TẠP
A-HÀM QUYỂN 34
KINH
940. THẢO MỘC[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ[2] sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết
biên tế tối sơ[3] của khổ. Các Tỳ-kheo, ý các ông nghĩ
thế nào? Tất cả loại cỏ cây trên mặt đất này, nếu
xẻ ra làm thẻ bằng bốn ngón tay dùng để đếm cha mẹ của
các ông đã trải qua sanh tử luân hồi, thì số thẻ tre đã
hết, nhưng số cha mẹ các ông vẫn còn không hết.
“Này
các Tỳ-kheo, từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi như vậy,
mà không biết biên tế tối sơ của khổ. Cho nên các Tỳ-kheo
hãy học như vầy: ‘Hãy siêng năng tinh tấn, đoạn trừ các
hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
941. THỔ HOÀN LIỆP[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết biên
tế tối sơ của khổ. Thế nào, các Tỳ-kheo? Nếu đem hết
bùn đất nơi đại địa này vo lại thành viên như trái bà-la[5]
để đếm cha mẹ của các ông đã trải qua sanh tử luân hồi,
thì số viên đất đã hết, nhưng số cha mẹ các ông vẫn
còn không hết.
“Này
các Tỳ-kheo, từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi như vậy,
mà không biết biên tế tối sơ của khổ. Cho nên các Tỳ-kheo
nên học như vầy: ‘Hãy siêng năng tinh tấn, đoạn trừ các
hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
942. AN LẠC[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết biên
tế tối sơ của khổ. Các Tỳ-kheo, các ông thấy các chúng
sanh hưởng thụ khoái lạc an ổn, thì nên nghĩ rằng: ‘Chúng
ta mãi mãi ở trong sanh tử luân hồi, cũng đã từng hưởng
thụ khoái lạc kia, thú vui kia vô lượng.’
“Này
các Tỳ-kheo, từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi như vậy,
mà không biết biên tế tối sơ của khổ. Cho nên các Tỳ-kheo
nên học như vầy: ‘Hãy siêng năng tinh tấn, đoạn trừ các
hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
943. KHỔ NÃO[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết biên
tế tối sơ của khổ. Các Tỳ-kheo, nếu thấy các chúng sanh
chịu các khổ não, thì nên nghĩ rằng: ‘Ta từ vô thỉ sanh
tử luân hồi mãi cho đến nay, cũng đã từng chịu khổ như
vậy, đến số vô lượng.’
“Này
các Tỳ-kheo, từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi như vậy,
mà không biết biên tế tối sơ của khổ. Cho nên các Tỳ-kheo
nên học như vầy: ‘Hãy siêng năng tinh tấn, đoạn trừ các
hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy,
hoan hỷ phụng hành
*
KINH
944. KHỦNG BỐ[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết biên
tế tối sơ của khổ. Này các Tỳ-kheo, các ông thấy các
chúng sanh mà sanh lòng sợ hãi, dựng đứng chân lông; nên
nghĩ rằng: ‘Quá khứ chúng ta chắc chắn đã từng sát sanh,
đã từng làm tổn thương, đã từng làm hại, đã từng làm
ác tri thức, mãi mãi ở trong sanh tử luân hồi vô thủy, không
biết biên tế tối sơ của khổ.’
“Các
Tỳ-kheo, nên học như vầy: Hãy đoạn trừ các hữu, chớ
cho tăng trưởng.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
945. ÁI NIỆM[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử luân chuyển mãi, mà không biết biên
tế tối sơ của khổ. Các Tỳ-kheo, nếu thấy chúng sanh mà
khởi ái niệm hoan hỷ, thì nên nghĩ rằng: ‘Chúng sanh như
vậy, trong đời quá khứ chắc chắn đã từng là cha mẹ,
anh em, vợ con, quyến thuộc, thầy bạn, tri thức của chúng
ta, cứ mãi mãi luân chuyển sanh tử như vậy, không biết biên
tế tối sơ của khổ. Cho nên các Tỳ-kheo, nên học như vầy:
Hãy nỗ lực tinh cần, đoạn trừ các hữu, chớ cho tăng trưởng.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy,
hoan hỷ phụng hành
*
KINH
946. HẰNG HÀ[10]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Ba-la-môn đến chỗ
Phật, cung kính thăm hỏi, sau khi chào hỏi xong ngồi lui qua
một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, đời vị lai sẽ có bao nhiêu Đức Phật?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Phật
đời vị lai có vô lượng như số cát sông Hằng.”
Bấy
giờ, Bà-la-môn nghĩ rằng:
“Các
Đấng Chánh Đẳng Chánh Giác đời vị lai sẽ có vô lượng
như số cát sông Hằng, ta sẽ theo các Ngài tu phạm hạnh.”
Bà-la-môn
sau khi đã nghe những gì Đức Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ,
từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Trên đường về, Ba-la-môn
vừa đi vừa nghĩ: “Hôm nay ta chỉ hỏi Sa-môn Cù-đàm về
chư Phật đời vị lai chứ chưa hỏi chư Phật quá khứ.”
Liền trở lại hỏi Thế Tôn:
“Thế
nào Cù-đàm, đời quá khứ có bao nhiêu Đức Phật?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Phật
đời quá khứ cũng có vô lượng như số cát sông Hằng.”
Lúc
ấy Bà-la-môn liền nghĩ: “Chư Phật Thế Tôn trong đời quá
khứ cũng có vô lượng như số cát sông Hằng, mà ta chưa
từng thân cận. Giả sử vô lượng các Đấng Chánh Đẳng
Chánh Giác trong đời vị lai như số cát sông Hằng, cũng sẽ
không thân cận vui vầy, thì trong hiện tại ta nên ở chỗ
Sa-môn Cù-đàm tu hành phạm hạnh.” Nhân đó chắp tay bạch
Phật:
“Nguyện
xin Thế Tôn cho phép con xuất gia tu phạm hạnh trong Chánh pháp
luật.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Chấp
thuận cho ông xuất gia tu phạm hạnh, được làm Tỳ-kheo trong
Chánh pháp luật.”
Bấy
giờ, Bà-la-môn liền được xuất gia thọ cụ túc, sau khi
xuất gia một mình ở nơi thanh vắng tư duy về nguyên nhân
làm cho người thiện nam, chánh tín xuất gia học đạo, sống
không nhà,... cho đến đắc A-la-hán.
*
KINH
947. LỤY CỐT[11]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở núi Tỳ-phú-la, thành Vương xá[12]. Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
một người[13], ở trong một kiếp sanh tử luân hồi, xương
trắng chồng chất không bị mục nát, như núi Tỳ-phú-la.
Nếu vị Thánh đệ tử nào biết như thật về Thánh đế
khổ này, biết như thật về sự tập khởi của khổ này,
biết như thật về sự diệt tận của khổ này, biết như
thật về con đường đưa đến sự diệt khổ này; sau khi
vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tất đoạn trừ ba
kết: thân kiến, giới thủ và nghi. Khi đoạn trừ được
ba kết này, đắc Tu-đà-hoàn, không rơi vào pháp đường ác,
quyết định hướng thẳng Chánh giác, chỉ còn bảy lần qua
lại Trời, Người, cứu cánh thoát khổ.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Một
người, trong một kiếp,
Chồng
chất xương cốt khô;
Để
lâu không mục nát,
Như
núi Tỳ-phú-la.
Nếu
các Thánh đệ tử,
Chánh
trí thấy chân đế;
Khổ
cùng nguyên nhân khổ,
Lìa
khổ được tịch diệt.
Tu
tập tám con đường,
Hướng
thẳng đến Niết-bàn;
Chỉ
còn trải bảy lần,
Qua
lại sanh trời người.
Sạch
hết tất cả kết,
Giải
thoát bờ mé khổ.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
948. THÀNH TRÌ[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, mãi luân chuyển, không biết biên
tế tối sơ của khổ.”
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại
y phục, trịch áo vai phải, đảnh lễ Đức Phật, quỳ gối
sát đất, chắp tay bạch Phật:
“Bach
Thế Tôn, kiếp dài lâu như thế nào?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ta
có thể vì ông mà nói, nhưng ông khó mà biết được!”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Ngài
có thể nói thí dụ không?”
Phật
bảo:
“Có
thể nói. Này Tỳ-kheo, thí như thành trì bằng sắt, vuông
vức một do-tuần, từ trên xuống dưới cũng như vậy, bên
trong đầy hạt cải. Cứ một trăm năm có người lấy một
hạt cải. Số hạt cải kia có thể hết, nhưng kiếp vẫn
còn chưa hết. Cũng vậy Tỳ-kheo, kiếp kia dài lâu như vậy.
Kiếp dài cả trăm, ngàn, vạn, ức khổ lớn nối tiếp nhau,
mà xương trắng chất thành gò, máu mủ chảy thành sông, trong
các đường ác địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Tỳ-kheo, đó
gọi là từ vô thỉ sanh tử mãi luân hồi, không biết nguồn
gốc khổ. Cho nên Tỳ-kheo, nên học như vầy: ‘Đoạn trừ
các hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
949. NÚI[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, mãi luân chuyển, không biết biên
tế tối sơ của khổ.”
Bấy
giờ, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại
y phục, trịch áo vai phải, đảnh lễ Đức Phật, quỳ gối
sát đất, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, kiếp dài lâu như thế nào?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ta
có thể vì ông mà nói, nhưng ông khó biết được!”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Ngài
có thể nói thí dụ không?”
Phật
bảo:
“Có
thể nói. Này Tỳ-kheo, thí như núi đá lớn không bị vỡ,
không bị lở sụt, vuông vức một do-tuần. Nếu có người
nào dùng mảnh lụa ca-thi kiếp-bối[16], cứ một trăm năm
phủi qua một lần; phủi không ngừng nghỉ. Núi đá mòn hết,
nhưng kiếp vẫn còn chưa hết. Này Tỳ-kheo, kiếp kia dài lâu
như vậy, cả đến trăm, ngàn, vạn, ức kiếp chịu các khổ
não... cho đến các Tỳ-kheo, nên học như vầy: ‘Đoạn trừ
các hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
950. QUÁ KHỨ[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, mãi luân hồi, không biết nguồn
gốc khổ.”
Lúc
ấy, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại
y phục, trịch áo vai phải, đảnh lễ Đức Phật, quỳ gối
sát đất, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, quá khứ có bao nhiêu kiếp?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ta
có thể vì ông mà nói, nhưng ông khó mà biết được!”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Ngài
có thể nói thí dụ không?”
Phật
bảo:
“Có
thể nói. Này Tỳ-kheo, thí như có người sống tới trăm tuổi.
Buổi sáng nhớ lại ba trăm ngàn kiếp. Buổi trưa nhớ lại
ba trăm ngàn kiếp. Buổi chiều nhớ lại ba trăm ngàn kiếp.
Ngày nào cũng nhớ nghĩ đến số kiếp như vậy, cho đến
trăm tuổi mạng chung, cũng không thể nhớ được biên tế
của số kiếp. Tỳ-kheo nên biết vô lượng số kiếp quá
khứ như vậy. Vô lượng số kiếp quá khứ, mãi mãi chịu
khổ và xương chất thành núi, máu mủ chảy thành sông, trong
các đường ác địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Cũng vậy,
Tỳ-kheo từ vô thỉ sanh tử mãi luân hồi, không biết biên
tế tối sơ của khổ. Cho nên Tỳ-kheo, nên học như vầy:
‘Đoạn trừ các hữu, chớ cho tăng trưởng’.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
951. VÔ HỮU NHẤT XỨ[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, mãi luân hồi, không biết biên tế
tối sơ của khổ. Không có một nơi nào mà không sanh không
chết. Như vậy, từ vô thỉ sanh tử mãi mãi không biết biên
tế tối sơ của khổ. Cho nên Tỳ-kheo, nên học như vầy:
‘Đoạn trừ các hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
952. VÔ BẤT NHẤT XỨ[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, mãi luân hồi, không biết biên tế
tối sơ của khổ. Không có một nơi nào mà không có cha mẹ,
anh em, vợ con, quyến thuộc, thân thích, Sư trưởng. Cũng vậy,
Tỳ-kheo, từ vô thỉ sanh tử mãi mãi luân hồi không biết
biên tế tối sơ của khổ. Cho nên Tỳ-kheo, nên học như vầy:
‘Đoạn trừ các hữu, chớ cho tăng trưởng’.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
953. BONG BÓNG NƯỚC MƯA[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, mãi luân hồi, không biết biên tế
tối sơ của khổ. Thí như trời mưa lớn, bong bóng nước
thoáng sanh thoáng diệt. Cũng vậy, chúng sanh bị vô minh che
lấp, ái cột cổ mình, từ vô thỉ sanh tử, nên sự sanh,
sự chết mãi mãi luân hồi, không biết biên tế tối sơ của
khổ. Cho nên Tỳ-kheo, nên học như vầy: ‘Đoạn trừ các
hữu, chớ cho tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
954. CƠN MƯA TRÚT[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, mãi luân hồi, không biết biên tế
tối sơ của khổ. Thí như trời mưa lớn tầm tã khắp nơi,
cả Đông, Tây, Nam, Bắc không nơi nào là không mưa. Cũng như,
phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc. Trong vô
lượng quốc độ, kiếp thành, kiếp hoại giống như trời
mưa lớn, giọt mưa khắp nơi trong thiên hạ, không nơi nào
là không mưa. Cũng vậy, từ vô thỉ sanh tử luân hồi mãi
mãi, không biết biên tế tối sơ của khổ.
“Thí
như ném gậy lên không trung, hoặc đầu rơi xuống đất, hoặc
là đuôi rơi xuống đất, hoặc khoảng giữa rơi xuống đất.
Cũng vậy, từ vô thỉ sanh tử luân hồi mãi mãi, hoặc đọa
vào địa ngục, hoặc đọa vào súc sanh, hoặc đọa vào ngạ
quỷ. Sanh tử vô thỉ như vậy, luân chuyển mãi mãi. Cho nên
Tỳ-kheo, nên học như vầy: ‘Đoạn trừ các hữu, chớ cho
tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
955. NGŨ TIẾT LUÂN[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chúng
sanh từ vô thỉ sanh tử, luân hồi mãi mãi, không biết biên
tế tối sơ của khổ. Này Tỳ-kheo, thí như, hoặc có người
lăn bánh xe năm tiết, luôn luôn lăn không nghỉ. Cũng vậy,
chúng sanh lăn bánh xe vào năm đường, hoặc rơi vào đường
địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, cùng đường Trời, Người,
lúc nào cũng lăn không dừng. Cũng vậy, vô thỉ sanh tử luân
hồi mãi mãi, không biết biên tế tối sơ của khổ. Cho nên
Tỳ-kheo, nên học như vầy: ‘Đoạn trừ các hữu, chớ cho
tăng trưởng.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
956. TỲ-PHÚ-LA[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở bên núi Tỳ-phú-la, tại thành Vương xá.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tất
cả hành vô thường, tất cả hành không hằng hữu, không
an định, là pháp biến dịch. Các Tỳ-kheo, đối tất cả
hành nên sanh yểm ly, cầu vui giải thoát. Các Tỳ-kheo, vào
thời quá khứ núi Tỳ-phú-la này gọi là núi Trường trúc[24].
Chỗ dân chúng ở chung quanh núi gọi là ấp Đề-di-la[25].
Người ấp Đề-di-la sống bốn vạn tuổi. Người ấp Đề-di-la
lên đỉnh núi này, bốn ngày mới trở về. Đương thời có
Phật Ca-la-ca Tôn-đề[26] Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, xuất
hiện thế gian, thuyết pháp giáo hóa; pháp ấy, khoảng đầu,
khoảng giữa, sau cùng đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện,
thuần đầy thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, mở bày hiển
thị. Hiện tại tên núi Trường trúc cũng mất, dân chúng
ấp Đề-di-la cũng không còn, Đức Phật Như Lai kia cũng đã
vào Bát-niết-bàn. Tỳ-kheo nên biết, tất cả các hành đều
vô thường, không hằng hữu, không an định, là pháp biến
dịch, đối tất cả hành, nên tu tập yểm ly, ly dục, giải
thoát.
“Các
Tỳ-kheo, vào thời quá khứ, núi Tỳ-phú-la này gọi là Bằng-ca[27].
Lúc ấy chỗ người dân cư trú chung quanh núi gọi là ấp
A-tỳ-ca[28]. Tuổi thọ người dân lúc ấy là ba vạn tuổi.
Người A-tỳ-ca lên núi này trong vòng ba ngày mới trở về
lại. Đương thời có Phật Câu-na-hàm Mâu-ni Như Lai, Ứng
Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn, xuất hiện ở đời, diễn nói kinh pháp, khoảng
đầu, khoảng giữa, chặn sau đều thiện, nghĩa thiện, vị
thiện, thuần đầy thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, mở
bày, hiển thị. Các Tỳ-kheo, tên núi Bằng-ca kia đã mất
từ lâu, dân ấp A-tỳ-ca từ lâu cũng không còn, Đức Phật
Thế Tôn kia cũng vào Bát-niết-bàn. Cũng vậy, Tỳ-kheo, tất
cả các hành đều vô thường, không hằng hữu, không an định,
là pháp biến dịch. Tỳ-kheo các ông, nên tu tập yểm ly, cầu
vui giải thoát.
“Các
Tỳ-kheo, vào thời quá khứ, núi Tỳ-phú-la này tên là Tú-ba-la-thủ[29].
Chỗ nhân dân cư ngụ quanh núi gọi là ấp Xích mã[30]. Tuổi
thọ người dân là hai vạn tuổi. Người dân ở đây lên
đỉnh núi này trong vòng hai ngày mới về lại được. Đương
thời có Phật Ca-diếp Như Lai, Ứng Cúng... cho đến xuất
hiện ở đời, diễn nói kinh pháp, khoảng đầu, khoảng giữa,
khoảng sau đều thiện; nghĩa thiện, vị thiện, thuần đầy
thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, mở bày, hiển thị. Tỳ-kheo,
nên biết tên núi Ba-la-thủ đã mất từ lâu, dân ấp Xích
mã từ lâu cũng không còn, Đức Phật Thế Tôn kia cũng vào
Bát-niết-bàn. Cũng vậy, Tỳ-kheo, tất cả các hành đều
vô thường, không hằng hữu, không an định, là pháp biến
dịch. Cho nên Tỳ-kheo nên tu tập yểm ly, ly dục, giải thoát.
“Các
Tỳ-kheo, ngày nay núi này tên là Tỳ-phú-la. Chỗ có dân chúng
cư ngụ chung quanh núi, gọi là nước Ma-kiệt-đề. Tuổi thọ
của những người dân này là trăm tuổi, nếu khéo tự điều
hòa thì có được trăm tuổi. Người Ma-kiệt-đề lên đỉnh
núi này chỉ trong chốc lát là trở về. Nay Ta ở nơi này
được thành Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác,... cho đến
Phật, Thế Tôn, diễn nói Chánh pháp, giáo hóa khiến được
Niết-bàn tịch diệt, chánh đạo, thiện thệ giác tri.
“Tỳ-kheo
nên biết, tên núi Tỳ-phú-la này cũng sẽ tiêu ma, người
Ma-kiệt-đề cũng sẽ diệt vong. Chẳng còn bao lâu, Như Lai
sẽ vào Bát-niết-bàn.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, tất cả các hành đều vô thường, không hằng
hữu, không an định, là pháp biến dịch. Cho nên Tỳ-kheo,
nên tu tập yểm ly, ly dục, giải thoát.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Thuở
xưa núi Trường trúc,
Tên
ấp Đề-di-ca.
Tiếp
là núi Bằng-ca,
Tụ
lạc A-tỳ-ca.
Núi
Tú-ba-la-thủ,
Tên
tụ lạc Xích mã.
Nay
núi Tỳ-phú-la,
Tên
nước Ma-kiệt-đà.
Tên
núi đều hoại diệt,
Dân
chúng cũng không còn.
Chư
Phật Bát-niết-bàn,
Đã
có gì cũng mất.
Tất
cả hành vô thường,
Chúng
là pháp sanh diệt.
Có
sanh thì có diệt,
Chỉ
tịch diệt là vui.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
957. THÂN MẠNG[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ có người xuất gia họ Bà-sa[32], đến
chỗ Phật, chắp tay chào hỏi. Chào hỏi xong ngồi lui qua một
bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, con có điều muốn hỏi, Ngài có thì giờ rảnh để
trả lời cho không?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Tùy
những gì ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà nói.”
Bà-sa
xuất gia bạch Phật:
“Thế
nào, thưa Cù-đàm, có phải mệnh tức là thân không[33]?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Mệnh
tức là thân, điều này không xác định[34].”
“Thế
nào, thưa Cù-đàm, có phải là mệnh khác thân khác không?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Mệnh
khác thân khác, điều này cũng không xác định.”
Bà-sa
xuất gia bạch Phật:
“Thế
nào, thưa Cù-đàm, tôi hỏi ‘Mệnh tức thân?’ Thì được
trả lời, ‘Không xác định.’ Hỏi: ‘Mệnh khác thân khác?’
Cũng được trả lời: ‘Không xác định.’
“Sa-môn
Cù-đàm, có những điều kỳ lạ gì[35] mà khi đệ tử mệnh
chung liền được xác định rằng: ‘Người này sanh chỗ
kia. Người kia sanh chỗ nọ.’ Các đệ tử kia, khi ở nơi
này mệnh chung xả thân, liền nương theo ý sanh thân[36], sanh
vào nơi khác. Ngay lúc đó, chẳng phải là mệnh khác, thân
khác sao?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Đây
là nói về hữu dư, chứ không nói vô dư[37].”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, thế nào là hữu dư, chứ không nói vô dư?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Thí
như lửa, có hữu dư[38] thì có thể cháy, chứ không phải
không có hữu dư.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Tôi
thấy có lửa không có hữu dư mà cũng cháy.”
Phật
bảo Bà-sa:
“Thế
nào là thấy lửa không có hữu dư mà cũng cháy?”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thí
như một đống lửa lớn bị gió lốc thổi qua, làm lửa bốc
lên không trung. Đó há không phải là lửa vô dư [39] sao?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Lửa
được gió thổi bốc lên tức là hữu dư, chứ chẳng phải
vô dư.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, lửa bay trong không, sao gọi là hữu dư?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Lửa
bay trong không trung nương gió mà trụ, nương gió mà cháy.
Vì nương vào gió nên nói là hữu dư[40].”
Bà-sa
bạch Phật:
“Chúng
sanh mạng chung ở nơi này, nương ý sanh thân, vãng sanh nơi
khác, tại sao nói là hữu dư?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Chúng
sanh mạng chung ở nơi này, nương ý sanh thân, sanh nơi khác.
Ngay lúc ấy, nhân vì ái mà thủ, nhân vì ái mà trụ, nên
nói là hữu dư[41].”
Bà-sa
bạch Phật:
“Chúng
sanh vì ái lạc nên hữu dư, vì nhiễm đắm nên hữu dư. Chỉ
có Thế Tôn mới đạt vô dư này mà thành Đẳng Chánh Giác.
“Thưa
Sa-môn Cù-đàm, thế gian nhiều duyên sự, xin phép được cáo
từ!”
Phật
bảo Bà-sa:
“Ông
tự biết đúng lúc.”
Bà-sa
xuất gia nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ
ngồi đứng dậy, ra về.
*
KINH
958. MỤC-LIÊN[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cũng ở
nơi đây. Lúc ấy, có người xuất gia dòng họ Bà-sa, đến
chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cùng Tôn giả gặp nhau
thăm hỏi khích lệ nhau, rồi ngồi lui qua một bên, thưa Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên:
“Tôi
có việc muốn hỏi, Tôn giả có rảnh thì giờ để trả lời
cho không?”
Mục-kiền-liên
đáp lời Bà-sa:
“Tùy
những gì ông muốn hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Lúc
ấy, Bà-sa xuất gia hỏi Tôn giả Mục-kiền-liên:
“Nhân
gì, duyên gì mà các Sa-môn, Bà-la-môn khác, có người đến
hỏi: ‘Thế nào, Như Lai sau khi chết có còn, không còn; Như
Lai sau khi chết vừa có, vừa không; Như Lai sau khi chết chẳng
phải có, chẳng phải không có?’ họ đều tùy theo đó mà
đáp. Còn Sa-môn Cù-đàm, nếu có người đến hỏi: ‘Như
Lai sau khi chết có còn, không còn; Như Lai sau khi chết vừa
có, vừa không; Như Lai sau khi chết chẳng phải có, chẳng
phải không có?’ mà lại không xác định?”
Mục-kiền-liên
bảo Bà-sa:
“Các
Sa-môn, Bà-la-môn khác vì không biết như thật đối với sắc,
sự tập khởi sắc, sự diệt tận sắc, vị ngọt của sắc,
sự tai hại của sắc, sự xuất ly sắc, nên đối với việc
Như Lai sau chết có còn, sanh ra chấp trước; hay sau khi chết
Như Lai không còn; Như Lai sau khi chết vừa có, vừa không;
Như Lai sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải không có,
sanh khởi chấp trước. Không biết như thật đối với thọ,
tưởng, hành, thức,... sự tập khởi của thức, sự diệt
tận của thức, vị ngọt của thức, sự tai hại của thức,
sự xuất ly thức. Vì không biết như thật nên đối với
việc Như Lai sau khi chết có còn, sanh ra chấp trước; sau khi
chết không còn, sau khi chết vừa có vừa không, sau khi chết
chẳng phải có chẳng phải không có, sanh ra chấp trước.
Như Lai, biết như thật đối với sắc, biết như thật đối
với sự tập khởi của sắc, sự diệt tận của sắc, vị
ngọt của sắc, sự tai hại của sắc, sự xuất ly sắc. Vì
biết như thật nên đối với việc Như Lai sau khi chết có
còn, không chấp trước; hay sau khi chết không còn, sau khi chết
vừa có vừa không có, sau khi chết chẳng phải có chẳng phải
không có không sanh chấp trước. Và biết như thật đối với
thọ, tưởng, hành, thức,... biết như thật đối với sự
tập khởi của thức, sự diệt tận của thức, vị ngọt
của thức, sự tai hại của thức, sự xuất ly thức. Vì biết
như thật nên đối với việc Như Lai sau khi chết có còn,
không đúng; hay sau khi chết không còn, sau khi chết vừa có
vừa không có, sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không
có, cũng không đúng. Vì Như Lai là sâu xa, rộng lớn, vô lượng,
vô số, nhưng tất cả đều tịch diệt.
“Này
Bà-sa, vì nhân như vậy, duyên như vậy, các Sa-môn, Bà-la-môn
khác, nếu có người đến hỏi: ‘Như Lai sau khi chết có
còn, sau khi chết không còn, sau khi chết vừa có vừa không;
sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không có’, thì vì
họ mà ký thuyết. Cũng vì nhân như vậy, duyên như vậy, đối
Như Lai, nếu có người nào đến hỏi: ‘Như Lai sau khi chết
có còn, sau khi chết không còn, sau khi chết vừa có vừa không
có; sau khi chết chẳng phải có chẳng phải không có’, thì
không vì họ mà ký thuyết.”
Sau
khi Bà-sa xuất gia nghe những gì Tôn giả Đại Mục-kiền-liên
nói, hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
959. KỲ TAI[43]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành
Vương xá. Bấy giờ có người xuất gia dòng Bà-sa đến chỗ
Phật, chắp tay thăm hỏi; sau khi thăm hỏi xong, ngồi lui qua
một bên, bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, do nhân gì, duyên gì mà các Sa-môn, Bà-la-môn khác,
nếu có người đến hỏi… “Nói đầy đủ như trên.”
Bấy
giờ, Bà-sa xuất gia vui vẻ nói rằng:
“Lạ
thay! Thưa Cù-đàm, giữa Đại Sư và đệ tử, nghĩa đồng
nghĩa, cú đồng cú, vị đồng vị, cho đến đồng đệ nhất
nghĩa. Thưa Cù-đàm, hôm nay con có đến chỗ Đại Mục-kiền-liên,
dùng nghĩa như vậy, cú như vậy, vị như vậy mà hỏi Tôn
giả; Tôn giả cũng dùng nghĩa như vậy, cú như vậy, vị như
vậy mà trả lời cho con, như những gì mà Cù-đàm nói hôm
nay. Cho nên thưa Cù-đàm, thật là kỳ đặc, giữa Đại Sư
và đệ tử, nghĩa đồng nghĩa, cú đồng cú, vị đồng vị,
cho đến đồng đệ nhất nghĩa.”
Bấy
giờ[44], Bà-sa xuất gia có nhân duyên đến tụ lạc Na-lê[45].
Sau khi lo liệu mọi việc đã xong, đến chỗ Tôn giả Tiên-đà
Ca-chiên-diên[46], cùng nhau thăm hỏi. Sau khi thăm hỏi xong,
ngồi lui qua một bên, rồi hỏi Tiên-đà Ca-chiên-diên:
“Do
nhân gì, duyên gì mà Sa-môn Cù-đàm, nếu có người đến
hỏi: ‘Như Lai sau khi chết có còn, hay sau khi chết không còn;
sau khi chết vừa có, vừa không có; sau khi chết chẳng phải
có, chẳng phải không có’, thì không vì họ mà ký thuyết?”
Tiên-đà
Ca-chiên-diên nói với Bà-sa xuất gia:
“Bây
giờ tôi hỏi ông, cứ theo ý mà đáp cho tôi. Ý ông thế nào?
Hoặc nhân ấy, hoặc duyên ấy, mà các hành được thi thiết[47]
rằng: ‘Đây là sắc, đây là vô sắc, đây là tưởng, đây
là phi tưởng, đây là phi tưởng phi phi tưởng’. Hoặc nhân
kia, duyên kia, hành kia, hành diệt không còn, vĩnh viễn diệt
rồi, Như Lai đối với họ có ký thuyết rằng: ‘Sau khi chết
có, hay sau khi chết không có; sau khi chết vừa có, vừa không;
sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải không có’, không[48]?”
Bà-sa
xuất gia trả lời Tiên-đà Ca-chiên-diên:
“Hoặc
nhân ấy, hoặc duyên ấy, mà các hành được thi thiết rằng:
‘Đây là sắc, đây là vô sắc, đây là tưởng, đây là
phi tưởng, đây là phi tưởng phi phi tưởng’. Hoặc nhân
kia, duyên kia, hành kia, hành diệt không còn; thì làm sao Cù-đàm
đối với họ mà ký thuyết: ‘Như Lai, sau khi chết có còn,
sau khi chết không còn; sau khi chết vừa có, vừa không; sau
khi chết chẳng phải có, chẳng phải không có’?”
Tiên-đà
Ca-chiên-diên bảo Bà-sa xuất gia:
“Cho
nên vì nhân này, vì duyên này mà có người hỏi Như Lai: ‘Như
Lai, sau khi chết có còn, sau khi chết không còn; sau khi chết
vừa có, vừa không; sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải
không có’, Như Lai không vì họ mà ký thuyết.”
Bà-sa
xuất gia hỏi Tiên-đa Ca-chiên-diên:
“Ngài
làm đệ tử Sa-môn Cù-đàm đã bao lâu rồi như vậy?”
Tiên-đà
Ca-chiên-diên đáp:
“Tôi
xuất gia tu phạm hạnh trong Chánh pháp luật, mới hơn ba năm.”
Bà-sa
xuất gia nói:
“Tiên-đà
Ca-chiên-diên, nhanh thay, ngài được điều thiện lợi! Mới
xuất gia chỉ một thời gian ngắn mà đã đạt được luật
nghi về thân, miệng như vậy và lại được trí tuệ biện
tài như vậy.”
Sau
khi Bà-sa xuất gia nghe những gì Tiên-đà Ca-chiên-diên nói,
hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
960. KỲ ĐẶC[49]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành
Vương xá. Bấy giờ có xuất gia họ Bà-sa, đến chỗ Phật,
chắp tay thăm hỏi, thăm hỏi xong, ngồi lui qua một bên, bạch
Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, con có điều muốn hỏi, Ngài có rảnh giờ để giải
đáp cho không?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Tùy
theo những gì ông muốn hỏi, Ta sẽ vì ông mà nói.”
Bà-sa
xuất gia bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, vì nhân gì, duyên gì, mà có người đến hỏi: ‘Như
Lai, sau khi chết có còn, sau khi chết không còn; sau khi chết
vừa có, vừa không; sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải
không có’, Ngài không vì họ ký thuyết?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“…”
Như những gì Tiên-đà Ca-chiên-diên đã nói rộng ở trên,...
cho đến “sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải không
có.”
Bà-sa
xuất gia bạch Phật:
“Lạ
thay! Thưa Cù-đàm, giữa Đại Sư và đệ tử, nghĩa đồng
nghĩa, cú đồng cú, vị đồng vị, cho đến đồng đệ nhất
nghĩa. Thưa Cù-đàm, con có chút duyên sự đến tụ lạc Na-lợi-già
để lo liệu công việc đã xong, tạm ghé qua chỗ Sa-môn Ca-chiên-diên,
đem nghĩa như vậy, cú như vậy, vị như vậy hỏi Sa-môn Ca-chiên-diên.
Tôn giả cũng dùng nghĩa như vậy, cú như vậy, vị như vậy
để trả lời những gì con hỏi, như những gì Sa-môn Cù-đàm
nói hôm nay. Cho nên biết, thật là kỳ đặc! Giữa Thầy và
đệ tử nghĩa cú vị cả hai đều đồng.”
Sau
khi Bà-sa xuất gia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ,
từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
961. HỮU NGÃ[50]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành
Vương xá. Bấy giờ có xuất gia họ Bà-sa, đến chỗ Phật,
chắp tay thăm hỏi, thăm hỏi xong, ngồi lui qua một bên, bạch
Phật rằng:
“Thế
nào, thưa Cù-đàm, có ngã không?”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng không đáp. Ba lần hỏi như vậy, Thế
Tôn cũng ba lần không đáp.
Lúc
này, Bà-sa xuất gia thầm nghĩ: “Ta đã ba lần hỏi Sa-môn
Cù-đàm, mà không thấy trả lời, thôi ta nên trở về.”
Lúc
ấy, Tôn giả A-nan, đang cầm quạt đứng hầu sau Phật. Tôn
giả A-nan liền bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Bà-sa xuất gia kia ba lần hỏi, vì sao Thế Tôn không
đáp? Há không làm tăng ác tà kiến cho Bà-sa xuất gia kia,
rằng Sa-môn không khả năng để giải đáp những gì được
hỏi?”
Phật
bảo A-nan:
“Nếu
Ta đáp là có ngã, sẽ làm tăng tà kiến có từ trước của
kia. Nếu đáp rằng không ngã, thì sẽ làm cho nghi hoặc trước
kia, há không tăng thêm nghi hoặc sao? Nói rằng trước có ngã,
từ nay sẽ đoạn diệt. Nếu trước vốn có ngã, đó là thường
kiến; mà nay đoạn diệt, đó là đoạn kiến. Như Lai lìa
hai bên, thuyết pháp ở giữa. Nghĩa là: ‘Cái này có, nên
cái kia có; cái này khởi nên cái kia sanh. Đó là, duyên vô
minh nên có hành... cho đến sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ,
não diệt.’”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
962. KIẾN[51]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành
Vương xá. Bấy giờ có xuất gia họ Bà-sa, đến chỗ Phật,
cùng nhau thăm hỏi, thăm hỏi xong, ngồi lui qua một bên, bạch
Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, thế nào, Cù-đàm có thấy như vầy, có nói như vầy:
‘Thế gian thường, đây là chân thật, ngoài ra là hư vọng.’?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Ta
không thấy như vầy, không nói như vầy: ‘Thế gian thường,
đó là chân thật, ngoài ra là hư vọng.’?”
“Thế
nào, thưa Cù-đàm, có thấy như vầy, có nói như vầy: ‘Thế
gian vô thường, vừa thường, vừa vô thường; chẳng phải
thường, chẳng phải vô thường; có biên, không biên; vừa
biên, vừa vô biên; chẳng phải biên, chẳng phải vô biên;
mạng tức là thân; mạng khác, thân khác; Như Lai, sau khi chết
có còn, sau khi chết không còn; sau khi chết vừa có, vừa không;
sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải không’?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Ta
không thấy như vầy, không nói như vầy:... cho đến sau khi
chết chẳng phải có, chẳng phải không.”
Lúc
ấy, Bà-sa xuất gia bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, những kiến giải này có những sai lầm nào, mà đối
với tất cả những kiến giải này Ngài không ký thuyết?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Nếu
thấy như vầy: ‘Thế gian thường, đó là chân thật, ngoài
ra đều là hư vọng,’ thì đó là kiến giải điên đảo,
là kiến giải do quán sát, là kiến giải dao động, là kiến
giải cấu nhiễm, là kiến giải kết sử, là khổ, là ngại,
là não, là nhiệt, bị kiến kết trói buộc; phàm phu ngu si
không học ở đời vị lai sẽ bị sanh, già, bệnh, chết,
ưu, bi, khổ, não sanh.
“Này
Bà-sa xuất gia, nếu thấy như vầy: ‘Thế gian vô thường;
vừa thường, vừa vô thường; chẳng phải thường, chẳng
phải vô thường; có biên, không có biên; vừa biên, vừa vô
biên; chẳng phải có biên, chẳng phải không biên; là mạng
là thân; mạng khác thân khác; Như Lai, sau khi chết có còn,
sau khi chết không còn; sau khi chết vừa có vừa không; sau
khi chết chẳng phải có, chẳng phải không’, đó là đảo
kiến,... cho đến ưu, bi, khổ, não sanh.”
Bà-sa
xuất gia bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, sở kiến của Ngài thế nào?”
Phật
bảo Bà-sa xuất gia:
“Sở
kiến của Như Lai đã hoàn toàn dứt hết. Này Bà-sa xuất
gia, nhưng Như Lai thấy là thấy rằng ‘Đây là Khổ Thánh
đế; đây là Khổ tập Thánh đế, sự diệt tận của Khổ
diệt Thánh đế, đây là Khổ diệt đạo Thánh đế.’ Sau
khi biết như vậy, thấy như vậy rồi, đối với tất cả
kiến, tất cả thọ, tất cả sanh, tất cả kiến chấp về
ngã, ngã sở, ngã mạn kết sử, đều khiến cho đoạn diệt,
tịch tịnh, mát mẻ, chân thật. Đối với Tỳ-kheo giải thoát
tất cả như vậy, sanh không đúng, không sanh cũng không đúng.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, vì sao nói, sanh không đúng?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Bây
giờ, Ta hỏi ông, cứ tùy ý mà trả lời cho Ta. Này Ba-sa,
giống như có người đốt lửa trước ông, ông có thấy lửa
cháy không? Ngay đó dập tắt lửa trước ông, ông có thấy
lửa tắt không?”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, thấy như vậy.”
Phật
bảo Bà-sa:
“Nếu
có người hỏi ông: ‘Lửa vừa cháy đó, nay ở chỗ nào?
Đi về phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc?’
Nếu hỏi như vậy, ông sẽ nói thế nào?”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, nếu có người nào đến hỏi như vậy, con sẽ trả
lời như vầy: ‘Nếu có ai đốt lửa trước tôi, nhờ nhân
duyên củi, cỏ nên lửa cháy. Nếu không thêm củi, lửa tắt,
vĩnh viễn không sanh khởi trở lại được. Nói đi về phương
Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc thì không đúng.”
Phật
bảo Bà-sa:
“Ta
cũng sẽ nói như vầy: ‘Sắc đã đoạn, đã biết; thọ,
tưởng, hành, thức đã đoạn, đã biết. Đoạn tận gốc
rễ của nó như chặt đứt ngọn cây đa-la không thể sanh
lại được; đối với đời vị lai không thể sanh khởi trở
lại nữa. Nếu bảo đến phương Đông, phương Nam, Tây, Bắc
thì điều đó không đúng. Vì điều đó sâu xa, rộng lớn,
vô lượng, vô số, vĩnh viễn tịch diệt.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Con
sẽ nói thí dụ.”
Phật
bảo Bà-sa:
“Ông
biết đúng lúc.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, thí như gần thành thị hay làng xóm, có một vùng
đất mầu mỡ, mọc lên một khu rừng kiên cố. Có một cây
to lớn bền chắc. Nó sanh trưởng đã trải qua hàng ngàn năm.
Lâu ngày, cành lá rơi rụng; vỏ cây khô mục; chỉ còn gốc
cây đứng trơ trọi. Cũng vậy, thưa Cù-đàm, Pháp luật của
Như Lai lìa bỏ những thứ cành nhánh cọng lá, chỉ còn trơ
gốc không, đứng một mình kiên cố.”
Bấy
giờ, Bà-sa xuất gia nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy
hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
963. VÔ TRI[52]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành
Vương xá. Bấy giờ có xuất gia họ Bà-sa, đến chỗ Phật,
cùng Thế Tôn thăm hỏi, khích kệ xong, ngồi lui qua một bên,
bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, người kia do không biết cái gì mà thấy như vầy,
nói như vầy: ‘Thế gian thường, đấy là chân thật, ngoài
ra đều là hư vọng. Thế gian vô thường, thế gian vừa thường
vừa vô thường; thế gian chẳng phải thường, chẳng phải
vô thường; thế gian hữu biên hay thế gian vô biên; thế gian
vừa hữu biên vừa vô biên; thế gian chẳng phải hữu biên,
chẳng phải vô biên; mạng tức là thân; mạng khác, thân khác;
Như Lai, sau khi chết có còn, sau khi chết không còn; sau khi
chết vừa có, vừa không; sau khi chết chẳng phải có, chẳng
phải không’?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Vì
đối với sắc không biết, nên thấy như vầy, nói như vầy:
‘Thế gian thường, đây là chân thật, ngoài ra đều là hư
vọng... cho đến sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải
không’. Và vì đối với thọ, tưởng, hành, thức không biết
nên thấy như vầy, nói như vầy: ‘Thế gian thường, đây
là chân thật, ngoài ra đều là hư vọng... cho đến sau khi
chết chẳng phải có, chẳng phải không’.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, vì biết pháp gì mà không thấy như vầy, không nói
như vầy: ‘Thế gian thường, đây là chân thật, ngoài ra
đều là hư vọng... cho đến cho đến sau khi chết chẳng phải
có, chẳng phải không’?”
Phật
bảo Bà-sa:
“Vì
biết sắc nên không thấy như vầy, không nói như vầy: ‘Thế
gian thường, đây là chân thật, ngoài ra đều là hư vọng...
cho đến sau khi chết chẳng phải có, chẳng phải không’.
Và vì biết thọ, tưởng, hành, thức nên không thấy như vầy,
không nói như vầy: ‘Thế gian thường, đây là chân thật,
ngoài ra đều là hư vọng... cho đến sau khi chết chẳng phải
có, chẳng phải không’.”
Cũng
như không biết và biết, nên không thấy và thấy như vầy.
Cũng vậy, không nhận thức, có nhận thức; không đoạn, đoạn;
không quán, quán; không sát, sát; không giác, giác[53].
Phật
nói kinh này xong, Bà-sa xuất gia nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
964. XUẤT GIA[54]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành
Vương xá. Bấy giờ có xuất gia họ Bà-sa, đến chỗ Phật,
cùng Thế Tôn thăm hỏi, khích kệ xong, ngồi lui qua một bên,
bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, con có điều muốn hỏi, Ngài có rảnh thì giờ giải
đáp cho không?”
Bấy
giờ Thế Tôn ngồi im lặng. Bà-sa xuất gia hỏi hai, ba lần,
Phật cũng hai, ba lần ngồi im lặng. Lúc này, Bà-sa xuất gia
bạch Phật:
“Con
cùng Cù-đàm cả hai tùy thuận nhau[55]. Hôm nay có điều muốn
hỏi vì sao Ngài lại im lặng?”
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: “Bà-sa xuất gia này lúc nào cũng
chất trực, không dối trá. Những gì muốn hỏi hôm nay đều
từ không biết, chứ không phải cố ý nhiễu loạn. Ta nay,
nên dùng A-tỳ-đàm, Luật để nạp thọ ông ta.[56]” Nghĩ
xong, liền bảo Bà-sa xuất gia:
“Tùy
những gì ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà giải đáp.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Thế
nào, thưa Cù-đàm, có pháp thiện, pháp bất thiện[57] không?”
Phật
đáp:
“Có.”
Bà-sa
bạch Phật:
“Xin
Ngài vì con mà nói về pháp thiện, pháp bất thiện, khiến
cho con được hiểu.”
Phật
bảo Bà-sa: