,
Hiện
tướng là thiện hữu?
Trong
tâm thật xấu, tởm,
Miệng
nói tôi đồng tâm,
Việc
làm không vui chung,
Biết
không phải thiện hữu.
Miệng
nói lời yêu mến,
Tâm
chẳng thật tương ưng,
Việc
làm cũng không đồng,
Bậc
tuệ nên giác tri,
Đây
là ác tri thức.
Cùng
ta đồng một thể,
Sao
là thiện tri thức?
Cùng
ta đồng một thể,
Chẳng
phải thiện hữu kia:
Buông
lung không chế ngự,
Bại
hoại, ôm nghi hoặc.
Suy
xét tìm manh mối,
An
nơi thiện tri thức,
Như
con trong lòng cha,
Không
phải kẻ bên ngoài:
Đó
là thiện tri thức.
Vì
sao cầu đoạn tận?
Sanh
vào nơi hoan hỷ,
Trong
mát, đáng khen ngợi,
Tu
tập quả phước lợi,
Trọn
tĩnh lặng, mát mẻ,
Cho
nên cầu đoạn tận.
Thế
nào là thiêu đốt?
Vị
tịch tĩnh vắng lặng,
Biết
vị viễn ly kia,
Viễn
ly ác thiêu đốt,
Nếm
được vị pháp hỷ,
Tịch
diệt lìa lửa dục,
Đó
gọi lìa thiêu đốt.
Bấy
giờ, Thương chủ xuất gia ngoại đạo tự nghĩ: “Sa-môn
Cù-đàm đã biết tâm niệm của ta.” Liền bạch Phật:
“Nay
con có được xuất gia tu phạm hạnh, thọ giới cụ túc, trở
thành Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp luật của Sa-môn Cù-đàm
chăng?”
Phật
bảo Thương chủ xuất gia ngoại đạo:
“Nay
ông có thể được xuất gia tu phạm hạnh, thọ giới cụ
túc, trở thành Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp luật.”
Sau
khi được xuất gia như vậy rồi ông tư duy... cho đến tâm
thiện giải thoát, đắc quả A-la-hán.
*
KINH
979. TU-BẠT-ĐÀ-LA [34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong rừng Sa-la song thọ, sanh địa của
dòng họ Lực sĩ, nước Câu-di-na-kiệt[35]. Bấy giờ Thế
Tôn sắp Niết-bàn, Ngài bảo Tôn giả A-nan:
“Hãy
treo giường dây giữa hai cây Sa-la, đầu hướng về Bắc.
Trong đêm nay Như Lai sẽ ở nơi Vô dư Niết-bàn, mà nhập
Bát-niết-bàn.”
Khi
ấy Tôn giả A-nan vâng lời dạy, treo giường dây giữa hai
cây Sa-la, đầu hướng về Bắc, rồi đến chỗ Phật, cúi
đầu lễ dưới chân Phật, đứng lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đã treo giường dây giữa hai cây song thọ, đầu
hướng về Bắc.”
Bấy
giờ, Thế Tôn đến nằm trên giường dây giữa hai cây, đầu
quay về hướng Bắc, nghiêng bên hông phải, hai chân chồng
lên nhau, cột niệm vào ánh sáng, chánh niệm, chánh trí.
Lúc
ấy, trong nước Câu-di-na-kiệt có xuất gia ngoại đạo tên
là Tu-bạt-đà-la[36], tuổi thọ một trăm hai mươi, tuổi già,
căn yếu, được người nước Câu-di-na-kiệt cung kính cúng
dường như A-la-hán. Xuất gia Tu-bạt-đà-la kia nghe Thế Tôn
đêm nay sẽ ở nơi Vô dư Niết-bàn mà Bát-niết-bàn, nhưng
ông nghĩ: ‘Ta có điều hoài nghi, hy vọng mà an trụ[37]. Sa-môn
Cù-đàm còn đủ sức có thể khai ngộ cho ta. Hôm nay ta nên
đến chỗ Sa-môn Cù-đàm thưa hỏi điều hoài nghi của mình’.
Ông liền ra khỏi Câu-di-na-kiệt, đi đến chỗ Thế Tôn. Trong
lúc đó Tôn giả A-nan đang đi kinh hành ngoài cổng vườn.
Tu-bạt-đà-la nói với Tôn giả A-nan:
“Tôi
nghe nói đêm nay Sa-môn Cù-đàm sẽ nhập Vô dư Niết-bàn mà
Bát-niết-bàn, tôi có điều hoài nghi, hy vọng mà an trụ.
Sa-môn Cù-đàm còn đủ sức có thể khiến cho tôi giác ngộ.
Nếu như A-nan không ngại khó nhọc, vì tôi đến thưa lại
với Cù-đàm, xin dành chút ít thì giờ rảnh để giải đáp
cho những thắc mắc của tôi.”
A-nan
đáp:
“Thế
Tôn đang rất mệt mỏi như vậy, chớ nên làm nhọc Thế Tôn!”
Qua
ba lần Tu-bạt-đà-la nài nỉ Tôn giả A-nan, Tôn giả A-nan
cũng ba lần từ chối. Tu-bạt-đà-la nói:
“Tôi
nghe các bậc xuất gia lão túc Đại sư thuở xưa nói rằng,
lâu lắm mới có Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác xuất
hiện ở thế gian này như hoa Ưu-đàm-bát, nhưng hiện tại
trong đêm nay Như Lai sẽ vào cõi Vô dư Niết-bàn mà Bát-niết-bàn.
Đối với pháp, hôm nay tôi có chút nghi, an trụ với tín tâm,
vì Sa-môn Cù-đàm còn đủ sức có thể làm cho tôi giác ngộ.
Nếu A-nan không ngại khó nhọc, vì tôi mà thưa với Sa-môn
Cù-đàm.”
A-nan
lại đáp:
“Này
Tu-bạt-đà-la, hôm nay Thế Tôn quá mệt mỏi, chớ nên làm
nhọc Thế Tôn.”
Bấy
giờ, Thế Tôn nhờ thiên nhĩ nghe những lời qua lại giữa
A-nan và Tu-bạt-đà-la, liền bảo Tôn giả A-nan:
“Đừng
ngăn xuất gia ngoại đạo Tu-bạt-đà-la. Hãy để cho vào hỏi
những điều nghi của ông ấy. Vì sao? Vì đây là lần cuối
cùng luận nghị với xuất gia ngoại đạo và đây là vị
thiện lai Tỳ-kheo Thanh văn chứng đắc sau cùng. Đó là Tu-bạt-đà-la.”
Bấy
giờ Tu-bạt-đà-la nghe Thế Tôn vì ông khai mở căn lành, thì
vui mừng vô hạn, đến chỗ Thế Tôn cùng Thế Tôn chào đón,
thăm hỏi an úy, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, phàm nhập xứ của thế gian, tức là sáu vị Tông
sư như Phú-lan-na Ca-diếp, v.v..., mỗi người tự lập tông
như vầy: ‘Đây là Sa-môn! Đây là Sa-môn!’ Thế nào, thưa
Cù-đàm, có đúng là mỗi một phái đều có tông này chăng[38]?”
Bấy
giờ Thế Tôn liền vì Tu-bạt-đa-la nói kệ:
Từ
hai mươi chín tuổi,
Xuất
gia tu thiện đạo;
Thành
đạo tới ngày nay,
Trải
qua năm mươi năm.
Tam-muội,
minh, hạnh đủ,
Thường
tu tập tịnh giới:
Lìa
chút đạo phần này,
Ngoài
đây không Sa-môn.
Phật
bảo Tu-bạt-đà-la:
“Ở
trong Chánh pháp luật, ai không được tám Chánh đạo, thì
cũng không được sơ quả Sa-môn, cũng không được đệ nhị,
đệ tam, đệ tứ quả Sa-môn. Này Tu-bạt-đà-la, ở trong Chánh
pháp luật này, ai được tám Chánh đạo thì được Sơ quả
Sa-môn, được đệ Nhị, đệ Tam, đệ Tứ quả Sa-môn. Ngoài
đây ra, ngoại đạo không có Sa-môn. Ở đây các ông ngoại
đạo kia, chỉ Sa-môn, Bà-la-môn suông mà thôi. Cho nên nay Ta
ở trong chúng, rống lên tiếng rống sư tử.”
Khi
Phật nói pháp này, xuất gia ngoại đạo Tu-bạt-đà-la lìa
xa trần cấu, được pháp nhãn tịnh. Khi ấy Tu-bạt-đà-la
thấy pháp, đắc pháp, biết pháp, nhập pháp, vượt qua các
hồ nghi, được tín tâm không do người khác, không nhờ người
độ, trong Chánh pháp luật đắc vô sở úy. Từ chỗ ngồi
đứng lên, ông sửa lại y phục, gối phải sát đất, bạch
Tôn giả A-nan:
“Tôn
giả được thiện lợi, Tôn giả có được Đại Sư, được
làm đệ tử Đại Sư, được mưa pháp của Đại Sư rưới
lên đỉnh đầu. Ngày nay nếu tôi được xuất gia thọ giới
cụ túc làm Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp luật, thì cũng sẽ
được lợi ích như vậy.”
Lúc
ấy, Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, xuất gia ngoại đạo Tu-bạt-đà-la nay cầu xin xuất
gia thọ giới cụ túc, làm Tỳ-kheo ở trong Chánh pháp luật.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tu-bạt-đà-la:
“Tỳ-kheo
này, hãy đến đây tu hành phạm hạnh.”
Ngay
lúc ấy Tôn giả Tu-bạt-đà-la liền được xuất gia thọ
giới cụ túc, trở thành Tỳ-kheo. Từ đó tư duy như vậy...
cho đến tâm thiện giải thoát, đắc A-la-hán. Khi Tôn giả
Tu-bạt-đà-la đắc A-la-hán, được an lạc giải thoát, đã
giác tri, tự nghĩ: “Ta không nỡ nhìn Phật Bát-niết-bàn,
ta sẽ Bát-niết-bàn trước.” Lúc này, Tôn giả Tu-bạt-đà-la
Bát-niết-bàn trước, sau đó Thế Tôn mới Bát-niết-bàn.
*
KINH
980. NIỆM TAM BẢO[39]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hành trong nhân gian từ nước Bạt-kỳ
đến nước Tỳ-xá-ly, trú tại giảng đường Trùng các, bên
ao Di hầu.
Bấy
giờ nước Tỳ-xá-ly có nhiều khách buôn đến nước Đát-sát-thi-la[40],
phương tiện trang nghiêm[41]. Các khách buôn nghe Thế Tôn đang
du hành trong nhân gian từ nước Bạt-kỳ đến nước Tỳ-xá-ly,
đang trú ở giảng đường Trùng các, bên ao Di hầu. Nghe xong,
họ đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi lui qua một bên. Phật vì những khách buôn nói pháp,
chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi Ngài ngồi im lặng.
Các khách buôn từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục,
đảnh lễ chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con là những khách buôn, phương tiện trang
nghiêm, muốn đi đến nước Đát-sát-thi-la. Kính xin Thế Tôn
cùng đại chúng sáng mai nhận sự cúng dường của chúng con.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Các khách buôn biết Thế
Tôn đã nhận lời cầu thỉnh, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh
lễ dưới chân Phật. Mỗi người trở về nhà mình sửa soạn
các thứ đồ ăn thức uống thơm ngon tinh khiết, xếp đặt
giường ghế, an trí nước sạch. Sáng sớm cho người đến
bạch Phật đã đến giờ. Bấy giờ, Thế Tôn cùng với đại
chúng đắp y, ôm bát đến chỗ các khách buôn, ngồi trên
chỗ ngồi đã dọn. Các khách buôn đem đồ ăn thức uống
thơm ngon, thanh khiết tự tay cúng dường. Ăn xong, rửa bát
rồi, các khách buôn đặt những cái ghế nhỏ thấp ngồi
trước đại chúng nghe Phật thuyết pháp.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các khách buôn:
“Các
ông sắp vào nơi hoang mạc, sẽ gặp nhiều khủng bố, tâm
kinh hoàng dựng đứng cả lông, lúc ấy nên niệm Như Lai sự:
‘Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác,... cho đến Phật, Thế
Tôn.’ Niệm như vậy thì mọi khủng bố đều tiêu trừ.
Lại niệm pháp sự, ‘Chánh pháp luật của Phật, được
thấy trong hiện tại[42], có thể xa lìa sự thiêu đốt, không
đợi thời tiết, được thấu suốt, được thân cận[43],
duyên vào tự mình mà giác tri[44].’ Lại niệm Tăng sự, ‘đệ
tử của Thế Tôn thiện hướng, chánh hướng... cho đến là
ruộng phước của thế gian.’ Niệm như vậy, thì mọi sự
khủng bố đều được tiêu trừ.
“Thời
quá khứ, Trời và A-tu-la đánh nhau, lúc ấy Thiên đế Thích
bảo các chúng trời:
“Trong
khi các ngươi cùng chiến đấu với bọn A-tu-la, nếu ai sanh
sợ hãi hãy niệm đến ngọn cờ của ta gọi là ngọn cờ
Chiến thắng[45]. Khi niệm đến ngọn cờ này thì khủng bố
liền tan, nếu ai không niệm đến ngọn cờ của ta, thì nên
niệm đến ngọn cờ của Thiên tử Y-xá-na[46], nếu không
niệm đến ngọn cờ của Thiên tử Y-xa-na thì nên niệm đến
ngọn cờ của Thiên tử Bà-lưu-na[47], lúc niệm đến ngọn
cờ ấy, khủng bố liền tiêu trừ.
“Cũng
vậy, các khách buôn, các ông ở nơi hoang vắng, bị khủng
bố, thì nên niệm Như Lai sự, niệm Pháp sự, niệm Tăng sự.”
Thế
Tôn vì các khách buôn Tỳ-xá-ly nói kệ tùy hỷ cúng dường:
Cúng
dường Tăng Tỳ-kheo,
Đồ
ăn uống tùy thời;
Chuyên
niệm chánh tư duy,
Chánh
tri mà hành xả.
Tịnh
vật, ruộng phước tốt,
Các
ông đều đầy đủ.
Duyên
công đức lợi này,
Lâu
dài được an vui.
Khởi
tâm mong cầu gì,
Các
lợi đều ứng ngay.
Người
vật thảy an ổn,
Đường
sá qua lại tốt;
Đêm
ngày đều an ổn,
Xa
lìa mọi điều ác.
Như
ruộng đất mầu mỡ,
Thuần
chủng hạt giống tốt;
Thường
vun tưới thấm nhuần,
Thu
hoạch không thể kể.
Tịnh
giới ruộng phước tốt,
Chủng
tử thật tốt lành;
Cùng
tùy thuận chánh hạnh,
Trọn
thành tựu diệu quả.
Cho
nên người bố thí,
Muốn
cầu đủ công đức;
Phải
hành theo trí tuệ,
Tự
nhiên đủ các quả.
Đối
Bậc Minh Hạnh Túc,
Chánh
tâm tận cung kính;
Vun
trồng các gốc lành,
Trọn
được phước lợi lớn.
Biết
thế gian như thật,
Chánh
kiến được đầy đủ;
Chánh
đạo thấy vẹn toàn,
Hoàn
toàn mà tiến lên;
Xa
lìa mọi trần cấu,
Chóng
đắc đạo Niết-bàn.
Cứu
cánh được thoát khổ,
Gọi
là đủ công đức.
Sau
khi Thế Tôn vì các khách buôn ở Tỳ-xá-ly thuyết pháp, chỉ
dạy soi sáng, làm cho an vui rồi, từ chỗ ngồi đứng dậy
mà đi.
*
KINH
981. CÂY PHƯỚN[48]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo nào ở nơi vắng vẻ, dưới bóng cây, trong nhà trống,
đôi khi bỗng khởi lên lòng sợ hãi, kinh hoàng đến độ
lông dựng lên, thì nên niệm Phật, Pháp, Tăng, nói rộng như
trước. Khi niệm đến Như Lai sự, Pháp sự, Tăng sự thì
mọi sự sợ hãi tự tiêu trừ.
“Này
các Tỳ-kheo, thời quá khứ Thích Đề-hoàn Nhân cùng đánh
nhau với A-tu-la. Lúc ấy Đế Thích nói với các vị Tam thập
tam thiên rằng: ‘Này các Nhân giả, khi chư Thiên đánh nhau
với A-tu-la, nếu có ai sanh lòng sợ hãi, kinh hoàng đến độ
lông dựng đứng lên, thì các vị nên niệm đến ngọn cờ
hàng phục quân địch của ta[49]. Khi niệm đến ngọn cờ
này, thì mọi sự sợ hãi đều tiêu trừ.’ Cũng vậy, Tỳ-kheo
nếu ở nơi vắng vẻ, dưới bóng cây, hoặc ở trong nhà trống
mà sanh lòng sợ hãi, kinh hoàng đến độ lông dựng đứng
lên, thì nên niệm Như Lai là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh
Giác... cho đến Phật, Thế Tôn. Đương lúc niệm Phật, thì
sự sợ hãi liền tiêu trừ. Vì sao? Vì Thiên đế Thích này
còn giữ lòng tham, sân, si, đối với sanh, già, bệnh, chết,
lo, buồn, khổ, não, không được giải thoát, kinh hoàng sợ
hãi bỏ chạy, mà còn dặn lại chư Thiên Tam thập tam nên
niệm đến ngọn cờ hàng phục quân địch của ông ấy. Huống
chi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đã lìa tham, sân, si,
giải thoát sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não, không
có điều sợ hãi, trốn tránh, mà không có thể khiến cho
người niệm đến Như Lai trừ hết mọi sợ hãi?”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
982. A-NAN XÁ-LỢI-PHẤT (1)[50]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong rừng An-xà-na[51] tại nước Sa-chỉ[52].
Bấy giờ Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Đối
với pháp, Ta có thể lược nói và nói rộng, nhưng người
hiểu thì khó.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Xin
Thế Tôn nói pháp, hoặc lược nói, hoặc rộng nói. Thật
sự có người hiểu pháp.”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Nếu
có chúng sanh nào ở nơi thức thân của mình và tất cả tướng
của cảnh giới bên ngoài mà không có[53] ngã, ngã sở, ngã
mạn, kết sử ràng buộc[54], cho đến ngay trong đời hiện
tại tự biết tác chứng, thành tựu và an trụ với tâm giải
thoát, tuệ giải thoát; vị ấy do ở nơi thức thân này và
tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài sẽ không có ngã,
ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, cho nên ngay trong đời
hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu và an trụ với
tâm giải thoát, tuệ giải thoát[55].
“Này
Xá-lợi-phất, Tỳ-kheo kia, ở nơi thức thân này và tất cả
tướng của cảnh giới bên ngoài, mà không có[56] kiến chấp
ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc và ngay trong hiện
tại tự biết tác chứng, thành tựu và an trụ với tâm giải
thoát, tuệ giải thoát; Tỳ-kheo ấy do ở nơi thức thân này
và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài mà không có
kiến chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, nên
ngay trong đời hiện tại tự biết tác chứng, thanh tựu an
trụ với tâm được giải thoát, tuệ giải thoát.
“Này
Xá-lợi-phất, nếu lại có Tỳ-kheo ở nơi thức thân này
và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài, mà không có
kiến chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, cùng
hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu an trụ với tâm
giải thoát, tuệ giải thoát; Tỳ-kheo ấy, do ở nơi thức
thân này và tất cả tướng của cảnh giới bên ngoài không
có kiến chấp ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc,
cho nên hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu an trụ với
tâm được giải thoát, tuệ giải thoát.
“Xá-lợi-phất,
đó gọi là Tỳ-kheo đoạn ái phược, kết sử, hiện quán
ngã mạn, rốt ráo biên tế của khổ[57].
“Xá-lợi-phất,
đối với điều này Ta có nói thêm khi giải đáp câu hỏi
của Ba-la-diên Phú-lân-ni-ca[58].
Thế
gian, xét sai biệt,
Bất
động mọi hoàn cảnh[59];
Ai
tịch tĩnh, sạch bụi,
Bứt
rễ, không hy vọng[60];
Vượt
qua biển ba hữu,
Không
còn lo già chết[61].
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả Xá-lợi-phất nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ Tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ mà
lui.
*
KINH
983. A-NAN XÁ-LỢI-PHẤT (2)[62]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-nan cũng ở trong vườn
Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ, một
mình ở chỗ vắng tư duy như vầy: “Nếu có người suy nghĩ
như vầy: ‘Ta ở nơi thức thân này và tất cả tướng của
cảnh giới bên ngoài, mà không có kiến chấp ngã, ngã sở,
ngã mạn kết sử ràng buộc. Và do ngay trong đời hiện tại
tự biết tác chứng, thành tựu an trụ với tâm được giải
thoát, tuẹâ giải thoát nào mà ở nơi thức thân này và tất
cả tướng của cảnh giới bên ngoài mà không có kiến chấp
ngã, ngã sở, ngã mạn, kết sử ràng buộc, ta sẽ ở nơi
đó mà hiện tại tự biết tác chứng, thành tựu an trụ với
tâm được giải thoát, tuệ giải thoát ấy.’”
Chiều
hôm ấy sau khi từ thiền tịnh dậy, Tôn giả A-nan đi đến
chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ dư