TẠP
A-HÀM QUYỂN 33
KINH
919[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
gian có ba loại ngựa hay. Những gì là ba? Có loại ngựa có
đủ sự nhanh nhẹn, nhưng chẳng có đủ sắc, chẳng có đủ
hình thể; có loại ngựa có đủ nhanh nhẹn, có đủ sắc,
nhưng chẳng có đủ hình thể; có loại ngựa có đủ nhanh
nhẹn, có đủ sắc, cũng có đủ hình thể. Cũng vậy, ở
trong Pháp luật này có ba hàng thiện nam. Những gì là ba? Có
hàng thiện nam có đủ nhanh nhẹn, nhưng chẳng có đủ sắc,
chẳng có đủ hình thể; có hàng thiện nam có đủ nhanh nhẹn,
có đủ sắc, nhưng chẳng có đủ hình thể; có hàng thiện
nam có đủ nhanh nhẹn, có đủ sắc, có đủ hình thể.
“Thế
nào là hàng thiện nam có đủ nhanh nhẹn, nhưng chẳng có đủ
sắc, chẳng có đủ hình thể? Hàng thiện nam biết như thật
‘Đây là Khổ Thánh đế’, biết như thật ‘Đây là Khổ
tập Thánh đế’, biết như thật ‘Đây là Khổ diệt Thánh
đế’, biết như thật ‘Đây là Khổ diệt đạo Thánh đế’.
Biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục hữu lậu,
tâm giải thoát hữu hữu lậu, tâm giải thoát vô minh hữu
lậu, biết rằng ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập,
những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa’, đó gọi là có đủ nhanh nhẹn. Thế
nào là chẳng có đủ sắc? Nếu có ai hỏi về Luận, Luật[2],...
cho đến không thể vì người mà giải nói, đó gọi là chẳng
có đủ sắc. Thế nào là chẳng có đủ hình thể? Chẳng
phải tiếng tăm, đức lớn,... cho đến chẳng cảm hóa được
thuốc men các loại, đó gọi là chẳng có đủ hình thể,
hay đó cũng gọi là thiện nam có đủ nhanh nhẹn, nhưng chẳng
có đủ sắc, chẳng có đủ hình thể.
“Thế
nào là hàng thiện nam có đủ nhanh nhẹn, có đủ sắc, nhưng
chẳng có đủ hình thể? Hàng thiện nam biết như thật ‘Đây
là Khổ Thánh đế,... cho đến không còn tái sanh đời sau
nữa’, đó gọi là có đủ nhanh nhạy. Thế nào là có đủ
sắc? Nếu có ai hỏi về Luận, Luật,... cho đến có thể
vì họ quyết định giải nói, đó gọi là có đủ sắc. Thế
nào là chẳng có đủ hình thể? Chẳng phải tiếng tăm, đức
lớn,... cho đến không thể cảm hóa được thuốc men các
loại, đó gọi là hàng thiện nam có đủ nhanh nhẹn, có đủ
sắc, nhưng chẳng có đủ hình thể.
“Thế
nào là hàng thiện nam có đủ nhanh nhẹn, có đủ sắc, cũng
có đủ hình thể? Hàng thiện nam biết như thật ‘Đây là
Khổ Thánh đế,... cho đến không còn tái sanh đời sau nữa’,
đó gọi là có đủ nhanh nhẹn. Thế nào là sắc có đủ?
Hàng thiện nam nếu có ai hỏi về Luận, Luật,... cho đến
có thể vì họ quyết định giải nói, đó gọi là có đủ
sắc. Thế nào là có đủ hình thể? Hàng thiện nam tiếng
tăm, đức lớn,... cho đến thể cảm hóa thuốc men các loại,
đó gọi có đủ hình thể, hay đó gọi là hàng thiện nam
có đủ nhanh nhẹn, có đủ sắc, có đủ hình thể.”
Sau
khi Đức Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì
Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
920. TAM[3]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
gian có ba loại ngựa tốt được vua dùng để kéo xe. Những
gì là ba? Loại ngựa tốt có đủ sắc, có đủ lực, có đủ
nhanh nhẹn. Cũng vậy, ở Chánh pháp luật cũng có ba hàng thiện
nam, là nơi thế gian phụng sự, cúng dường cung kính, là ruộng
phước trên hết. Những gì là ba? Hàng thiện nam có đủ sắc,
có đủ lực, có đủ nhanh nhẹn.
“Thế
nào là có đủ sắc? Là hàng thiện nam sống an trụ tịnh
giới, luật nghi Ba-la-đề-mộc-xoa, có đầy đủ oai nghi hành
xử, thấy tội vi tế thường phát sanh lòng sợ hãi, thọ
trì học giới. Đó gọi là có đủ sắc. Thế nào là có đủ
lực? Đối với pháp ác bất thiện đã sanh khiến đoạn diệt,
phát khởi ý dục, tinh cần phương tiện, nhiếp thọ tăng
trưởng. Đối với pháp ác bất thiện chưa sanh không cho sanh
khởi, phát khởi ý dục, tinh cần phương tiện, nhiếp thọ
tăng trưởng. Đối với pháp thiện chưa sanh khiến sanh khởi,
phát khởi ý dục, tinh cần phương tiện, nhiếp thọ tăng
trưởng. Đối với pháp thiện đã sanh, an trụ không cho mất,
phát khởi ý dục, tinh cần phương tiện, nhiếp thọ tăng
trưởng. Đó gọi là có đủ lực. Thế nào là có đủ nhanh
nhẹn? Là biết như thật ‘Đây là Khổ Thánh đế’,... cho
đến đạt được A-la-hán, không còn tái sanh đời sau nữa,
đó gọi là có đủ nhanh nhẹn, hay gọi là hàng thiện nam
có đủ sắc, có đủ lực, có đủ nhanh nhẹn.”
Sau
khi Đức Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì
Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
921. TỨ[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ngựa
tốt thế gian có đủ bốn năng lực[5], nên biết chúng được
vua dùng để kéo xe. Những gì là bốn? Đó là khôn ngoan[6],
nhanh nhẹn, kham năng, thuần tánh[7]. Cũng vậy, hàng thiện
nam thành tựu bốn đức, được thế gian tôn trọng, phụng
sự cúng dường, là đám ruộng phước trên hết. Những gì
là bốn? Là thiện nam thành tựu giới thân vô học, định
thân vô học, tuệ thân vô học và giải thoát thân vô học.”
Sau
khi Đức Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì
Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
922. TIÊN ẢNH[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
gian có bốn loại ngựa tốt. Có loại ngựa tốt đóng vào
xe làm xe thăng bằng, nhìn thấy bóng roi liền chạy nhanh, biết
cách nhìn những động tác người điều khiển, nhanh chậm,
phải trái theo ý người điều khiển. Này Tỳ-kheo, đó là
cái đức thứ nhất của con ngựa tốt thế gian.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, thế gian có loại ngựa tốt không thể nhìn
bóng roi mà tự sợ hãi, nhưng nếu dùng roi gậy chạm vào
lông đuôi của nó, có thể làm cho nó sợ hãi chạy nhanh,
tùy theo ý của người điều khiển mà chạy nhanh hay chậm,
bên phải hay bên trái. Đó gọi là loại ngựa tốt thứ hai
thế gian.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, hoặc thế gian có loại ngựa tốt không thể
nhìn bóng roi hay để chạm vào lông da mới có thể theo ý
người, mà phải dùng đến roi gậy đánh nhẹ vào da thịt,
mới có thể sợ hãi chạy, theo ý người điều khiển, chạy
nhanh hay chậm, bên phải hay bên trái, này Tỳ-kheo, đó gọi
là ngựa tốt thứ ba.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, thế gian có loại ngựa tốt không thể nhìn
bóng roi và chạm vào lông da, hay đánh nhẹ vào da thịt, mà
phải dùng dùi sắt đâm vào thân, xuyên suốt qua da, đả thương
xương cốt, khi đó ngựa mới kinh hãi kéo xe, trên đường
chậm hay nhanh, phải hay trái theo ý người điều khiển, đó
gọi là loại ngựa tốt thứ tư của thế gian.
“Cũng
vậy, trong Chánh pháp luật cũng có bốn hàng thiện nam. Những
gì là bốn? Hàng thiện nam khi nghe những người nam người
nữ chòm xóm láng giềng khác bị tật bệnh khốn khổ cho
đến sắp chết; nghe vậy liền phát sanh lòng sợ hãi với
chánh tư duy, như con ngựa tốt kia chỉ cần nhìn bóng roi là
điều khiển nó được. Đó gọi là hàng thiện nam thứ nhất
ở trong Chánh pháp luật có khả năng tự điều phục.
“Lại
nữa, có hàng thiện nam không do nghe những người nam người
nữ chòm xóm láng giềng khác bị khổ vì lão bệnh tử sanh
lòng sợ hãi với chánh tư duy, nhưng phải thấy những người
nam người nữ chòm xóm láng giềng khác bị khổ vì lão bệnh
tử thì mới sanh lòng sợ hãi với chánh tư duy, như con ngựa
tốt kia cần chạm vào lông đuôi của nó, thì có thể nhanh
chóng điều phục theo ý người điều khiển. Đó gọi là
hàng thiện nam thứ hai ở trong Chánh pháp luật có khả năng
tự điều phục.
“Lại
nữa, có hàng thiện nam không do nghe, thấy những người nam
nữ chòm xóm láng giềng khác bị khổ vì lão bệnh tử mà
sanh lòng sợ hãi với chánh tư duy; nhưng vì thấy thành ấp
chòm xóm có những người quen biết, thân thuộc bị khổ vì
lão bệnh tử nên sanh lòng sợ hãi với chánh tư duy. Như con
ngựa tốt kia, phải bị roi chạm vào da thịt, sau đó mới
chịu theo ý điều phục người điều khiển, đó gọi là
hàng thiện nam ở trong Chánh pháp luật có thể tự điều
phục.
“Lại
nữa, có hàng thiện nam không do nghe thấy những người nam
nữ chòm xóm láng giềng khác và những người thân thuộc
bị khổ vì lão bệnh tử nên sanh lòng sợ hãi với chánh
tư duy; nhưng chính tự thân bị khổ vì lão bệnh tử mới
sanh lòng nhàm tởm sợ hãi với chánh tư duy. Như con ngựa
tốt kia, phải bị đâm vào da thịt thấu xương cốt, sau đó
mới chịu theo ý điều phục của người điều khiển, thì
đó gọi là hàng thiện nam thứ tư ở trong Chánh pháp luật
có thể tự điều phục.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dã dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
923. CHỈ-THI[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành
Vương xá. Bấy giờ, có người luyện ngựa tên là Chỉ-thi[10]
đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Con
coi thế gian thật là đáng khinh miệt, giống như bầy dê.
Thế Tôn! Chỉ có con mới có khả năng điều phục ngựa điên,
ngựa hoang, ngựa dữ. Con có phương pháp, chỉ cần trong giây
lát là có thể khiến cho những chứng tật của chúng hiện
ra và tùy theo tật đó mà có cách điều phục.”
Phật
bảo chủ tụ lạc luyện ngựa:
“Ông
có bao nhiêu cách để điều phục ngựa?”
Người
luyện ngựa bạch Phật:
“Có
ba cách để điều phục ngựa dữ. Những gì là ba? Một là
mềm dịu, hai là thô cứng, ba là vừa mềm dịu vừa thô cứng.”
Phật
bảo chủ tụ lạc:
“Ông
dùng ba phương cách này để điều phục ngựa, nếu không
điều phục được, thì nên làm thế nào.”
Người
luyện ngựa bạch Phật:
“Nếu
không điều phục được, thì nên giết nó. Vì sao? Vì chớ
để nó làm nhục mình.”
Người
luyện ngựa lại bạch Phật:
“Thế
Tôn là Bậc Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu[11]. Ngài đã
dùng bao nhiêu phương pháp để điều ngự trượng phu?”
Phật
bảo chủ tụ lạc:
“Ta
cũng dùng ba cách để điều phục trượng phu. Những gì là
ba? Một là một mực mềm dịu, hai là một mực thô cứng,
ba là vừa mềm dịu vừa thô cứng.”
Phật
bảo tiếp chủ tụ lạc:
“Một
mực mềm dịu là, như nói rằng: ‘Đây là thiện hành của
thân; đây là quả báo của thân thiện hành. Đây là thiện
hành của miệng, ý; đây là quả báo của miệng, ý thiện
hành. Đây gọi là trời. Đây gọi là người. Đây gọi là
sự hóa sanh nơi cõi thiện. Đây gọi là Niết-bàn’. Đó
gọi là một mực mềm dẻo.
“Một
mực thô cứng là, như nói: ‘Đây là ác hành của thân; đây
là quả báo của thân ác hành. Đây là ác hành của miệng,
ý; đây là quả báo của miệng, ý các hành. Đây gọi là
địa ngục. Đây gọi là ngạ quỷ. Đây gọi là súc sanh.
Đây gọi là ác thú. Đây gọi là đọa ác thú’. Đó là
sự giáo hóa thô cứng của Như Lai.
“Vừa
mềm dịu vừa thô cứng là có lúc thiện hành của thân; có
lúc nói quả báo của thiện hành của thân. Có lúc nói thiện
hành của miệng, ý; có lúc nói quả báo thiện hành của miệng,
ý. Có lúc nói ác hành của thân; có lúc nói quả báo ác hành
của thân. Có lúc nói ác hành của miệng, ý; có lúc nói quả
báo ác hành của miệng, ý. Như vậy gọi là trời, như vậy
gọi là người, như vậy gọi là đường lành, như vậy gọi
là Niết-bàn; như vậy gọi là địa ngục, như vậy gọi là
súc sanh, ngạ quỷ, như vậy gọi là đường ác, như vậy
gọi là đọa đường ác.’ Đó gọi là sự giáo hóa vừa
mềm dịu vừa thô cứng của Như Lai.”
Người
luyện ngựa bạch Phật:
“Thế
Tôn! Nếu dùng ba phương pháp này để điều phục chúng sanh,
nhưng nếu không điều phục được thì phải như thế nào?”
Phật
bảo chủ tụ lạc:
“Cũng
phải giết họ đi. Vì sao? Vì không nên để họ làm nhục
Ta.”
Người
luyện ngựa bạch Phật:
“Đối
với pháp của Thế Tôn, nếu sát sanh thì không thanh tịnh.
Trong pháp của Thế Tôn cũng không cho sát sanh, mà nay lại
bảo giết, vậy ý nghĩa của nó thế nào?”
Thế
Tôn bảo chủ tụ lạc:
“Đúng
vậy, đúng vậy! Trong pháp của Như Lai sát sanh là không thanh
tịnh; trong pháp của Như Lai cũng không cho sát sanh. Nhưng trong
pháp của Như Lai nếu dùng ba phương pháp để giáo dục, vẫn
không điều phục được, Ta sẽ không nói đến họ, không
dạy, không nhắc nữa. Chủ tụ lạc, ý ông thế nào? Trong
pháp Như Lai, không nói đến họ, không dạy, không nhắc nữa,
há không phải là giết sao?”
Người
luyện ngựa bạch Phật:
“Thật
vậy, bạch Thế Tôn, không nói đến họ, vĩnh viễn không
dạy, không nhắc nữa thì đích thị họ đã chết rồi! Vì
vậy cho nên, từ ngày hôm nay tôi lìa các nghiệp ác bất thiện.”
Phật
bảo chủ tụ lạc:
“Lành
thay những lời này!”
Người
chủ tụ lạc luyện ngựa Chỉ-thi nghe những gì Phật đã
dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, lễ dưới chân rồi lui.
*
KINH
924. HỮU QUÁ[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành Vương
xá. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ngựa
thế gian có tám cách thái[13]. Những gì là tám? Khi ngựa dữ
kéo xe, thì chân sau đá người, chân trước quỳ xuống đất,
đầu lúc lắc, cắn người. Đó gọi là cách thái thứ nhất
của ngựa thế gian. Lại nữa, khi ngựa dữ kéo xe, cúi đầu
xuống làm rung ách. Đó gọi là cách thái thứ hai của ngựa
dữ thế gian. Lại nữa, khi ngựa dữ thế gian kéo xe thì mang
xe xuống lề đường mà đi, hoặc làm cho xe nghiêng khiến
cho nó bị lật. Đó gọi là cách thái thứ ba. Lại nữa, khi
ngựa dữ thế gian kéo xe, ngẩng đầu lên mà chạy đi. Đó
gọi là cách thái thứ tư của ngựa dữ thế gian. Lại nữa,
khi ngựa dữ thế gian kéo xe, mới bị ít roi gậy, thì hoặc
làm cho đứt dây cương, hay bứt dàm, chạy ngang chạy dọc.
Đó gọi là cách thái thứ năm. Lại nữa, khi ngựa dữ thế
gian kéo xe, giơ hai chân trước lên làm như người đứng.
Đó là cách thái thứ sáu. Lại nữa, khi ngựa dữ thế gian
kéo xe, phải dùng roi gậy mới chịu đứng yên, không động.
Đó là cách thái thứ bảy. Lại nữa, khi ngựa dữ thế gian
kéo xe, bốn chân chụm lại, phục sát đất không chịu đứng
lên. Đó gọi là cách thái thứ tám.
“Con
người dữ[14] của thế gian cũng vậy, ở trong Chánh pháp
luật có tám điều lỗi. Những gì là tám? Hoặc Tỳ-kheo,
khi bị các vị Phạm hạnh cử tội bởi thấy, nghe, nghi; người
kia sân giận, chỉ trích trở lại người cử tội rằng: ‘Thầy
ngu si, không biết, không tốt. Người ta vừa cử tội thầy,
sao thầy lại cử tội tôi?’ Như con ngựa dữ kia hai chân
sau chõi lui, hai chân trước quỵ xuống đất, làm đứt cương,
gãy ách. Đây gọi là lỗi thứ nhất của con người trong
Chánh pháp luật.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi bị các vị phạm hạnh cử tội bởi thấy,
nghe, nghi; liền trở lại cử tội người kia, giống như ngựa
dữ cứng cổ làm gãy ách. Đây gọi là lỗi thứ hai của
con người trong Chánh pháp luật.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi bị các vị phạm hạnh cử tội bởi thấy,
nghe, nghi; nhưng không dùng lời đứng đắn đáp lại, mà nói
sang chuyện khác, hay không nhẫn, sân nhuế, kiêu mạn, che giấu,
hiềm hận, làm những chuyện vô lý, như ngựa dữ kia không
đi đường thẳng làm cho xe lật úp. Đây gọi là lỗi thứ
ba của con người trong Chánh pháp luật.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi bị các vị phạm hạnh cử tội bởi thấy,
nghe, nghi; khiến cho người kia nhớ lại, nhưng lại nói rằng:
‘Tôi chẳng nhớ’ ngang ngạnh không phục, như ngựa dữ
kia bước thụt lùi. Đây gọi là lỗi thứ tư của con người
trong Chánh pháp luật.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi bị các vị phạm hạnh cử tội bởi thấy,
nghe, nghi; bèn khinh miệt, không kể gì đến người khác, cũng
không kể gì đến chúng Tăng, tùy ý ôm y bát bỏ đi, như
ngựa dữ kia bị ăn roi gậy, bỏ chạy dọc ngang. Đây gọi
là lỗi thứ năm của con người trong Chánh pháp luật.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi bị các vị phạm hạnh cử tội bởi thấy,
nghe, nghi; họ ngồi trên giường cao tranh luận quanh co với
các Thượng tọa, như ngựa dữ kia đứng hai chân như người.
Đây gọi là lỗi thứ sáu của con người trong Chánh pháp
luật.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi bị các vị phạm hạnh cử tội bởi thấy,
nghe, nghi; họ im lặng không đáp, để xúc não đại chúng,
như ngựa dữ kia bị roi gậy vẫn trơ trơ không động. Đây
gọi là lỗi thứ bảy của con người trong Chánh pháp luật.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo khi bị các vị phạm hạnh cử tội bởi thấy,
nghe, nghi; người bị cử tội liền xả giới, tự sanh thoái
thất, đến trước cửa chùa nói rằng: ‘Ông mặc nhiên mà
sống hoan hỷ khoái lạc, tôi tự xả giới lui về,’ như
con ngựa dữ kia bốn chân chụm lại, phục sát đất không
động. Đây gọi là lỗi thứ tám của con người trong Chánh
pháp luật.
Đó
gọi là Tỳ-kheo đối trong Chánh pháp luật có tám điều lỗi
lầm của con người.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
925. BÁT CHỦNG ĐỨC[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành
Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ngựa
tốt ở thế gian thành tựu được tám đức, theo ý muốn
của người, đi đường nhiều ít[16]. Những gì là tám? Sanh
nơi quê hương của giống ngựa tốt[17]. Đó là đức thứ
nhất của ngựa tốt.
“Lại
nữa, thể tánh ôn hòa, không làm người kinh sợ[18]. Đó là
đức thứ hai của ngựa tốt.
“Lại
nữa, ngựa tốt không lựa chọn đồ ăn thức uống. Đó là
đức thứ ba của ngựa tốt.
“Lại
nữa, ngựa tốt ghê tởm chỗ nhơ không sạch, chọn đất
sạch để nằm. Đó là đức thứ tư của ngựa tốt.
“Lại
nữa, ngựa tốt luôn thể hiện tính tình thái độ nhạy cảm
trước người huấn luyện[19], Mã sư sẽ luyện tập cho nó
bỏ những thái độ này. Đó là đức thứ năm của ngựa
tốt.
“Lại
nữa, ngựa tốt khi đã đóng vào xe, sẽ không để ý những
con ngựa khác; tùy cỗ xe nặng nhẹ mà tận dụng sức lực
của mình. Đó là đức thứ sáu của ngựa tốt.
“Lại
nữa, ngựa tốt thường theo đường chánh, không đi lạc đường.
Đó là đức thứ bảy của ngựa tốt.
“Lại
nữa, ngựa tốt dù bị bệnh, hoặc già yếu vẫn gắng sức
kéo xe không chán, không mệt. Đó là đức thứ tám của ngựa
tốt.
“Cũng
vậy, trượng phu[20] trong Chánh pháp luật cũng thành tựu được
tám đức, nên biết đó là bậc Hiền sĩ[21]. Những gì là
tám? Bậc Hiền sĩ an trụ chánh giới, luật nghi Ba-la-đề-mộc-xoa[22],
có đủ oai nghi hành xử; thấy tội vi tế thường sanh lòng
sợ hãi, giữ gìn học giới. Đó là đức thứ nhất của
trượng phu trong Chánh pháp luật.
“Lại
nữa, trượng phu tính tự hiền thiện, khéo điều phục, khéo
an trụ, chẳng làm phiền, không làm sợ hãi phạm hạnh khác.
Đó là đức thứ hai của trượng phu.
“Lại
nữa, trượng phu đi khất thực, theo thứ lớp, tùy theo những
gì nhận được, dù ngon hay dở, tâm vẫn bình đẳng, không
hiềm, không đắm trước. Đó là đức thứ ba của trượng
phu.
“Lại
nữa, trượng phu sanh tâm yểm ly các nghiệp ác nơi thân, miệng,
ý, các pháp ác bất thiện, cùng các phiền não, chúng dẫn
đến thọ nhận các báo khổ nhiệt não nhiều lần; đối
với sự sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não trong đời
vị lai lại càng yểm ly. Đó là đức thứ tư của trượng
phu.
“Lại
nữa, trượng phu nếu có lỗi lầm của Sa-môn, mà quanh co,
không chân thật, hãy nhanh chóng trình lên Đại Sư và thiện
tri thức; Đại Sư thuyết pháp chắc chắn sẽ trừ dứt[23].
Đó là đức thứ năm của vị trượng phu.
“Lại
nữa, trượng phu tâm cầu học có đủ, nghĩ như vầy: ‘Giả
sử người khác có học hay không học, ta cũng phải học.
Đó là đức thứ sáu của trượng phu.
“Lại
nữa, trượng phu thực hành tám Chánh đạo, chẳng thực hành
phi đạo. Đó là đức thứ bảy của trượng phu.
“Lại
nữa, trượng phu suốt đời nỗ lực tinh cần, không chán,
không mệt. Đó là đức thứ tám của trượng phu.
“Trượng
phu thành tựu tám đức như vậy, tùy thuộc vào sự thực
hành của mình mà có thể tiến triển nhanh chóng.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
926. SẰN-ĐÀ CA-CHIÊN-DIÊN[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong tinh xá Thâm cốc tại làng Na-lê[25].
Bấy giờ Thế Tôn bảo Sằn-đà Ca-chiên-diên[26]:
“Nên
tu thiền chân thật, chớ tập thiền ngang ngạnh[27]. Như ngựa
ngang ngạnh, cột nơi cạnh máng cỏ chuồng ngựa, nó không
nghĩ: ‘Ta phải làm gì? Ta không phải làm gì?’ mà chỉ nghĩ
đến thóc và cỏ. Cũng vậy, trượng phu tu tập nhiều với
tham dục triền[28], cho nên, vị kia bằng tâm tham dục mà tư
duy, không biết như thật con đường xuất ly[29], tâm thường
rong ruỗi, tùy theo tham dục triền mà cầu chánh thọ. Đối
với sân nhuế, thụy miên, trạo hối, nghi, tuy tu tập nhiều,
cho nên, đối với đạo xuất ly không biết như thật; với
tâm bị trùm kín bởi nghi[30] mà tư duy để cầu chánh thọ.
“Này
Sằn-đà, nếu thật là ngựa thuần giống[31] thì khi cột
nơi cạnh máng cỏ chuồng ngựa, nó chẳng nghĩ đến cỏ,
nước, mà chỉ nghĩ đến việc kéo xe. Cũng vậy, trượng
phu không niệm tưởng tham dục triền mà an trụ[32], biết
như thật sự xuất ly; không với tham dục triền mà cầu chánh
thọ; cũng không bị quấn chặt bởi sân nhuế, thụy miên,
trạo hối, nghi, mà phần nhiều an trụ vào xuất ly; biết
như thật về các triền sân nhuế, thụy miên, trạo hối,
nghi; không với nghi triền mà cầu chánh thọ.
“Như
vậy, Sằn-đà, Tỳ-kheo thiền như vậy không y cứ vào đất
tu thiền, không y cứ vào nước, gió, lửa, không, thức, vô
sở hữu, phi tưởng phi phi tưởng mà tu thiền; không y cứ
vào thế giới này, không y cứ vào thế giới khác, không phải
mặt trời, mặt trăng, không phải thấy, nghe, cảm, biết,
không phải đắc, không phải cầu, không phải tùy giác[33],
không phải tùy quán mà tu thiền. Này Sằn-đà, nếu Tỳ-kheo
nào tu thiền như vậy, những Thiên chủ Y-thấp-ba-la[34], Ba-xà-ba-đề[35]
đều cung kính, chắp tay, cúi đầu, làm lễ mà nói kệ tán
thán:
Nam-mô
Đại sĩ phu!
Nam-mô
Đại sĩ phu!
Vì
tôi không thể biết,
Ngài
nương đâu mà thiền!
Bấy
giờ, Tôn giả Bạt-ca-lợi đang đứng sau Phật cầm quạt
hầu Phật. Bạt-lợi-ca liền bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo làm sao nhập thiền mà không y cứ vào đất,
nước, lửa, gió... cho đến giác quán mà tu thiền định?
Làm sao Tỳ-kheo tu thiền được những Thiên chủ Y-thấp-ba-la,
Ba-xà-ba-đề chắp tay, cung kính, cúi đầu, làm lễ và nói
kệ tán thán:
Nam-mô
Đại sĩ phu!
Nam-mô
Đại sĩ phu!
Vì
tôi không thể biết,
Ngài
nương đâu mà thiền!
Phật
bảo Tỳ-kheo Ba-lợi-ca:
“Tỳ-kheo,
đối với địa tưởng có thể điều phục địa tưởng[36],
đối với thủy, hỏa, phong tưởng, Vô lượng không nhập
xứ tưởng, Thức nhập xứ tưởng, Vô sở hữu xứ nhập
xứ tưởng, Phi tưởng phi phi tưởng nhập xứ tưởng; thế
giới này, thế giới khác, mặt trời, mặt trăng, thấy, nghe,
cảm, biết; hoặc đắc, hoặc cầu, hoặc giác, hoặc quán,
đều điều phục các tưởng kia.
“Này
Bạt-ca-lợi, Tỳ-kheo tu thiền như vậy, không y cứ vào đất,
nước, lửa, gió... cho đến không y cứ vào giác, quán để
tu thiền. Này Bat-lợi-ca, Tỳ-kheo nào tu thiền như vậy, thì
các Thiên chủ Y-thấp-bà-la, Ba-xà-ba-đề đều cung kính, chắp
tay, cúi đầu làm lễ và nói kệ tán thán:
Nam-mô
Đại sĩ phu!
Nam-mô
Đại sĩ phu!
Vì
tôi không thể biết,
Ngài
nương đâu mà thiền!
Khi
nghe Phật nói kinh này, thì Tỳ-kheo Sằn-đà Ca-chiên-diên xa
lìa trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. Tỳ-kheo Bạt-lợi-ca
không còn khởi các lậu, tâm được giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo Bạt-ca-lợi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
927. ƯU-BÀ-TẮC[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ[38].
Bấy giờ có người họ Thích, là Ma-ha-nam[39] đi đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc[40]?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Có
đủ tướng người nam, ở tại gia, sống trong sạch, tu tập
thanh bạch, nói rằng: ‘Nay, suốt đời con quy y Phật, quy
y Pháp, quy y Tăng, làm Ưu-bà-tắc. Xin chứng tri cho con!’ Đó
gọi là Ưu-bà-tắc.
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Thế
Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc có đủ tín[41]?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
lấy chánh tín đối với Như Lai làm gốc, kiên cố, khó lay
chuyển, mà các Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma, Phạm và người
thế gian không ai có thể phá hoại được. Ma-ha-nam, đó gọi
là Ưu-ba-tắc có đủ tín.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc có giới đầy đủ[42]?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
lìa bỏ sát sanh, không cho mà lấy, tà dâm, nói dối, uống
rượu, không vui thích làm những điều này nữa. Ma-ha-nam,
đó gọi là Ưu-bà-tắc có giới đầy đủ.
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc có nghe đầy đủ[43]?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
có nghe đầy đủ là, khi nghe rồi, có thể ghi giữù, có thể
tích tập. Nếu những gì Phật nói khoảng đầu, khoảng giữa,
khoảng cuối đều thiện, thiện nghĩa, thiện vị, thuần nhất
thanh tịnh, phạm hạnh trong sạch, người ấy đều có khả
năng thọ trì. Đó gọi là Ưu-bà-tắc có nghe đầy đủ.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc có thí xả đầy đủ[44]?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-ba-tắc
có thí xả đầy đủ là khi bị xan cấu trói buộc, tâm lìa
xan cấu, sống không nhà[45], tu bố thí giải thoát, tinh cần
bố thí, thường hành bố thí, ưa xả tài vật, bố thí bình
đẳng. Ma-ha-nam, đó gọi là Ưu-bà-tắc có xả đầy đủ.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc có trí tuệ đầy đủ?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
có trí tuệ đầy đủ là, biết như thật rằng ‘Đây là
Khổ’, ‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây
là Khổ diệt đạo’. Ma-ha-nam, đó gọi là Ưu-bà-tắc có
trí tuệ đầy đủ.”
Ma-ha-nam
họ Thích nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ
ngồi đứng dậy làm lễ rồi lui.
*
KINH
928. THÂM DIỆU CÔNG ĐỨC[46]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Câu-ni-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ có người họ Thích, là Ma-ha-nam cùng với năm trăm
Ưu-bà-tắc đi đến chỗ Phật đảnh lễ dưới chân Phật,
rồi ngồi lui qua một bên, bạch phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc?”
Phật
đáp:
“Ưu-bắc-tắc
là người sống trong sạch tại gia... cho đến suốt đời
quy y Tam bảo, làm Ưu-bà-tắc. Xin chứng tri cho con.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc Tu-đà-hoàn[47]?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
Tu-đà-hoàn là vị mà ba kết sử: thân kiến, giới thủ, nghi,
đã đoạn tận, đã biến tri. Ma-ha-nam, đó gọi là Ưu-bà-tắc
Tu-đà-hoàn.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc Tư-đà-hàm?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
Tư-đà-hàm là vị mà ba hạ phần kết sử đã đoạn tận,
đã biến tri; tham dục, sân nhuế, ngu si đã mỏng. Ma-ha-nam,
đó gọi là Ưu-ba-tắc Tư-đà-hàm.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc A-na-hàm?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
A-na-hàm là vị mà năm hạ phần kết sử tức thân kiến,
giới cấm thủ, nghi, tham dục, sân nhuế, đã đoạn tận,
đã biến tri. Ma-ha-nam, đó gọi là Ưu-bà-tắc A-na-hàm[48].”
Bấy
giờ, Ma-ha-nam quay nhìn năm trăm Ưu-bà-tắc nói rằng:
“Kỳ
thay các vị Ưu-bà-tắc, sống tại gia thanh bạch, lại được
công đức sâu xa như vậy!”
Khi
Ưu-bà-tắc Ma-ha-nam nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy
hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ rồi lui.
*
KINH
929. NHẤT THIẾT SỰ[49]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ, có người họ Thích, là Ma-ha-nam đến chỗ Phật,
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ưu-bà-tắc
là người sống tại gia trong sạch,... cho đến suốt đời
quy y Tam bảo, làm Ưu-bà-tắc. Xin chứng tri cho con.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao là làm thành mãn tất cả sự của Ưu-bà-tắc?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Nếu
Ưu-bà-tắc nào có tín, nhưng không có giới, đó là không
đủ, mà hãy nỗ lực tinh cần, đủ tịnh giới. Có đủ tín
và giới, nhưng không bố thí thì cũng chưa đủ; vì chưa đủ
nên phải nỗ lực tinh cần, tu tập bố thí để làm được
đủ. Tín, giới và thí đã đầy, nhưng nếu không tùy thời
đến Sa-môn để lắng nghe lãnh thọ Chánh pháp, thì vẫn chưa
đủ. Vì chưa đủ cho nên phải nỗ lực tinh cần. Tùy thời
đến chùa tháp, nhưng gặp các Sa-môn mà không một lòng lắng
nghe lãnh thọ Chánh pháp, thì vẫn chưa đủ. Tín, giới, thí
và nghe tu tập đã đầy, nhưng nghe rồi mà không ghi giữ,
thì vẫn chưa có đủ; vì không đủ nên phải nỗ lực tinh
cần. Tùy thời đến Sa-môn, chuyên tâm lắng nghe pháp, nghe
rồi thì phải khéo ghi giữ. Nếu không thể quán sát nghĩa
lý sâu xa của các pháp, thì đó chưa phải là đủ; vì không
có đủ nên phải nỗ lực tinh cần hơn, làm cho có đủ. Tín,
giới, bố thí, nghe, nghe rồi thì khéo ghi giữ, ghi giữ rồi
quán sát nghĩa lý sâu xa, mà không tùy thuận để biết hướng
đến pháp và thứ pháp[50], thì đó vẫn chưa có đủ; vì
chưa có đủ nên phải nỗ lực tinh cần. Tín, giới, bố thí,
nghe, ghi giữ, quán sát, hiểu rõ nghĩa lý sâu xa và tùy thuận
thực hành hướng đến pháp, thứ pháp. Ma-ha-nam, đó gọi
là có đủ tất cả sự của Ưu-bà-tắc.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sao là Ưu-bà-tắc hay tự an ủy mình[51], chẳng an
ủy người khác[52]?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Nếu
Ưu-bà-tắc nào có thể tự mình đứng vững trong giới nhưng
không thể khiến cho người đứng vững trong chánh giới; tự
mình giữ tịnh giới, nhưng không thể khiến cho người khác
giữ giới có đủ; tự mình làm việc bố thí, nhưng không
thể xác lập bố thí nơi người khác; tự mình đi chùa tháp,
đến gặp các Sa-môn, nhưng không thể khuyên người khác đi
chùa tháp, đến gặp Sa-môn; tự mình chuyên nghe pháp, nhưng
không thể khuyên người thích nghe Chánh pháp; nghe Chánh pháp
tự mình thọ trì, nhưng không thể khiến người khác thọ
trì Chánh pháp; tự mình có thể quán sát nghĩa lý sâu xa,
nhưng không thể khuyên người quán sát nghĩa lý sâu xa; tự
mình biết pháp sâu xa có thể tùy thuận thực hành hướng
đến pháp, thứ pháp, nhưng không thể khuyên người khiến
họ tùy thuận thực hành hướng đến pháp, thứ pháp.
Này
Ma-ha-nam, người thành tựu tám pháp như vậy, thì đó gọi
là Ưu-bà-tắc có thể tự an ủy, nhưng không thể an ủy người
khác.”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Ưu-bà-tắc thành tựu bao nhiêu pháp để tự an ủyï
và giúp người được an ủy?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Nếu
Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp, đó gọi là Ưu-bà-tắc
tự an ủy và giúp người được an ủy.”
“Những
gì là mười sáu pháp?
“Này
Ma-ha-nam, nếu Ưu-bà-tắc đủ có chánh tín và cũng xác lập
cho người khác; tự mình giữ tịnh giới, cũng xác lập tịnh
giới cho người khác; tự mình hành bố thí và dạy người
hành bố thí; tự mình đến chùa tháp gặp các Sa-môn, cũng
dạy người khác đến gặp các Sa-môn; tự mình chuyên cần
nghe pháp, cũng dạy người nghe; tự mình thọ trì pháp và
dạy người khác thọ trì; tự mình quán sát nghĩa dạy người
quán sát; tự mình biết nghĩa lý sâu xa tùy thuận tu, hành
pháp thứ, pháp hướng, cũng lại dạy người hiểu rõ nghĩa
lý sâu xa, tùy thuận tu hành hướng đến pháp, thứ pháp.
Này Ma-ha-nam, người nào thành tựu mười sáu pháp như vậy,
được gọi là Ưu-bà-tắc có thể tự an ủy và làm người
khác được an ủy.
“Này
Ma-ha-nam, nếu Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp như
vậy, thì tất cả người trong các chúng Bà-la-môn, chúng Sát-lợi,
chúng Trưởng giả, chúng Sa-môn đều đến chỗ họ. Ở trong
các chúng này, oai đức của họ sáng chói. Giống như mặt
trời, ánh sáng chiếu soi cả sáng, trưa, chiều. Cũng vậy,
Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp, thì oai đức họ
cũng tỏ rạng cả đầu, giữa và cuối. Như vậy, này Ma-ha-nam,
nếu Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp thì đó là
một điều mà thế gian khó thành tựu được.”
Phật
nói kinh này xong, Ma-ha-nam dòng họ Thích nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ rồi
lui.
*
KINH
930. TỰ KHỦNG[53]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ, Ma-ha-nam họ Thích đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nước Ca-tỳ-la-vệ này đang an ổn thịnh vượng,
nhân dân phát đạt. Mỗi khi con ra vào, người vật theo hai
bên, nào voi điên, người điên, xe điên, thường cùng đi
với chúng. Con tự sợ là mình phải cùng sống, cùng chết
với bọn điên cuồng này mà quên mất niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tỳ-kheo Tăng. Con tự nghĩ, sau khi mạng chung sẽ sanh
vào nơi nào?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Đừng
sợ hãi! Đừng sợ hãi! Sau khi mạng chung ông sẽ không sanh
đường dữ, cũng không chết dữ. Thí như cây lớn thuận
xuống, nghiêng xuống, chúi xuống, nếu chặt gốc rễ, sẽ
ngã về nơi nào?”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Về
phía thuận xuống, nghiêng xuống, chúi xuống.”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Ma-ha-nam
cũng như vậy, khi mạng chung không sanh đường dữ, cũng không
chết dữ. Vì sao? Vì ông đã lâu dài tu tập niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tỳ-kheo Tăng, nên sau khi mạng chung, thân này bị
hỏa thiêu, hay bỏ ngoài nghĩa địa, bị gió táp, nắng thiêu
lâu ngày thành tro bụi, nhưng vì tâm ý thức đã lâu dài từ
trước được huân tập bởi chánh tín, bởi tịnh giới, bố
thí, đa văn, trí tuệ, nên thần thức sẽ hướng lên cõi
an lạc, đời sau sanh về cõi trời.”
Sau
khi Ma-ha-nam nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, làm
lễ rồi lui.
*
KINH
931. TU TẬP TRỤ[54]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ, Ma-ha-nam dòng họ Thích đến chỗ Phật, cúi đầu
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu Tỳ-kheo còn ở nơi học địa mà cầu lên Niết-bàn
an ổn chưa được, bạch Thế Tôn, người ấy nên tu tập
thế nào, tu tập nhiều, để ở trong Pháp luật này được
hết các lậu, tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, ngay
trong đời này tự tri tự tác chứng, biết rằng: ‘Ta, sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã
làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau[55]’?”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Nếu
Tỳ-kheo còn nơi học địa mà cầu lên Niết-bàn an ổn chưa
được, thì Tỳ-kheo ấy lúc bấy giờ, nên tu sáu niệm,...
cho đến lên được Niết-bàn. Thí như người đói khát, thân
thể ốm yếu, được thức ăn ngon, thân thể mập mạp. Cũng
vậy Tỳ-kheo trụ nơi học địa, cầu con đường lên Niết-bàn
an ổn chưa được, nên tu sáu tùy niệm... cho đến chóng đắc
Niết-bàn an ổn.
“Những
gì là sáu niệm?
“Đối
với Phật sự, Thánh đệ tử niệm tưởng: Như Lai, Ứng Cúng,
Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật,
Thế Tôn. Thánh đệ tử lúc nhớ nghĩ như vậy không khởi
tham dục triền, không khởi tâm sân nhuế, ngu si, tâm chánh
trực, đạt nghĩa Như Lai[56] và được Chánh pháp của Như
Lai. Đối với Chánh pháp Như Lai và đối với Như Lai đạt
được tâm tùy hỷ[57]. Do tâm tùy hỷ nên hoan hỷ. Do tâm
hoan hỷ nên thân khinh an. Do thân khinh an nên được cảm giác
lạc. Do được cảm giác lạc nên tâm được định. Do tâm
đã định nên vị Thánh đệ tử này dù ở giữa những chúng
sanh hung hiểm[58] mà không bị các chướng ngại, được vào
dòng nước pháp... cho đến Niết-bàn.
“Lại
nữa, đối với Pháp sự, Thánh đệ tử niệm tưởng: Pháp
luật của Thế Tôn, ngay trong đời này[59] có thể lìa nhiệt
não sanh tử, không đợi thời tiết, thông đạt hiện pháp,
duyên tự mình mà giác tri. Thánh đệ tử niệm pháp như vậy,
không khởi tham dục, sân nhuế, ngu si... cho đến ý nhớ nghĩ
pháp được huân tập, thăng tiến Niết-bàn.
“Lại
nữa, đối với Tăng sự, Thánh đệ tử niệm tưởng: Đệ
tử Thế Tôn là những vị thiện hướng, chánh hướng, trực
hướng, thành hướng[60], hành pháp tùy thuận, có hướng Tu-đà-hoàn,
đắc Tu-đà-hoàn; hướng Tư-đà-hàm, đắc Tư-đà-hàm, hướng
A-na-hàm, đắc A-na-hàm, hướng A-la-hán, đắc A-la-hán, là
bốn đôi tám bậc Hiền thánh. Đó gọi là đệ tử Tỳ-kheo
Tăng, tịnh giới có đủ, tam-muọâi có đủ, trí tuệ có
đủ, giải thoát có đủ, giải thoát tri kiến có đủ của
Thế Tôn; đáng được tôn nghinh, thừa sự cúng dường, là
ruộng phước tốt. Thánh đệ tử khi niệm tưởng Tăng sự
như vậy thì không khởi tham dục, sân nhuế, ngu si... cho đến
niệm tưởng Tăng được huân tập, thăng tiến Niết-bàn.
“Lại
nữa, đối với Tịnh giới sự, Thánh đệ tử niệm tưởng:
Giới không hoại, giới không khuyết, giới không nhơ, giới
không tạp, giới không bị nô lệ[61], giới được khéo hộ
trì, giới được người sáng suốt ca ngợi, giới được
người trí không nhàm chán. Thánh đệ tử khi niệm tưởng
giới như vậy, không khởi tham dục, sân nhuế, ngu si... cho
đến niệm tưởng giới được huân tập, thăng tiến Niết-bàn.
“Lại
nữa, đối với Bố thí sự, Thánh đệ tử tự niệm tưởng:
Ta được lợi lộc tốt, giữa những chúng sanh xan cấu mà
ta lìa được tâm xan cấu, sống không nhà[62], thực hành bố
thí giải thoát, thường tự tay bố thí; thích pháp hành xả,
bố thí bình đẳng có đủ. Lúc Thánh đệ tử niệm tưởng
bố thí như vậy, không khởi tham dục, sân nhuế, ngu si,...
cho đến niệm tưởng bố thí được huân tập, thăng tiến
Niết-bàn.
“Lại
nữa, đối với chư Thiên, Thánh đệ tử niệm tưởng: Có
Tứ đại thiên vương, Tam thập tam thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất-đà
thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên. Nếu người nào
có lòng chánh tín, khi mệnh chung ở đây sẽ sanh lên các cõi
trời kia. Ta cũng sẽ thực hành chánh tín này. Vị kia có tịnh
giới, thí, văn, xả, tuệ đến khi mệnh chung ở đây đã
sanh lên cõi trời kia. Nay ta cũng sẽ thực hành giới, thí,
văn, xả, tuệ này. Thánh đệ tử niệm tưởng thiên như vậy,
không khởi tham dục, sân nhuế, ngu si, tâm chánh trực duyên
đến (nhớ nghĩ) chư Thiên. Thánh đệ tử kia do trực tâm
như vậy mà đạt được pháp lợi, nghĩa lợi sâu xa, được
tùy hỷ lợi ích của chư Thiên. Do tùy hỷ nên sanh hoan hỷ.
Do hoan hỷ nên thân khinh an. Do thân đã khinh an nên được
cảm giác lạc. Do được cảm giác lạc rồi nên tâm được
định. Do tâm đã định nên vị Thánh đệ tử này dù ở
giữa những chúng sanh hung hiểm cũng không bị các chướng
ngại, được vào dòng nước pháp. Vì niệm tưởng chư Thiên
được huân tập, nên thăng tiến Niết-bàn.
“Này
Ma-ha-nam, nếu Tỳ-kheo nào còn ở học địa, muốn cầu lên
Niết-bàn an lạc, mà tu tập nhiều như vậy, tất chóng được
Niết-bàn, ở trong Chánh pháp luật các lậu nhanh chóng diệt
tận, tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, ngay trong đời
này tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã lập, nhưng việc cần làm đã làm xong, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.’”
Ma-ha-nam
nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ rồi
lui.
*
KINH
932. THẬP NHẤT[63]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo tụ tập tại nhà ăn, vá y cho
Thế Tôn. Lúc ấy Thích Ma-ha-nam nghe các Tỳ-kheo tụ tập tại
nhà ăn vá y cho Thế Tôn nói rằng: ‘Không bao lâu, sau ba tháng
an cư, khi vá y xong, Thế Tôn sẽ đắp y, mang bát, du hành trong
nhân gian.’ Nghe xong, Ma-ha-nam đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thế
Tôn, cả người con bất an, bốn phương mờ mịt, pháp đã
nghe đều quên hết. Vì nghe các Tỳ-kheo tụ tập tại nhà
ăn, vá y cho Thế Tôn, nói rằng: ‘Không bao lâu, sau ba tháng
an cư, khi vá y xong, Thế Tôn sẽ đắp y, mang bát, du hành trong
nhân gian.’ Cho nên nay con suy nghĩ: ‘Lúc nào mới gặp lại
được Thế Tôn và các Tỳ-kheo quen biết?’”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Dù
có gặp, hay chẳng gặp Như Lai và có gặp, hay chẳng gặp
các Tỳ-kheo quen biết, ông chỉ cần niệm tưởng năm pháp
và tinh cần tu tập. Này Ma-ha-nam, nên lấy chánh tín làm chủ,
chứ không phải là không chánh tín; lấy giới có đủ, nghe
có đủ, thí có đủ, tuệ có đủ làm gốc, chứ không phải
là không trí tuệ.
“Cũng
vậy, Ma-ha-nam, căn cứ vào năm pháp này, tu sáu niệm xứ.
Những gì là sáu? Ma-ha-nam, niệm Như Lai, nên niệm như vầy:
Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng, Chánh Giác... cho đến Phật,
Thế Tôn. Nên niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí,
niệm Thiên sự... cho đến tự thực hành, đạt trí tuệ.
“Cũng
vậy, Ma-ha-nam, Thánh đệ tử thành tựu mười một pháp, thì
sự học trọn không bại hoại, có khả năng tri kiến, có
khả năng quyết định, trụ cửa cam lộ, gần vị giải thoát,
chứ không thể tất cả cùng lúc chóng đắc cam lộ Niết-bàn.
Ví như gà ấp trứng, năm hoặc mười trứng, tùy thời ấp
nghỉ, thương yêu bảo vệ chăm sóc; cho dù khoảng giữa lại
bỏ bê, cũng còn có thể dùng móng hoặc mỏ để mổ vỡ
trứng cho gà con chui ra. Vì sao? Vì gà mẹ lúc ban đầu đã
biết tùy thời ấp ủ hay nghỉ ngơi, khéo thương yêu bảo
vệ. Cũng vậy, Thánh đệ tử thành tựu mười một pháp,
là trụ nơi sự học trọn không bại hoại... không thể tất
cả cùng lúc chóng đắc cam lộ Niết-bàn.”
Phật
nói kinh này xong, Ma-ha-nam dòng họ Thích nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ rồi lui.
*
KINH
933. THẬP NHỊ[64]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo tụ tập tại nhà ăn để vá y
cho Thế Tôn. Lúc ấy Ma-ha-nam họ Thích nghe các Tỳ-kheo tụ
tập tại nhà ăn, vá y cho Thế Tôn nói rằng: ‘Không bao lâu,
sau ba tháng an cư khi vá y xong, Thế Tôn sẽ đắp y, mang bát
du hành trong nhân gian.’ Nghe xong, Ma-ha-nam đến chỗ Phật,
cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, cả người con bất an, bốn phương mờ mịt, trước
đây những pháp đã nghe bây giờ bỗng quên hết, vì nghe các
Tỳ-kheo tụ tập tại nhà ăn, vá y cho Thế Tôn,... cho đến
du hành trong nhân gian. Con suy nghĩ: ‘Lúc nào mới gặp lại
được Thế Tôn và các Tỳ-kheo quen biết?’”
Phật
bảo Ma-ha-nam:
“Dù
có gặp hay chẳng gặp Như Lai và có gặp, hay chẳng gặp các
Tỳ-kheo quen biết, ông lúc nào cũng vẫn phải siêng năng tu
sáu pháp. Những gì là sáu pháp? Chánh tín là gốc; giới,
thí, văn, không, tuệ là căn bản, chứ không phải không trí
tuệ. Cho nên, Ma-ha-nam, căn cứ vào sáu pháp này, mà nỗ lực
tu tập tăng thượng sáu tùy niệm: Từ niệm Như Lai sự...
cho đến niệm Thiên. Thành tựu được mười hai niệm này,
Thánh đệ tử đó giảm bớt các điều ác, không còn tăng
trưởng và bị tiêu diệt không khởi nữa; lìa trần cấu,
không tăng trần cấu; lìa bỏ không bám giữ, vì không bám
giữ nên không dính mắc; vì không dính mắc nên tự chứng
Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, nhũng
việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.”
Phật
nói kinh này xong, Ma-ha-nam dòng họ Thích nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ
rồi lui.
*
KINH
934. GIẢI THOÁT[65]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ, Ma-ha-nam họ Thích đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Theo
như những gì Phật đã dạy, con hiểu: Nhờ chánh định[66]
nên giải thoát, không thể không có chánh định. Thế nào,
bạch Thế Tôn, có phải đạt chánh định trước, sau mới
giải thoát, hay là giải thoát trước rồi sau mới đạt chánh
định? Hay chánh định và giải thoát không trước không sau,
cả hai sanh cùng lúc?”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng, Ma-ha-nam ba lần hỏi như vậy, nhưng
Phật vẫn im lặng. Lúc ấy, Tôn giả A-nan đang đứng sau Phật,
cầm quạt hầu Phật, A-nan nghĩ: ‘Ma-ha-nam họ Thích đem nghĩa
lý sâu xa hỏi Thế Tôn, nhưng Thế Tôn vừa khỏi bệnh chưa
lâu. Bây giờ ta nên nói sang chuyện khác để tiếp lời ông.’
“Này
Ma-ha-nam, bậc hữu học cũng có giới, bậc vô học cũng có
giới; bậc hữu học có tam-muội, bậc vô học cũng có tam-muội;
bậc hữu học có tuệ, bậc vô học cũng có tuệ; bậc hữu
học có giải thoát, bậc vô học cũng có giải thoát.”
Ma-ha-nam
hỏi Tôn giả A-nan:
“Thế
nào là giới của bậc hữu học? Thế nào là giới của bậc
vô học? Thế nào là tam-muội của bậc hữu học? Thế nào
là tam-muội của bậc vô học? Thế nào là tuệ của bậc
hữu học? Thế nào là tuệ của bậc vô học? Thế nào là
giải thoát của bậc hữu học? Thế nào là giải thoát của
bậc vô học?”
Tôn
giả A-nan bảo Ma-ha-nam:
“Vị
Thánh đệ tử này an trụ nơi tịnh giới, luật nghi Ba-la-đề-mộc-xoa,
oai nghi, hành xứ; thọ trì học giới; khi đã thọ trì học
giới thành tựu rồi, ly dục, pháp ác bất thiện... cho đến
chứng và an trụ Tứ thiền. Khi đã có đủ tam-muội như vậy
rồi, biết như thật ‘Đây là Thánh đế khổ’, biết như
thật ‘Đây là Thánh đế khổ tập’, biết như thật ‘Đây
là Thánh đế khổ diệt’, biết như thật ‘Đây là Thánh
đế khổ diệt đạo’. Biết như vậy, thấy như vậy rồi,
năm hạ phần kết là thân kiến, giới thủ, nghi, tham dục,
sân nhuế, được đoạn tận, được biến tri. Khi năm hạ
phần kết này đã đoạn trừ rồi, sanh lên cõi kia, đắc
Niết-bàn A-na-hàm, không sanh trở lại trong cõi này nữa. Ngay
lúc ấy họ thành tựu học giới, học tam-muội, học tuệ
và học giải thoát.
“Lại
một lúc khác, các hữu lậu sẽ hết, vô lậu giải thoát,
tuệ giải thoát, tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cầm làm đã làm xong,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Lúc bấy giờ,
vị ấy thành tựu vô học giới, vô học tam-muội, vô học
tuệ, vô học giải thoát.
“Ma-ha-nam,
đó gọi là những gì Thế Tôn nói về học giới, học tam-muội,
học tuệ, học giải thoát của bậc hữu học; vô học giới,
vô học tam-muội, vô học tuệ, vô học giải thoát của bậc
vô học là như vậy.”
Sau
khi Ma-ha-nam dòng họ Thích nghe những gì Tôn giả A-nan nói,
hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật rồi
lui.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn biết Ma-ha-nam vừa đi chưa lâu, bảo Tôn
giả A-nan:
“Họ
Thích ở Ca-tỳ-la-vệ có thể cùng các Tỳ-kheo bàn luận nghĩa
lý sâu xa chăng?”
A-nan
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, vâng, họ Thích ở Ca-tỳ-la-vệ có thể cùng bàn
luận nghĩa lý sâu xa với các Tỳ-kheo.”
Phật
bảo A-nan:
“Những
người họ Thích ở Ca-tỳ-la-vệ sẽ nhanh chóng được lợi
tốt, bằng tuệ nhãn của Hiền thánh có thể thâm nhập vào
pháp Phật sâu xa.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
935. SA-ĐÀ[67]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ có họ Thích, tên Sa-đà[68], nói với Ma-ha-nam:
“Thế
Tôn nói Tu-đà-hoàn thành tựu bao nhiêu pháp?”
Ma-ha-nam
đáp:
“Thế
Tôn nói Tu-đà-hoàn thành tựu bốn pháp. Những gì là bốn?
Đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng có lòng tin
thanh tịnh bất hoại, thành tựu Thánh giới, đó gọi là Tu-đà-hoàn
thành tựu bốn pháp.”
Sa-đà
bảo Ma-ha-nam:
“Tôn
giả chớ nói, chớ bảo rằng: ‘Thế Tôn nói Tu-đà-hoàn
thành tựu bốn pháp’, nhưng sau đó Tu-đà-hoàn chỉ thành
tựu ba pháp. Những gì là ba? Đối với Phật, đối với Pháp,
đối với Tăng có lòng tin thanh tịnh bất hoại. Như vậy,
Tu-đà-hoàn thành tựu ba pháp, ba lần nói như vậy.
“Ma-ha-nam
họ Thích, không thể khiến cho Sa-đà chấp nhận bốn pháp
và Sa-đà họ Thích cũng không thể khiến cho Ma-ha-nam chấp
nhận ba pháp. Cả hai cùng đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, Ma-ha-nam họ Thích, bạch
Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Sa-đà họ Thích lại chỗ con, hỏi: ‘Thế Tôn nói
Tu-đà-hoàn thành tựu bao nhiêu pháp?’ Con liền đáp: ‘Thế
Tôn nói Tu-đà-hoàn thành tựu bốn pháp. Những gì là bốn?
Đó là đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, có
lòng tin thanh tịnh bất hoại và thành tựu Thánh giới.’
Tu-đà-hoàn thành tựu bốn pháp như vậy. Sa-đà họ Thích
nói: ‘Ma-ha-nam họ Thích chớ nói rằng: Thế Tôn nói Tu-đà-hoàn
thành tựu bốn pháp; mà Tu-đà-hoàn thành tựu chỉ ba pháp.
Những gì là ba? Đó là đối với Phật, đối với Pháp, đối
với Tăng có lòng tin thanh tịnh bất hoại. Thế Tôn nói Tu-đà-hoàn
thành tựu ba pháp như vậy’, nói ba lần như vậy.
“Con
cũng không thể khiến cho Sa-đà họ Thích chấp nhận bốn
pháp và Sa-đà cũng không thể làm cho con chấp nhận ba pháp.
Cho nên cả hai đến chỗ Thế Tôn, nay xin hỏi Thế Tôn Tu-đà-hoàn
thành tựu bao nhiêu pháp?”
Bấy
giờ, Sa-đà họ Thích từ chỗ ngồi đứng lên lễ Phật và
chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu có những pháp tương tợ như vậy xảy ra, mà
một bên là Thế Tôn, một bên là Tỳ-kheo Tăng, thì con sẽ
theo Thế Tôn, không theo Tỳ-kheo Tăng. Hoặc có những tương
tợ như vậy xảy ra, mà một bên là Thế Tôn, một bên là
chúng Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di hoặc Trời, hoặc Ma,
Phạm, hoặc Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Người thế gian,
con cũng chỉ theo Thế Tôn, không theo các chúng khác.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Ma-ha-nam:
“Theo
Ma-ha-nam, Sa-đà họ Thích lý luận như vậy, còn ngươi thì
thế nào?”
Ma-ha-nam
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Sa-đà họ Thích lý luận như vậy, con còn biết
nói sao đây, mà con chỉ còn nói tốt, nói chân thật thôi.”
Phật
bảo Ma-ha-nam: