TẠP
A-HÀM QUYỂN 31
KINH
861. ĐÂU-SUẤT THIÊN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Bốn
trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm trên cõi trời
Đâu-suất-đà[2]. Ba mươi ngày như vậy là một tháng; mười
hai tháng là một năm. Chư Thiên Đâu-suất-đà thọ bốn ngàn
năm. Kẻ phàm phu vì ngu si không học, sau khi mạng chung ở
đó, sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đa văn Thánh
đêï tử sau khi mạng chung ở đó không sanh vào trong địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
862. HÓA LẠC THIÊN[3]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tám
trăm năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm trên cõi trời
Hóa-lạc[4]. Ba mươi ngày như vậy là một tháng; mười hai
tháng là một năm. Chư thiên Hóa lạc thọ tám ngàn tuổi.
Kẻ phàm phu vì ngu si không học, sau khi mạng chung ở đó,
sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đa văn Thánh đêï
tử sau khi mạng chung ở đó không sanh vào trong địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
863. THA HÓA TỰ TẠI THIÊN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Sáu
ngàn năm ở nhân gian bằng một ngày một đêm trên cõi trời
Tha hóa tự tại[5]. Ba mươi ngày như vậy là một tháng; mười
hai tháng là một năm. Chư Thiên Tha hóa tự tại thọ một
vạn sáu ngàn năm. Kẻ phàm phu vì ngu si không học, sau khi
mạng chung ở đó, sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Đa văn Thánh đêï tử sau khi mạng chung ở đó không sanh vào
trong địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức
Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
Phật đã nói sáu kinh; cũng vậy, Tỳ-kheo nọ hỏi sáu kinh
và Phật hỏi các Tỳ-kheo sáu kinh cũng nói như vậy.
*
KINH
864. SƠ THIỀN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo, với hành, hoặc hình, hay tướng, ly dục, ly pháp
ác bất thiện, có giác, có quán có hỷ lạc do viễn ly sanh,
chứng và an trụ Sơ thiền; vị ấy không nhớ nghĩ hành như
vậy, hình như vậy, tướng như vậy. Nhưng đối với sắc,
thọ, tưởng, hành, thức, vị ấy tư duy như là bệnh, như
ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại, là vô thường, khổ,
không, vô ngã. Đối với những pháp này mà sanh tâm nhàm chán,
sợ hãi, phòng hộ. Do nhàm chán, xa lìa, phòng hộ, bằng cửa
cam lộ mà tự làm lợi ích cho mình. Đây là tịch tĩnh, đây
là thắng diệu, tức là xả ly tất cả hữu dư[6], ái tận,
vô dục, diệt tận, Niết-bàn.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
865. GIẢI THOÁT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
đã nói ở trên, nhưng có một vài sai biệt:
“Biết
như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục hữu lậu, tâm
giải thoát hữu hữu lậu, tâm giải thoát vô minh lậu, với
giải thoát tri kiến, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã hết, phạm
hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết
không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
866. TRUNG BÁT-NIẾT-BÀN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
đã nói ở trên, nhưng có một vài sự sai biệt:
“Nếu
không được giải thoát, nhưng do pháp kia, dục pháp, niệm
pháp, lạc pháp, nên thủ Trung Bát-niết-bàn[7]; hoặc không
như vậy, thì thủ Sanh Bát-niết-bàn[8]; hoặc không như vậy,
thì thủ Hữu hành Bát-niết-bàn[9]; hoặc không như vậy, thủ
Vô hành Bát-niết-bàn[10]; hoặc không như vậy, thì Thượng
lưu Bát-niết-bàn[11]. Hoặc không như vậy, do dục pháp, niệm
pháp, lạc pháp, do công đức này mà sanh làm Đại Phạm thiên[12],
hoặc sanh về cõi Phạm phụ thiên[13], hay sanh về cõi Phạm
thân thiên[14].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
867. ĐỆ NHỊ THIỀN THIÊN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo, với hành như vậy, hình như vậy, tướng như vậy,
mà dứt hữu giác, hữu quán, bên trong thanh tịnh nhất tâm,
không giác không quán, có hỷ lạc do định sanh, chứng và
trụ đệ Nhị thiền; hoặc nhớ nghĩ không hành như vậy,
hình như vậy, tướng như vậy; mà đối với sắc, thọ, tưởng,
hành, thức tư duy như là bệnh, như là ung nhọt, như là gai
nhọn, như là sát hại, là vô thường, khổ, không, vô ngã.
Đối với những pháp này tâm sẽ sanh ra nhàm chán, xa lìa,
sợ hãi, phòng hộ. Do nhàm chán, xa lìa, phòng hộ, bằng pháp
giới cam lộ mà tự làm lợi ích cho mình. Đây là tịch tĩnh,
đây là thắng diệu, tức là xả ly tất cả hữu dư, ái tận,
vô dục, diệt tận, Niết-bàn.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
868. GIẢI THOÁT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
đã nói ở trên, nhưng có một vài sai biệt:
“Nếu
không được giải thoát, nhưng do pháp kia, dục pháp, niệm
pháp, lạc pháp, nên thủ Trung Bát-niết-bàn; hoặc không như
vậy, thì thủ Sanh Bát-niết-bàn; hoặc không như vậy, thì
thủ Hữu hành Bát-niết-bàn; hoặc không như vậy, thủ Vô
hành Bát-niết-bàn[15]; hoặc không như vậy, thì Thượng lưu
Bát-niết-bàn. Hoặc không như vậy, do dục pháp, niệm pháp,
lạc pháp, nên sanh về cõi trời Tự tánh Quang âm[16]; hoặc
không như vậy, thì sanh về cõi trời Vô lượng quang[17]; hoặc
không như vậy, thì sanh về cõi trời Thiểu quang[18].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
869. ĐỆ TAM THIỀN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo, với hành như vậy, hình như vậy, tướng như vậy,
lìa tham hỷ, an trụ xả, chánh niệm chánh trí, thân cảm giác
lạc, điều mà Thánh nhân nói là xả, với niệm, an trụ lạc,
chứng và an trú đệ Tam thiền. Nếu không như vậy, mà với
hành như vậy, hình như vậy, tướng như vậy, đối với các
pháp sắc[19], thọ, tưởng, hành, thức mà tư duy như là bệnh
tật, như là ung nhọt, như là gai nhọn, như là sát hại,…
cho đến Thượng lưu Bát-niết-bàn. Nếu không như vậy, do
dục pháp, niệm pháp, lạc pháp, nên sanh về cõi trời Biến
tịnh[20]; hoặc không như vậy, thì sanh về cõi trời Vô lượng
tịnh[21]; hoặc không như vậy, thì sanh về cõi trời Thiểu
tịnh[22].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
870. GIẢI THOÁT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo, với hành như vậy, hình như vậy, tướng như vậy
lìa khổ dứt lạc, ưu hỷ trước đã diệt, không khổ không
lạc, xả, tịnh niệm[23], nhất tâm, chứng và an trụ đệ
Tứ thiền. Nếu không nhớ nghĩ như vậy, mà đối với sắc,
thọ, tưởng, hành, thức mà tư duy như là bệnh tật, như
là ung nhọt, như là gai nhọn, như là sát hại,… cho đến
Thượng lưu Bát-niết-bàn. Nếu không như vậy, thì sanh về
cõi trời Nhân tánh Quả thật[24]; hoặc không như vậy, thì
sanh về cõi trời Phước sanh[25]; hoặc không như vậy, thì
sanh về cõi trời Thiểu phước[26].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
Tứ thiền, Bốn vô sắc định cũng được nói như vậy.
*
KINH
871. PHONG VÂN THIÊN[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
vị Phong vân thiên[28] nghĩ như vầy: ‘Hôm nay ta muốn dùng
thần lực dạo chơi.’ Khi nghĩ như vậy thì mây gió liền
nổi lên. Cũng vậy, như Phong vân thiên; Diệm điện thiên,
Lôi chấn thiên, Vũ thiên, Tình thiên, Hàn thiên, Nhiệt thiên[29]
cũng nói như vậy.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Nói
như vậy, có Tỳ-kheo hỏi Phật, Phật bảo các Tỳ-kheo, cũng
được nói như vậy.[30]
*
KINH
872. TÁN CÁI PHÚ ĐĂNG[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, vào lúc nửa đêm, trời mưa
nhỏ, có chớp lóe chiếu sáng. Phật bảo A-nan:
“Ông
hãy lấy dù che đèn mang ra ngoài.”
Tôn
giả A-nan liền vâng lời lấy dù che đèn, đi theo sau Phật.
Đến một nơi, Thế Tôn bỗng mỉm cười. Tôn giả A-nan bạch
Phật rằng:
“Thế
Tôn không khi nào cười mà không có nguyên nhân. Không rõ hôm
nay Thế Tôn vì lý do gì mà mỉm cười?”
Phật
bảo A-nan:
“Đúng
vậy, đúng vậy! Như Lai cười không phải là không có lý
do. Hôm nay khi ông cầm dù che đèn đi theo Ta, thì Ta thấy Phạm
thiên cũng lại như vậy, cầm dù che đèn đi theo sau Tỳ-kheo
Câu-lân[32]; Thích Đề-hoàn Nhân[33] cũng cầm dù che đèn đi
theo sau Ma-ha Ca-diếp; Trật-lật-đế-la-sắc-tra-la[34] Thiên
vương cũng cầm dù che đèn đi theo sau Xá-lợi-phất; Tỳ-lâu-lặc-ca[35]
Thiên vương cũng cầm dù che đèn đi theo sau Đại Mục-kiền-liên;
Tỳ-lâu-bặc-xoa[36] Thiên vương cũng cầm dù đi theo sau Ma-ha
Câu-hy-la; Tỳ-sa-môn[37] Thiên vương cũng cầm dù che đèn đi
theo sau Ma-ha Kiếp-tân-na.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
873. TỨ CHỦNG ĐIỀU PHỤC[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn chúng được điều phục thiện hảo. Những gì là bốn?
Đó là Tỳ-kheo được điều phục, Tỳ-kheo-ni được điều
phục, Ưu-bà-tắc được điều phục, Ưu-bà-di được điều
phục. Đó gọi là bốn chúng.”
Rồi
Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Nếu
biện tài[39], vô úy[40],
Đa
văn, thông đạt pháp;
Hành
pháp thứ pháp hướng[41],
Thì
đó là thiện chúng.
Tỳ-kheo
giữ tịnh giới,
Tỳ-kheo-ni
đa văn;
Ưu-bà-tắc
tịnh tín,
Ưu-bà-di
cũng vậy.
Đó
gọi là thiện chúng,
Như
mặt trời tự chiếu;
Tăng
thiện hảo cũng vậy,
Đó
là hảo trong Tăng.
Pháp
này khiến Tăng hảo[42],
Như
mặt trời tự chiếu.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
“Như
điều phục. Cũng vậy, biện tài, nhu hòa, vô úy, đa văn,
thông đạt pháp, nói pháp, pháp thứ pháp hướng, tùy thuận
pháp hành cũng nói như vậy.”[43]
*
KINH
874. TAM CHỦNG TỬ[44]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba loại con. Những gì là ba? Con tùy sanh[45], con thắng sanh[46],
con hạ sanh[47].
“Thế
nào là con tùy sanh? Cha mẹ của con không sát hại, không trộm
cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, thì
con cũng học theo không sát hại, không trộm cắp, không tà
dâm, không nói dối, không uống rượu. Đó gọi là con tùy
sanh.
“Thế
nào là con thắng sanh? Cha mẹ của con không thọ giới không
sát hại, không trộm cắp, không tà dâm không nói dối, không
uống rượu; nhưng con lại lãnh thọ giới không sát hại,
không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống
rượu. Đó gọi là người con thắng sanh.
“Thế
nào là con hạ sanh? Cha mẹ của con chịu lãnh thọ giới không
sát hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không
uống rượu; nhưng con lại không lãnh thọ giới không sát
hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không
uống rượu. Đó gọi là con hạ sanh.”
Rồi
Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Tùy
sanh và thượng sanh,
Cha
có trí đều mong.
Hạ
sanh, người không cần,
Vì
không thể kế nghiệp.
Phép
làm người của con,
Là
làm Ưu-bà-tắc;
Đối
Phật, Pháp, Tăng bảo,
Cần
tu tâm thanh tịnh.
Mây
tan ánh trăng hiện,
Vẻ
vang dòng quyến thuộc.
Sau
khi Đức Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì
Đức Phật dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
“Như
Năm giới. Cũng vậy, kinh Tín, Giới, Thí, Văn, Tuệ cũng nói
như vậy.”
*
KINH
875. TỨ CHÁNH ĐOẠN (1)[48]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn Chánh đoạn[49]. Những gì là bốn? Một là đoạn đoạn,
hai là luật nghi đoạn, ba là tùy hộ đoạn, bốn là tu đoạn[50].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
876. TỨ CHÁNH ĐOẠN (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn Chánh đoạn[51]. Những gì là bốn? Một là đoạn đoạn,
hai là luật nghi đoạn, ba là tùy hộ đoạn, bốn là tu đoạn[52].”
Sau
đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Đoạn
đoạn và luật nghi,
Tùy
hộ cùng tu tập;
Như
bốn Chánh đoạn này,
Chư
Phật đều đã dạy.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
877. TỨ CHÁNH ĐOẠN (3)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn Chánh đoạn. Những gì là bốn? Một là đoạn đoạn,
hai là luật nghi đoạn, ba là tùy hộ đoạn, bốn là tu đoạn.”
“Thế
nào là đoạn đoạn[53]? Tỳ-kheo, pháp ác bất thiện đã khởi
thì đoạn trừ, khởi dục[54], phương tiện[55], tinh cần[56],
nhiếp tâm gìn giữ[57]. Đó gọi là đoạn đoạn[58].
“Thế
nào là luật nghi đoạn[59]? Pháp ác bất thiện đã khởi thì
đoạn trừ, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm
gìn giữ. Đó gọi là luật nghi đoạn[60].
“Thế
nào là tùy hộ đoạn[61]? Pháp thiện chưa sanh thì khiến cho
sanh khởi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn
giữ. Đó gọi là tùy hộ đoạn[62].
“Thế
nào là tu đoạn[63]? Pháp thiện đã khởi, khiến tu tập thêm
ích lợi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn
giữ. Đó gọi là tu đoạn[64].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
878. TỨ CHÁNH ĐOẠN (4)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn Chánh đoạn. Những gì là bốn? Một là đoạn đoạn,
hai là luật nghi đoạn, ba là tùy hộ đoạn, bốn là tu đoạn.”
“Thế
nào là đoạn đoạn? Tỳ-kheo, pháp ác bất thiện đã khởi
thì đoạn trừ, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp
tâm gìn giữ. Đó gọi là đoạn đoạn.
“Thế
nào là luật nghi đoạn? Pháp ác bất thiện đã khởi thì
đoạn trừ, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm
gìn giữ. Đó gọi là luật nghi đoạn.
“Thế
nào là tùy hộ đoạn? Pháp thiẹân chưa sanh thì khiến cho
sanh khởi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn
giữ. Đó gọi là tùy hộ đoạn.
“Thế
nào là tu đoạn? Pháp thiện đã khởi, khiến tu tập thêm
ích lợi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn
giữ. Đó gọi là tu đoạn.”
Sau
đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Đoạn
đoạn và luật nghi,
Tùy
hộ cùng tu tập;
Như
bốn Chánh đoạn này,
Chư
Phật đều đã dạy.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
879. TỨ CHÁNH ĐOẠN (5)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn Chánh đoạn. Những gì là bốn? Một là đoạn đoạn,
hai là luật nghi đoạn, ba là tùy hộ đoạn, bốn là tu đoạn.”
“Thế
nào là đoạn đoạn? Tỳ-kheo, pháp ác bất thiện đã khởi
thì đoạn trừ, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp
tâm gìn giữ; pháp ác bất thiện chưa khởi, thì không cho
khởi, khởi dục, phương tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn giữ;
pháp thiện chưa sanh, thì khiến cho sanh khởi, khởi dục, phương
tiện, tinh cần, nhiếp tâm gìn giữ; pháp thiện đã sanh, thì
khiến cho tu tập thêm lợi ích, khởi dục, phương tiện, tinh
cần, nhiếp tâm gìn giữ. Đó gọi là đoạn đoạn.
“Thế
nào là luật nghi đoạn? Tỳ-kheo khéo phòng hộ căn con mắt,
giữ kín chặt, chế ngự, tiến hướng. Cũng vậy, đối với
các căn tai, mũi, lưỡi, thân, ý, khéo phòng hộ, giữ kín
chặt, chế ngự, tiến hướng. Đó gọi là luật nghi đoạn[65].
“Thế
nào là tùy hộ đoạn? Tỳ-kheo đối với mỗi một tướng
tam-muội chân thật, như tướng xanh bầm, tướng sình chướng,
tướng mưng mủ, tướng hoại, tướng thú ăn chưa sạch mà
khéo bảo vệ hộ trì, tu tập, giữ gìn, không khiến cho sút
giảm. Đó gọi là tùy hộ đoạn[66].
“Thế
nào là tu đoạn? Tỳ-kheo nào tu tập bốn Niệm xứ, thì đó
gọi là tu đoạn[67].”
Sau
đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Đoạn
đoạn, luật nghi đoạn,
Tùy
hộ, tu tập đoạn;
Bốn
thứ chánh đoạn này,
Những
gì Chánh Giác nói.
Tỳ-kheo
siêng phương tiện,
Các
lậu sẽ sạch hết.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
“Như
bốn Niệm xứ. Cũng vậy, bốn Chánh đoạn, bốn Như ý túc,
năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, Tám đạo chi, Bốn đạo,
Bốn pháp cú, Chánh quán tu tập cũng nói như vậy.”[68]
*
KINH
880. BẤT PHÓNG DẬT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí
như có người tạo dựng công trình nơi thế gian, tất cả
đều y cứ vào đất. Cũng vậy, Tỳ-kheo tu tập pháp thiền,
tất cả cũng đều y cứ vào không buông lung để làm căn
bản, lấy không buông lung[69] làm tập khởi, lấy không buông
lung làm sanh khởi, lấy không buông lung làm chuyển khởi. Tỳ-kheo
nào không buông lung thì có khả năng tu tập bốn thiền.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
881. ĐOẠN TAM
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
đã nói ở trên, nhưng có một vài sai biệt.
“Tỳ-kheo
như vậy có khả năng đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
“Như
đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si. Cũng vậy, điều phục tham
dục, sân nhuế, ngu si và sự rốt ráo đoạn tham dục, rốt
ráo đoạn sân nhuế, ngu si, xuất yếu, viễn ly, Niết-bàn
cũng nói như vậy.”[70]
*
KINH
882. BẤT PHÓNG DẬT CĂN BẢN[71]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí
như trăm thứ cây, cỏ, thảo dược đều nương vào đất
mà được sanh trưởng. Cũng vậy, tất cả các pháp thiện
đều y cứ vào không buông lung làm gốc. Như đã nói ở trên…
cho đến Niết-bàn.
“Thí
như hương hắc trầm thủy là loại hương trên các loại hương.
Cũng vậy, trong các loại thiện pháp, không buông lung là trên
hết.
“Thí
như trong các loại hương lâu bền, xích chiên-đàn là bậc
nhất. Cũng vậy, trong các thiện pháp, tất cả đều lấy
không buông lung làm căn bản. Như vậy… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như các loài hoa sống ở dưới nước và trên đất, hoa ưu-bát-la
là bậc nhất. Cũng vậy, tất cả các thiện pháp đều lấy
không buông lung làm căn bản,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như hoa sanh sống từ đất, hoa ma-lợi-sa là bậc nhất. Cũng
vậy, tất cả các thiện pháp đều lấy không buông lung làm
căn bản cho chúng,... cho đến Niết-bàn.
“Này
các Tỳ-kheo, thí như trong tất cả các dấu chân của loài
thú, dấu chân voi là hơn hết. Cũng vậy, trong tất cả các
thiện pháp, không buông lung là pháp căn bản hơn cả. Như
đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các loài thú, sư tử là đệ nhất, vì nó
là chúa tể của loài thú. Cũng vậy, trong tất cả các thiện
pháp, không buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở
trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như tất cả nhà cửa lầu các, cái nóc là trên hết. Cũng
vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông lung là căn
bản của chúng.
“Thí
như trong tất cả các thứ quả trong cõi Diêm-phù, chỉ có
quả tên là diêm-phù là bậc nhất. Cũng vậy, trong tất cả
pháp thiện, không buông lung là căn bản của chúng.
“Thí
như trong tất cả các loại cây như cây câu-tỳ-đà-la[72],
cây tát-bà-da chỉ-la-câu-tỳ-đà-la là đệ nhất. Cũng vậy,
trong tất cả các pháp thiện, không buông lung là căn bản.
Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong các núi, Tu-di sơn là bậc nhất. Cũng vậy, trong tất
cả các pháp thiện, không buông lung là căn bản của chúng.
Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các loại vàng, vàng Diêm-phù-đề là bậc
nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các loại vải, vải lông mịn già-thi[73]
là đệ nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không
buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho
đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các loại màu, màu trắng là bậc nhất.
Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông lung là
căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các loài chim, Kim-sí điểu[74] là đệ nhất,
vì nó là chúa tể của loài súc sanh. Cũng vậy, trong tất
cả các thiện pháp, không buông lung là căn bản của chúng.
Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các vua, Chuyển luân Thánh vương là bậc
nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các Thiên vương, Tứ Đại Thiên vương là
bậc nhất. Cũng vậy, trong tất cả pháp thiện, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các trời Tam thập tam, Đế Thích là đệ
nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông
lung là căn bản. Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong cõi Diệm-ma thiên, Tú-diệm-ma thiên vương[75] là
bậc nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không
buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho
đến Niết-bàn.
“Thí
như trong cõi Đâu-suất-đà thiên, Đâu-suất-đà thiên vương[76]
là bậc nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không
buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho
đến Niết-bàn.
“Thí
như trong cõi Hóa lạc thiên, Thiện Hóa lạc thiên vương[77]
là đệ nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không
buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho
đến Niết-bàn.
“Thí
như trong cõi Tha hóa tự tại thiên, Thiện Tha hóa tự tại
Thiên tử[78] là bậc nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp
thiện, không buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói
ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong cõi Phạm thiên, Đại Phạm thiên vương là bậc nhất.
Cũng vậy, trong các thiện pháp, tất cả đều lấy không buông
lung làm căn bản. Như vậy… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như tất cả các dòng sông ở Diêm-phù-đề đều xuôi về
biển lớn, biển lớn là bậc nhất, vì nó dung chứa tất
cả. Cũng vậy, tất cả các thiện pháp đều thuận dòng với
không buông lung. Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như tất cả nước mưa đều đổ về biển cả. Cũng vậy,
tất cả các thiện pháp đều xuôi dòng về biển không buông
lung. Như đã nói ở trên,... cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các hồ nước[79], hồ A-nậu-đại[80] là
bậc nhất. Cũng vậy, trong tất cả các thiện pháp, không
buông lung là bậc nhất. Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các sông ở Diêm-phù-đề, có bốn con sông
lớn là bậc nhất đó là: sông Hằng, Tân-đầu, Bác-xoa và
Tư-đa[81]. Cũng vậy, trong tất cả các thiện pháp, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong ánh sáng của các tinh tú, mặt trăng là bậc nhất.
Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông lung là
bậc nhất. Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong các chúng sanh có thân lớn, La-hầu-la A-tu-la[82] là
bậc nhất. Cũng vậy, trong tất cả pháp thiện, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong các hạng hưởng thụ năm dục, Đảnh Sanh vương[83]
là đệ nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không
buông lung là căn bản. Như đã nói ở trên,… cho đến Niết-bàn.
“Thí
như trong các thần lực ở cõi Dục, Thiên ma Ba-tuần là bậc
nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các loài chúng sanh không chân, hai chân, bốn
chân, nhiều chân; có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng,
chẳng phải tưởng chẳng phải không tưởng, Như Lai là bậc
nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các pháp hữu vi, vô vi, lìa tham dục là
đệ nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không
buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho
đến Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các pháp chúng, chúng của Như Lai là bậc
nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện, không buông
lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,… cho đến
Niết-bàn.
“Thí
như trong tất cả các giới, khổ hạnh, phạm hạnh; Thánh
giới[84] là đệ nhất. Cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện,
không buông lung là căn bản của chúng. Như đã nói ở trên,…
cho đến Niết-bàn.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
883. TỨ CHỦNG THIỀN[85]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn loại thiền[86]. Có loại thiền, tam-muội thiện[87], nhưng
chẳng phải chánh thọ thiện[88]; có loại thiền, chánh thọ
thiện, nhưng chẳng phải tam-muội thiện; có loại thiền tam-muội
thiện, mà chánh thọ cũng lại thiện; có loại thiền chẳng
phải tam-muội thiện và cũng chẳng phải chánh thọ thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, trụ tam-muội thiện,
nhưng chẳng phải trụ chánh thọ thiện[89]; có loại thiền,
trụ chánh thọ thiện, nhưng chẳng phải trụ tam-muội thiện;
có loại thiền, trụ tam-muội thiện, nhưng cũng trụ chánh
thọ thiện; có loại thiền, chẳng phải trụ tam-muội thiện,
mà cũng chẳng phải trụ chánh thọ thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, tam-muội khởi thiện[90],
nhưng chẳng phải chánh thọ khởi thiện; có loại thiền,
chánh thọ khởi thiện, nhưng chẳng phải tam-muội khởi thiện;
có loại thiền, tam-muội khởi thiện và chánh thọ cũng khởi
thiện; có loại thiền, chẳng phải tam-muội khởi thiện và
cũng chẳng phải chánh thọ khởi thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, thiện đối với
thời của tam-muội, nhưng không phải thiện đối với thời
của chánh thọ thiện[91]; có loại thiền, thiện đối với
thời của chánh thọ thiện, nhưng không phải thiện đối
với thời của tam-muội; có loại thiền, thiện đối với
thời của tam-muội thiện, cũng thiện đối với thời của
chánh thọ thiện; có loại thiền, chẳng phải thiện đối
với thời của tam-muội, cũng chẳng phải thiện đối với
thời của chánh thọ.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, tam-muội xứ thiện,
nhưng chẳng phải chánh thọ xứ thiện[92]; có loại thiền,
chánh thọ xứ thiện, nhưng chẳng phải tam-muội xứ thiện;
có loại thiền, tam-muội xứ thiện, chánh thọ cũng xứ thiện;
có loại thiền, chẳng phải tam-muội xứ thiện, cũng chẳng
phải chánh thọ xứ thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, tam-muội nghinh thiện[93],
nhưng chẳng phải chánh thọ nghinh thiện; có loại thiền,
chánh thọ nghinh thiện, nhưng chẳng phải tam-muội nghinh cũng
thiện; có loại thiền, tam-muội nghinh thiện, chánh thọ nghinh
thiện; có loại thiền chẳng phải tam-muội nghinh thiện và
cũng chẳng phải chánh thọ nghinh thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, tam-muội niệm thiện,
nhưng chẳng phải chánh thọ niệm thiện; có loại thiền,
chánh thọ niệm thiện, nhưng chẳng phải tam-muội niệm thiện;
có loại thiền, tam-muội niệm thiện, chánh thọ niệm cũng
thiện; có loại thiền, chẳng phải tam-muội niệm thiện,
cũng chẳng phải chánh thọ niệm thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, tam-muội niệm bất
niệm thiện, nhưng chẳng phải chánh thọ niệm bất niệm
thiện; có loại thiền, chánh thọ niệm bất niệm thiện,
nhưng chẳng phải tam-muội niệm bất niệm thiện; có loại
thiền, tam-muội niệm bất niệm thiện, nhưng chánh thọ niệm
bất niệm cũng thiện; có loại thiền, chẳng phải tam-muội
niệm bất niệm thiện, cũng chẳng phải chánh thọ niệm bất
niệm thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, tam-muội đến thì
thiện, nhưng chẳng phải chánh thọ đến[94] thì thiện; có
loại thiền, chánh thọ đến thì thiện, nhưng tam-muội đến
thì không thiện; có loại thiền, tam-muội đến thì thiện,
chánh thọ đến thì cũng thiện; có loại thiền, chẳng phải
tam-muội đến thiện và cũng chẳng phải chánh thọ đến
thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền, tam-muội ác thì
thiện, chánh thọ ác thì không thiện; có loại thiền, chánh
thọ ác thì thiện, tam-muội ác thì không thiện[95]; có loại
thiền, tam-muội ác thì thiện, chánh thọ ác cũng thiện; có
loại thiền, chẳng phải tam-muội ác thiện và cũng chẳng
phải chánh thọ ác thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền tam-muội phương
tiện thiện, nhưng chẳng phải chánh thọ phương tiện thiện;
có loại thiền chánh thọ phương tiện thiện, nhưng chẳng
phải tam-muội phương tiện thiện; có loại thiền tam-muội
phương tiện thiện và chánh thọ cũng phương tiện thiện;
có loại thiền chẳng phải tam-muội phương tiện thiện, mà
cũng chẳng phải chánh thọ phương tiện thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền tam-muội chỉ thiện,
nhưng chẳng phải chánh thọ chỉ thiện; có loại thiền chánh
thọ chỉ thiện, nhưng chẳng phải tam-muội chỉ thiện; có
loại thiền tam-muội chỉ thiện, chánh thọ cũng chỉ thiện;
có loại thiền chẳng phải tam-muội chỉ thiện và cũng chẳng
phải chánh thọ chỉ thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền tam-muội cử thiện,
nhưng chẳng phải chánh thọ cử thiện; có loại thiền chánh
thọ cử thiện, nhưng chẳng phải tam-muội cử thiện; có
loại thiền tam-muội cử thiện và chánh thọ cũng cử thiện;
có loại thiền chẳng phải tam-muội cử thiện, mà cũng chẳng
phải chánh thọ cử thiện.
“Lại
có bốn loại thiền nữa. Có loại thiền tam-muội xả thiện,
nhưng chẳng phải chánh thọ xả thiện; có loại thiền chánh
thọ xả thiện, nhưng chẳng phải tam-muội xả thiện; có
loại thiền tam-muội xả thiện, thì chánh thọ cũng xả thiện;
có loại thiền chẳng phải tam-muội xả thiện và cũng chẳng
phải chánh thọ xả thiện[96].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
884. VÔ HỌC TAM MINH (1)[97]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Bậc
Vô học có ba minh[98]. Những gì là ba? Là Trí túc mạng chứng
thông của bậc Vô học, Trí sanh tử chứng thông của bậc
Vô học, Trí lậu tận chứng thông của bậc Vô học.”
Sau
đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Quán
sát biết kiếp trước,
Thấy
trời sanh đường ác.
Các
lậu sanh tử hết,
Là
Minh của Mâu-ni.
Tâm
ấy được giải thoát
Tất
cả những tham ái;
Ba
nơi đều thông suốt,
Nên
gọi là Ba minh.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
885. VÔ HỌC TAM MINH (2)[99]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Bậc
Vô học có Ba minh. Những gì là ba? Túc mạng trí chứng thông
của bậc Vô học, Sanh tử trí chứng thông của bậc Vô học,
Lậu tận trí chứng thông của bậc Vô học.
“Thế
nào là Túc mạng chứng trí thông của bậc Vô học? Thánh
đệ tử biết tất cả sự từ những đời trước. Từ một
đời đến trăm, ngàn, vạn, ức đời; cho đến số kiếp
thành hoại rằng: ‘Các đời sống trước của ta và chúng
sanh, có những tên như vậy, sanh ra như vậy, dòng họ như
vậy, ăn như vậy, chịu khổ vui như vậy, tuổi thọ dài như
vậy, sống lâu như vậy, chịu giới hạn như vậy. Ta và chúng
sanh chết ở chỗ này, sanh ra chỗ khác; chết chỗ khác sanh
ra chỗ này, có hành như vậy, nhân như vậy, tín như vậy.’
Tất cả các việc đã trải qua trong đời sống trước đều
biết rõ ràng. Đó gọi là Trí túc mạng chứng minh.
“Thế
nào là Sanh tử trí chứng minh? Thánh đệ tử, bằng thiên
nhãn thanh tịnh vượt qua đối với mắt người, thấy các
chúng sanh lúc chết, lúc sanh, đẹp, xấu, thượng sắc, hạ
sắc, theo nghiệp mà thọ sanh vào đường ác. Biết như thật
rằng như chúng sanh này thành tựu thân ác hành, thành tựu
miệng, ý ác hành, hủy báng Thánh nhân, tà kiến, nhận lãnh
tà pháp; do nhân duyên này sau khi thân hoại mạng chung sanh
vào trong đường ác địa ngục. Chúng sanh này do thành tựu
thân thiện hành, thành tựu miệng, ý thiện hành, không hủy
báng Thánh nhân, đã thành tựu chánh kiến, nên sau khi thân
hoại mạng chung sanh vào trong đường Trời, Người. Đó gọi
là Trí sanh tử chứng minh.
“Thế
nào là Lậu tận trí chứng minh? Thánh đệ tử biết như thật,
‘Đây là Khổ’, ‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ
diệt’, ‘Đây là Khổ diệt đạo.’ Vị ấy biết như vậy,
thấy như vậy, tâm giải thoát Dục hữu lậu, tâm giải thoát
Hữu hữu lậu, tâm giải thoát Vô minh lậu, với giải thoát
tri kiến, biết rằng, ‘Ta, sự sanh đã hết, phạm hạnh đã
lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn
tái sanh đời sau nữa.’ Đó gọi là Lậu tận chứng trí
minh.”
Sau
đó, Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Quán
sát biết đời trước,
Thấy
trời sanh đường ác.
Các
lậu sanh tử hết,
Là
Minh của Mâu-ni.
Tâm
ấy được giải thoát
Tất
cả những tham ái;
Ba
nơi đều thông suốt,
Nên
gọi là Ba minh.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
886. TAM MINH[100]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn[101] đi đến chỗ
Phật gặp Thế Tôn, sau khi thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua
một bên và nói:
“Đây
là ba minh của Bà-la-môn[102]! Đây là ba minh của Bà-la-môn!”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Bà-la-môn rằng:
“Thế
nào gọi là ba minh của Bà-la-môn?”
Bà-la-môn
bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, cha mẹ Bà-la-môn đầy đủ các tướng[103], không
có các tì vết[104]; cha mẹ bảy đời truyền thừa mà không
bị chê bai; đời đời kế thừa nhau, luôn làm sư trưởng,
biện tài đầy đủ; đọc tụng các kinh điển, danh tự của
loại vật, phẩm loại sai biệt của vạn vật; lịch sử cổ
kim[105], năm thứ ký này[106], tất cả đều được thông suốt;
dung sắc đoan chánh. Thưa Cù-đàm, đó gọi là ba minh của
Bà-la-môn.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Ta
không lấy ngôn thuyết, danh tự làm ba minh. Pháp môn của Hiền
thánh nói ba minh chân thật[107] là tri kiến Hiền thánh, pháp
luật Hiền thánh. Đó là ba minh chân thật.”
Bà-la-môn
bạch Phật:
“Như
thế nào, thưa Cù-đàm, nói tri kiến Hiền thánh, pháp luật
Hiền thánh là ba minh?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Có
ba loại ba minh của bậc Vô học. Những gì là ba? Túc mạng
chứng trí minh của bậc Vô học, sanh tử chứng trí minh của
bậc Vô học, lậu tận chứng trí minh của bậc Vô học.”
Như
đã nói đầy đủ ở kinh trên.
Sau
đó Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Tất
cả pháp vô thường,
Trì
giới, thiền vắng lặng;
Biết
tất cả đời trước,
Đã
sanh trời, đường ác.
Lậu
hết, đoạn được sanh,
Là
thông của Mâu-ni.
Biết
được tâm giải thoát
Tất
cả tham, nhuế, si.
Ta
nói là ba minh,
Chẳng
do ngôn ngữ nói.
“Này
Bà-la-môn, đó là ba minh theo pháp luật của bậc Thánh đã
nói.”
Bà-la-môn
bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, đó là ba minh chân thật!”
Sau
khi Bà-la-môn nghe những gì Phật đã dạy, hoan hỷ, tùy hỷ,
từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
887. TÍN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn đi đến chỗ Phật
gặp Thế Tôn, sau khi thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua một
bên bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, con tên là Tín.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Tín
có nghĩa là tin vào tăng thượng giới, vào bố thí, đa văn,
huệ xả, trí tuệ. Đó gọi là Tín, chứ không phải tín chỉ
là một danh tự suông.”
Sau
khi Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ
chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
888. TĂNG ÍCH
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn đi đến chỗ Phật
gặp Thế Tôn, sau khi thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua một
bên bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, con tên là Tăng Ích.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Tăng
ích có nghĩa là tăng ích cho tín; tăng ích cho giới, đa văn,
huệ xả và trí tuệ. Đó là Tăng ích, chứ không phải tăng
ích chỉ là một danh tự suông.”
Sau
khi Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ
chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
889. ĐẲNG KHỞI
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn đi đến chỗ Phật
gặp Thế Tôn, sau khi thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua một
bên bạch Phật rằng:
“Con
tên là Đẳng Khởi.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Đẳng
khởi[108] có nghĩa là làm phát khởi tín, phát khởi giới,
đa văn, huệ xả và trí tuệ. Đó là Đẳng khởi, chứ không
phải đẳng khởi chỉ là một danh tự suông.”
Sau
khi Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ
chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
890. VÔ VI PHÁP[109]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ vì các ông nói về pháp Vô vi cùng đạo tích vô vi[110],
hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ.
“Thế
nào là pháp Vô vi? Tham dục vĩnh viễn chấm dứt; sân nhuế,
ngu si vĩnh viễn chấm dứt; tất cả phiền não vĩnh viễn
chấm dứt. Đó gọi là pháp Vô vi.
“Thế
nào là Đạo tích vô vi? Tám Thánh đạo phần: Chánh kiến,
chánh trí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương
tiện, chánh niệm, chánh định. Đó gọi là Đạo tích vô
vi.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
“Như
Vô vi, cũng vậy nan kiến, bất động, bất khuất, bất tử,
vô lậu, phú ấm, châu chữ, tế độ, y chỉ, ủng hộ, bất
lưu chuyển, ly xí diệm, ly thiêu nhiên, lưu thông, thanh lương,
vi diệu, an ổn, vô bệnh, vô sở hữu, Niết-bàn, cũng nói
như vậy.”[111]
*
K