TẠP
A-HÀM QUYỂN 28
KINH
748. NHẬT XUẤT[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như
khi mặt trời mọc có tiền tướng của nó, là minh tướng,
ánh sáng ban đầu. Cũng vậy, Tỳ-kheo tận cùng biên tế khổ,
cứu cánh biên tế khổ có tiền tướng là chánh kiến[2].
Chánh kiến này có thể phát khởi lên chánh chí[3], chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định. Vì nhờ phát khởi định chánh thọ, nên Thánh
đệ tử tâm chánh giải thoát tham dục, sân nhuế, ngu si. Với
tâm khéo giải thoát như vậy, Thánh đệ tử đạt được
Chánh tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã hết, phạm hạnh đã lập,
những việc cần làm đã làm xong, tự biết không tái sanh
kiếp sau’.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
749. VÔ MINH (1)[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vô
minh làm tiền tướng nên sanh ra các pháp ác bất thiện. Rồi
theo đó sanh ra vô tàm, vô quý. Vô tàm, vô quý đã sanh ra rồi,
theo đó sanh ra tà kiến. Tà kiến đã sanh ra rồi, có thể
khởi lên tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương
tiện, tà niệm, tà định.
“Nếu
khởi lên minh làm tiền tướng sanh ra các pháp thiện, thì
theo đó sanh ra tàm quý. Tàm quý đã sanh ra rồi, có thể sanh
ra chánh kiến. Chánh kiến đã sanh ra rồi, sẽ theo thứ tự
khởi lên chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định. Chánh định đã
khởi lên rồi, Thánh đệ tử được chánh giải thoát tham
dục, sân nhuế, ngu si. Như vậy, Thánh đệ tử khi đã được
chánh giải thoát rồi sẽ được chánh tri kiến: ‘Ta, sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã
làm xong, tự biết không còn tái sanh vào đời sau’.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
750. VÔ MINH (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu,
Tỳ-kheo, các pháp ác bất thiện sanh khởi, tất cả đều
do vô minh làm gốc, vô minh tập, vô minh sanh, vô minh khởi.
Vì sao? Vì vô minh là vô tri, không biết như thật đối với
pháp thiện, pháp bất thiện; không biết như thật có tội,
không có tội, pháp thấp, pháp cao, nhiễm ô, không nhiễm ô,
phân biệt, không phân biệt, duyên khởi, không duyên khởi.
Vì không biết như thật nên khởi lên tà kiến; khi đã khởi
tà kiến rồi, thì có khả năng khởi lên tà chí, tà ngữ,
tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định.
“Nếu
các pháp thiện sanh, tất cả đều do minh làm gốc, minh tập,
minh sanh, minh khởi. Vì minh, biết như thật đối với pháp
thiện, bất thiện; tất cả đều biết như thật về tội,
không tội, thân cận, không thân cận, pháp thấp, pháp cao,
ô uế, bạch tịnh, có phân biệt, không phân biệt, duyên khởi,
không duyên khởi, biết như thật, đó là chánh kiến. Chánh
kiến hay khởi lên chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định. Khi đã
khởi lên chánh định rồi, Thánh đệ tử được chánh giải
thoát tham, nhuế, si; khi tham, nhuế, si đã giải thoát rồi,
Thánh đệ tử được chánh tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự
biết không còn tái sanh đời sau’.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
751. KHỞI[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
người xuất gia hay tại gia mà khởi lên việc tà[6], Ta sẽ
không nói đến. Vì sao? Vì nếu người xuất gia hay tại gia
mà còn khởi lên việc tà, thì không vui thích Chánh pháp. Những
gì là việc tà? Đó là tà kiến… cho đến tà định.
“Nếu
là người xuất gia hay tại gia mà khởi lên việc chánh, Ta
sẽ tán thán. Vì sao? Vì người khởi lên việc chánh, là người
vui thích Chánh pháp, thiện xảo nơi Chánh pháp. Những gì là
việc chánh? Đó là chánh kiến… cho đến chánh định. Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Tại
gia cùng xuất gia,
Mà
khởi lên việc tà;
Người
kia không vui thích
Chánh
pháp tối vô thượng.
Tại
gia cùng xuất gia,
Mà
khởi lên việc chánh;
Thì
tâm luôn vui thích,
Chánh
pháp tối vô thượng.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
752. CA-MA[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Tỳ-kheo Ca-ma[8] đến chỗ Phật, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, gọi là dục; thế nào là dục?”
Phật
bảo Ca-ma:
“Dục
là chỉ cho năm công năng của dục. Những gì là năm? Sắc
được thấy bởi mắt, đáng yêu, đáng thích ý, đáng nhớ,
khiến nuôi lớn dục lạc. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi; xúc
biết bởi thân thức đáng yêu, vừa ý, đáng nhớ, khiến
nuôi lớn dục lạc. Đó gọi là dục. Nhưng chúng không phải
là dục, sự tham đắm nơi chúng, đó gọi là dục.
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Năm
sắc tạp thế gian,
Tự
chúng phi ái dục.
Cái
giác tưởng tham dục,
Là
dục của con người.
Các
sắc thường ở đời,
Hành
giả đoạn tâm dục.
Tỳ-kheo
Ca-ma bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, có con đường đưa đến đoạn trừ ái dục này
không?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Có
tám Thánh đạo, có thể đoạn trừ ái dục, đó là chánh
kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
phương tiện, chánh niệm, chánh định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo Ca-ma nghe những gì Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
753. A-LÊ-SẮT-TRA[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ có Tỳ-kheo tên là A-lê-sắt-tra[10]
đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, gọi là cam lộ[11]; thế nào gọi là cam lộ?”
Phật
bảo A-lê-sắt-tra:
“Cam
lộ là một danh thuyết của giới[12], nhưng Ta vì người đã
đoạn tận hữu lậu mà hiện nói danh từ này.”
Tỳ-kheo
A-lê-sắt-tra bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có con đường nào mà tu tập, tu tập nhiều, sẽ
được pháp cam lộ không?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Có,
đó là tám Thánh đạo phần: Từ chánh kiến… cho đến chánh
định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
754. XÁ-LỢI-PHẤT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất đến chỗ
Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi
lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, nói là các tư cụ căn bản cho chánh tam-muội[13]
của bậc Hiền thánh; thế nào là các tư cụ căn bản cho
chánh tam-muội của bậc Hiền thánh?”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Đó
là Bảy chánh đạo phần, là căn bản, là các tư cụ cho chánh
tam-muội của bậc Hiền thánh. Những gì là bảy? Là chánh
kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
phương tiện, chánh niệm. Này Xá-lợi-phất, sau khi lấy bảy
Đạo phần này làm tác nghiệp căn cơ[14] rồi, tâm được
chuyên nhất; đó gọi là những tư cụ căn bản cho chánh tam-muội
bậc Hiền thánh.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
755–757. TỲ-KHEO
Tôi
nghe như vầy:
Như
ba kinh trên, cũng vậy ba kinh Phật hỏi các Tỳ-kheo cũng nói
như vậy.
*
KINH
758. ÚY[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Sự
sợ hãi của con không mẹ. Sự sợ hãi của con có mẹ. Đó
là điều mà kẻ phàm ngu si không học, nói đến. Nhưng không
hiểu gì về sự sợ hãi của con không mẹ, sự sợ hãi của
con có mẹ.
“Này
các Tỳ-kheo, có ba sự sợ hãi của con không mẹ[16], mà phàm
phu ngu si, không học đã nói. Những gì là ba? Này các Tỳ-kheo,
khi có binh biến loạn lạc xảy ra, tàn hại đất nước, bị
sóng cuốn theo dòng, con thất lạc mẹ, mẹ thất lạc con.
Đó gọi là sự sợ hãi của con không mẹ thứ nhất, mà kẻ
phàm ngu si, vô học nói.
“Lại
nữa, này Tỳ-kheo, khi có hỏa hoạn lớn bất chợt xảy ra,
thiêu đốt thành ấp, xóm làng; dân chúng chạy loạn khắp
nơi, mẹ con thất lạc nhau. Đó gọi là sựï sợ hãi của
con không mẹ thứ hai mà kẻ phàm ngu si, vô học đã nói.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, có một lúc trong núi có mưa to, nước lớn
đổ ra, làm tràn ngập xóm làng, dân chúng lánh chạy khắp
nơi, mẹ con thất lạc nhau. Đó gọi sựï sợ hãi của con
không mẹ thứ ba, mà kẻ phàm ngu si, vô học đã nói.
“Song
tất cả những sự sợ hãi này là sự sợ hãi của con có
mẹ, mà kẻ phàm ngu si, vô học lại nói là sự sợ hãi của
con không mẹ. Khi có binh biến loạn lạc xảy ra, tàn hại
đất nước; mọi người bôn ba lưu lạc, mẹ con thất lạc
nhau. Có khi mẹ con gặp lại nhau. Đó là sự sợ hãi của
con có mẹ thứ nhất mà kẻ phàm ngu si, vô học nói là sựï
sợ hãi của con không mẹ. Lại nữa, khi hỏa hoạn lớn bất
chợt xảy ra, thiêu đốt thành ấp, làng xóm, dân chúng chạy
loạn khắp nơi, mẹ con thất lạc nhau. Có khi mẹ con gặp
lại nhau. Đó là sự sợ hãi của con có mẹ thứ hai mà kẻ
phàm ngu si, vô học nói là sựï sợ hãi của con không mẹ.
Lại nữa, khi ở trong núi có mưa to, nước lớn đổ ra, làm
tràn ngập xóm làng, dân chúng lánh chạy khắp nơi, mẹ con
thất lạc nhau. Có khi mẹ con gặp lại nhau. Đó là sự sợ
hãi của con có mẹ thứ ba mà kẻ phàm ngu si, vô học nói
là sựï sợ hãi của con không mẹ.
“Này
Tỳ-kheo, có ba thứ sợ hãi của con không mẹ mà Ta tự mình
giác ngộ thành đạo vô thượng đã ký thuyết. Những gì
là ba? Này Tỳ-kheo, khi người con già, không có người mẹ
nào có thể nói: ‘Con, con chớ già, để mẹ sẽ thay con!’
Hoặc khi người mẹ già, cũng không có người con nào bảo:
‘Mẹ, mong mẹ chớ già! Con già thay mẹ cho!’ Đó gọi là
cái sợ hãi của con không mẹ thứ nhất mà Ta tự mình giác
ngộ thành đạo Vô thượng đã ký thuyết.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, khi người con bị bệnh, người mẹ không thể
nói: ‘Con đừng bệnh! Mẹ sẽ thay con!’ Hoặc khi mẹ bị
bệnh, con cũng không thể bảo: ‘Mẹ đừng bệnh, để con
bệnh thay mẹ!’ Đó gọi là cái sợ hãi của con không mẹ
thứ hai mà Ta tự mình giác ngộ thành đạo Vô thượng đã
ký thuyết.
“Lại
nữa, khi người con chết, người mẹ không thể nói: ‘Con,
đừng chết! Nay mẹ sẽ thay con!’ Hoặc khi người mẹ chết,
người con cũng không thể bảo: ‘Mẹ, đừng chết! Con sẽ
thay mẹ!’ Đó gọi là cái sợ hãi của con không mẹ thứ
ba mà Ta tự mình giác ngộ thành đạo Vô thượng đã ký thuyết.”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Có
đạo lộ nào, có hành trì nào[17] để tu tập, tu tập nhiều,
dẫn đến đoạn trừ được ba thứ sợ hãi của con có mẹ
ở trước và đoạn trừ được ba thứ sợ hãi của con không
mẹ ở sau không?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Có
đạo lộ, có hành trì dẫn đến đoạn trừ được ba sự
sợ hãi này. Những gì là đạo lộ? Những gì là hành trì
mà tu tập, tu tập nhiều, dẫn đến đoạn trừ được ba
thứ sợ hãi của con có mẹ ở trước và đoạn trừ được
ba thứ sợ hãi của con không mẹ ở sau? Đó là tám Thánh
đạo phần: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
759. THỌ[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba thọ, là vô thường, hữu vi, do tâm duyên sanh. Những gì
là ba? Đó là lạc thọ, khổ thọ, không lạc không khổ thọ.”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có đạo lộ, có hành trì nào để tu tập, khi tu
tập nhiều, sẽ dẫn đến đoạn trừ ba thọ này không?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Có
đạo lộ, có hành trì để tu tập, khi tu tập nhiều, sẽ
dẫn đến đoạn trừ ba thọ này. Những gì là đạo lộ,
là hành trì để tu tập, khi tu tập nhiều, sẽ dẫn đến
đoạn trừ ba thọ này?
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Đó
là tám Thánh đạo: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh
định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
760. TAM PHÁP[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
đời có ba điều không đáng vui, không đáng yêu, không đáng
nhớ. Những gì là ba? Đó là già, bệnh, chết. Ba điều này
không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nhớ. Ở thế gian
nếu không có ba điều không đáng vui, không đáng yêu, không
đáng nhớ này, thì không có Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh
Giác xuất hiện ở thế gian; và thế gian cũng chẳng có pháp
được thuyết, sự giáo giới, giáo thọ của Như Lai. Vì thế
gian có ba điều không đáng vui, không đáng yêu, không đáng
nhớ này, nên Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác xuất hiện
ở thế gian và thế gian biết có pháp được thuyết, sự
giáo giới, giáo thọ của Như Lai.”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Có
đạo lộ, có hành trì để tu tập, tu tập nhiều, sẽ dẫn
đến đoạn trừ ba điều không đáng vui, không đáng yêu,
không đáng nhớ này không?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Có
đạo lộ, có hành trì để tu tập, tu tập nhiều, sẽ dẫn
đến đoạn trừ ba điều không đáng vui, không đáng yêu,
không đáng nhớ này. Những gì là đạo lộ, là hành trì để
tu tập, tu tập nhiều, sẽ dẫn đến đoạn trừ ba điều
không đáng vui, không đáng, yêu, không đáng nhớ này. Đó
là tám Thánh đạo: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh
định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
761. HỌC[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ nói về Học[21] và Vô học. Hãy lắng nghe và suy nghĩ
kỹ. Thế là Học? Học thành tựu chánh kiến, học thành tựu
chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương
tiện, chánh niệm, chánh định. Đó gọi là Học. Những gì
là Vô học? Vô học thành tựu chánh kiến, Vô học thành tựu
chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương
tiện, chánh niệm, chánh định. Đó gọi là Vô học.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
Học và Vô học, cũng vậy Đại sĩ và Chánh sĩ cũng nói như
vậy.
*
KINH
762. LẬU TẬN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ nói về Thánh lậu tận. Sao gọi là Thánh lậu tận? Vô
học thành tựu chánh kiến,… cho đến không còn Học thành
tựu chánh định. Đó gọi là bậc Thánh lậu tận.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
763. TÁM THÁNH ĐẠO PHẦN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về tám Thánh đạo phần. Những gì là tám? Đó
là Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
764. TU (1)[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ nói về sự tu tập tám Thánh đạo. Hãy lắng nghe và,
suy nghĩ kỹ. Tu tập tám Thánh đạo là thế nào? Tỳ-kheo tu
tập chánh kiến, y viễn ly, y vô dục, y diệt, hướng đến
xả. Tu chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
phương tiện, chánh niệm, chánh định, đều y viễn ly, y vô
dục, y diệt, hướng đến xả. Đó gọi là tu tám Thánh đạo.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
765. TU (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về Tỳ-kheo đã tu tập tám Thánh đạo trong quá
khứ, sẽ tu tập tám Thánh đạo trong vị lai, chi tiết cho
đến, các Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật đã dạy, đều
hoan hỷ phụng hành.”
*
KINH
766. THANH TỊNH[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo, đối với chánh kiến thanh tịnh, trắng tinh, không
có các lỗi lầm, xa lìa các phiền não; chánh kiến chưa khởi
sẽ không khởi, trừ phi có sự điều phục của Phật… cho
đến chánh định cũng nói như vậy.
“Nếu
đối với chánh kiến thanh tịnh, trắng tinh, không có các
lỗi lầm, xa lìa các phiền não; chánh kiến chưa khởi có
thể khởi… cho đến chánh định cũng nói như vậy[24].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
chỉ trừ những gì Phật đã điều phục, cũng vậy chỉ trừ
những gì Thiện Thệ đã điều phục cũng nói như trên.
*
KINH
767. TỤ[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nói
tụ bất thiện tức chỉ cho năm triền cái. Đó là chánh thuyết.
Vì sao? Tụ chỉ thuần bất thiện, đó là năm triền cái.
Những gì là năm? Đó la tham dục, sân nhuế, thùy miên, trạo
hối và nghi cái.
“Nói
tụ thiện, tức chỉ cho tám Thánh đạo. Đó là chánh thuyết.
Vì sao? Tụ chỉ thuần đầy pháp thiện, đó là tám Thánh
đạo. Những gì là tám? Đó là chánh kiến, chánh chí, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
768. BÁN[26]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong tinh xá Sơn cốc[27], thành Vương xá. Bấy
giờ Tôn giả A-nan một mình ở nơi chỗ vắng, tự nghĩ như
vầy: “Một nửa phạm hạnh, tức là thiện tri thức, thiện
bạn đảng, thiện tùy tùng[28]… cho đến Phật bảo A-nan:
“Phạm
hạnh viên mãn, thuần nhất thanh tịnh, tức là thiện tri thức.
Vì sao? Vì Ta là thiện tri thức nên khiến cho các chúng sanh
tu tập chánh kiến, y viễn ly, y vô dục, y diệt, hướng đến
xả… cho đến tu chánh định, y viễn ly, y vô dục, y diệt,
hướng đến xả.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
769. BÀ-LA-MÔN[29]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-nan sáng sớm, đắp y, mang
bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Bấy giờ có Bà-la-môn Sanh
Văn[30], đi xe ngựa trắng, cùng với đoàn tùy tùng số đông
thanh niên, đi ngựa trắng, xe trắng, dàm ngựa trắng, roi trắng,
đầu đội mão trắng, dù lọng trắng; tay cầm phất trắng,
mặc y phục trắng, đeo anh lạc trắng, dùng hương trắng thoa
mình, tùy tùng đều mặc đồ trắng, ra khỏi thành Xá-vệ,
muốn vào rừng để truyền dạy đọc tụng. Mọi người trông
thấy vậy đều bảo: ‘Xe tốt, xe tốt! Đó là xe của Bà-la-môn.’
Sau
khi Tôn giả thấy Bà-la-môn, cùng với các quyến thuộc và
mọi thứ, tất cả đều màu trắng như vậy rồi, thì vào
thành khất thực, trở về tinh xá cất y bát, rửa chân xong,
đến chỗ Phật; cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi
lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm hôm nay, con đắp y, mang bát, vào thành
Xá-vệ khất thực, thấy Bà-la-môn Sanh Văn đi xe ngựa trắng,
cùng quyến thuộc và mọi thứ, tất cả đều màu trắng,
được mọi người khen rằng: ‘Xe tốt, xe tốt! Đó là xe
của Bà-la-môn.’ Thế nào Thế Tôn! Đối với Chánh pháp
luật, thì đó là xe của người đời, hay là xe của Bà-la-môn?”
Phật
bảo A-nan:
“Đó
là xe của người đời, chứ chẳng phải xe Pháp luật của
Ta, hay xe của Bà-la-môn. Này A-nan, xe Chánh pháp luật của
Ta, xe của trời, xe của Bà-la-môn, xe lớn là có khả năng
điều phục quân ma phiền não. Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ!
Ta sẽ vì ông mà nói:
“Này
A-nan, những gì là xe Chánh pháp luật, xe cõi trời, xe Bà-la-môn,
cỗ xe lớn, có khả năng điều phục quân ma phiền não? Đó
là tám Thánh đạo: Chánh kiến… cho đến chánh định. A-nan,
đó gọi là xe Chánh pháp luật, xe cõi trời, xe Bà-la-môn,
cỗ xe lớn, có khả năng điều phục quân phiền não.”
Bấy
giờ Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Tín,
giới là cái ách,
Tàm
quý là vòng cổ;
Chánh
niệm khéo hộ trì,
Là
người khéo điều khiển.
Xả,
tam-muội: càng xe,
Trí,
tinh tấn bánh xe;
Nhẫn,
vô trước: giáp sắt,
An
ổn, đi đúng pháp.
Tiến
thẳng không thoái lui,
Vĩnh
viễn không chỗ lo;
Người
trí đi chiến xa,
Dẹp
kẻ thù vô trí.
*
KINH
770. TÀ[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nên
xa lìa tà kiến, nên đoạn trừ tà kiến. Nếu tà kiến mà
không thể đoạn trừ được, thì Ta đã không bao giờ nói
nên xa lìa tà kiến. Vì tà kiến có thể đoạn trừ được,
nên Ta nói Tỳ-kheo hãy xa lìa tà kiến. Nếu không xa lìa tà
kiến, thì tà kiến sẽ tạo ra cái khổ phi nghĩa, không lợi
ích. Cho nên Ta nói hãy xa lìa tà kiến. Cũng vậy tà chí, tà
ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định
cũng nói như vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, khi xa lìa tà kiến rồi, nên tu tập chánh kiến.
Nếu chánh kiến tu không được, Ta đã không bao giờ nói tu
tập chánh kiến. Vì tu tập chánh kiến được, nên Ta nói
Tỳ-kheo hãy tu tập chánh kiến. Nếu không tu tập chánh kiến,
thì sẽ tạo ra cái khổ phi nghĩa không lợi ích. Vì không
tu tập chánh kiến tạo ra cái khổ phi nghĩa, không lợi ích,
cho nên Ta nói phải tu tập chánh kiến, vì mục đích lợi
ích, luôn được an lạc. Cho nên Tỳ-kheo hãy tu tập chánh
kiến. Cũng vậy, chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định cũng nói
như vậy.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
771. BỈ NGẠN[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ có Bà-la-môn Sanh Văn, đến chỗ Phật,
cùng diện kiến thăm hỏi, ủy lạo; sau khi thăm hỏi ủy lạo
xong, rồi ngồi lui qua một bên bạch Phật rằng:
“Thưa
Cù-đàm, nói là chẳng phải bờ bên kia, cùng bờ bên kia.
Vậy, thế nào là chẳng phải bờ bên kia và thế nào là bờ
bên kia?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Tà
kiến là chẳng phải bờ bên kia; chánh kiến là bờ bên kia.
Cũng vậy, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương
tiện, tà niệm, tà định là chẳng phải bờ bên kia. Chánh
kiến là bờ bên kia; cũng vậy chánh chí, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh
định là bờ bên kia.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Người
đời thật ít ai,
Vượt
qua bờ bên kia.
Hết
thảy các thế gian,
Quanh
quẩn dạo bờ này.
Nơi
Chánh pháp luật này,
Nếu
ai khéo tùy thuận;
Thì
có thể vượt bờ,
Bờ
sanh tử khó vượt[33].
Sau
khi Bà-la-môn Sanh Văn nghe những gì Phật đã dạy, hoan hỷ
tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
772–774
Ba
kinh này cũng vậy: Có Tỳ-kheo nghe Tôn giả A-nan hỏi Phật,
hỏi các Tỳ-kheo cũng nói như trên.
*
KINH
775. CHÁNH BẤT CHÁNH TƯ DUY (1)[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
trong nội pháp, Ta không thấy một pháp nào có thể khiến
pháp ác bất thiện chưa sanh, khởi sanh; đã sanh rồi khiến
tái sanh và tăng trưởng, như nói về không chánh tư duy[35].
Các Tỳ-kheo, không chánh tư duy, thì tà kiến chưa khởi khiến
khởi, đã khởi rồi tái sanh khiến tăng trưởng. Cũng vậy,
tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà
niệm, tà định cũng nói như vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, ở trong nội pháp, Ta không thấy một pháp nào
khiến pháp ác bất thiện chưa sanh, không sanh; pháp ác bất
thiện đã sanh rồi khiến cho diệt, như nói về chánh tư duy.
Các Tỳ-kheo, chánh tư duy, thì tà kiến chưa sanh, khiến không
sanh; đã sanh rồi, khiến cho diệt. Như tà kiến, tà chí, tà
ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định
cũng nói như vậy.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
776. CHÁNH BẤT CHÁNH TƯ DUY (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
trong nội pháp Ta không thấy một pháp nào khiến pháp thiện
chưa sanh, không sanh; pháp thiện đã sanh rồi, khiến cho thoái
thất như đã nói về không chánh tư duy. Các Tỳ-kheo, không
chánh tư duy, thì chánh kiến chưa sanh, khiến cho không sanh;
chánh kiến đã sanh rồi, khiến cho thoái thất. Cũng vậy,
chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương
tiện, chánh niệm, chánh định chưa sanh, khiến cho không sanh;
đã sanh rồi, khiến cho thoái thất.
“Này
các Tỳ-kheo, ở trong nội pháp, Ta không thấy một pháp nào
khiến pháp thiện chưa sanh, khiến cho sanh; pháp thiện đã
sanh rồi khiến tái sanh và làm tăng trưởng, như đã nói về
chánh tư duy. Các Tỳ-kheo chánh tư duy, thì chánh kiến chưa
sanh, khiến cho sanh; chánh kiến đã sanh rồi khiến tái sanh
và làm tăng trưởng. Cũng vậy, chánh chí, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh
định chưa sanh khiến cho sanh; đã sanh rồi khiến tái sanh
và làm tăng trưởng.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
777. CHÁNH BẤT CHÁNH TƯ DUY (3)[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
trong nội pháp, Ta không thấy một pháp nào khiến pháp ác
bất thiện chưa sanh, khiến cho sanh; pháp ác bất thiện đã
sanh rồi, khiến tái sanh và làm tăng trưởng; pháp thiện chưa
sanh, không cho sanh; đã sanh rồi khiến thoái thất, đó là
không chánh tư duy. Các Tỳ-kheo, không chánh tư duy, thì tà
kiến chưa sanh, khiến cho sanh, đã sanh rồi khiến tái sanh
và làm tăng trưởng; chánh kiến chưa sanh, không cho sanh; đã
sanh rồi, khiến thoái thất. Cũng vậy, tà chí, tà ngữ, tà
nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định chưa
sanh, khiến cho sanh; đã sanh rồi, khiến tái sanh và làm tăng
trưởng; chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
phương tiện, chánh niệm, chánh định chưa sanh, không cho sanh;
đã sanh rồi, khiến thoái thất.
“Này
các Tỳ-kheo, ở trong nội pháp, Ta không thấy một pháp nào
là pháp ác bất thiện chưa sanh, khiến cho sanh; pháp ác bất
thiện đã sanh rồi, khiến cho diệt; pháp thiện chưa sanh,
khiến cho sanh; pháp thiện đã sanh rồi, khiến tái sanh và
làm tăng trưởng, như nói về chánh tư duy. Các Tỳ-kheo, chánh
tư duy, thì sẽ khiến cho tà kiến chưa sanh, không sanh; tà
kiến đã sanh rồi, khiến cho diệt; chánh kiến chưa sanh, khiến
cho sanh; chánh kiến đã sanh rồi, khiến tái sanh và làm tăng
trưởng. Cũng vậy, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng,
tà phương tiện, tà niệm, tà định chưa sanh, khiến không
sanh; đã sanh rồi, khiến cho diệt; chánh chí, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh
định chưa sanh, khiến sanh; đã sanh rồi khiến tái sanh và
làm tăng trưởng.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
778. THIỆN ÁC TRI THỨC (1)[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
trong ngoại pháp, Ta không thấy một pháp nào khiến cho pháp
ác bất thiện chưa sanh lại sanh; pháp ác bất thiện đã sanh
rồi, khiến tái sanh và làm tăng trưởng, như nói về ác tri
thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng. Các Tỳ-kheo, ác tri thức,
ác bạn đảng, ác tùy tùng có thể khiến cho tà kiến chưa
sanh, khiến cho sanh; tà kiến đã sanh rồi, khiến tái sanh và
làm tăng trưởng. Cũng vậy, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà
mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định chưa sanh khiến
cho sanh; đã sanh rồi khiến tái sanh và làm tăng trưởng.
“Này
các Tỳ-kheo, ở trong ngoại pháp, Ta không thấy một pháp nào
khiến cho pháp ác bất thiện chưa sanh, không sanh; pháp ác
bất thiện đã sanh rồi, khiến cho diệt, như nói về thiện
tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng. Các Tỳ-kheo,
thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng có thể
khiến cho tà kiến chưa sanh, không sanh; tà kiến đã sanh rồi,
khiến diệt. Cũng vậy, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng,
tà phương tiện, tà niệm, tà định chưa sanh, không cho sanh;
đã sanh rồi, khiến diệt.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
779. THIỆN TRI THỨC
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
trong ngoại pháp, Ta không thấy một pháp nào có thể khiến
cho pháp thiện chưa sanh, khiến sanh; pháp thiện đã sanh rồi,
khiến tái sanh và làm tăng trưởng, như đã nói về thiện
tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng. Các Tỳ-kheo,
thiện tri thức, thiện bạn đảng, thiện tùy tùng có thể
khiến cho chánh kiến chưa sanh, sanh; chánh kiến đã sanh rồi
khiến tái sanh và làm tăng trưởng. Cũng vậy, chánh chí, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định chưa sanh, khiến sanh; đã sanh rồi khiến tái sanh
và làm tăng trưởng.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
780. THIỆN ÁC TRI THỨC (2)[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
trong ngoại pháp, Ta không thấy một pháp nào có thể khiến
cho pháp ác bất thiện chưa sanh, khiến sanh; pháp ác bất thiện
đã sanh rồi, khiến tái sanh và làm tăng trưởng; pháp thiện
chưa sanh, không cho sanh; pháp thiện đã sanh rồi, khiến cho
diệt, như đã nói về ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy
tùng. Các Tỳ-kheo, ác tri thức, ác bạn đảng, ác tùy tùng
có thể khiến cho tà kiến chưa sanh, khiến sanh; tà kiến đã
sanh rồi khiến tái sanh và làm tăng trưởng; hay chánh kiến
chưa sanh, không cho sanh; chánh kiến đã sanh, khiến thoái thất.
Cũng vậy, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương
tiện, tà niệm, tà định chưa sanh, khiến sanh; đã sanh rồi
khiến tái sanh và làm tăng trưởng; chánh chí, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định chưa sanh, khiến không sanh; đã sanh rồi, khiến
thoái thất.
“Này
các Tỳ-kheo, ở trong ngoại pháp, Ta không thấy một pháp nào
có thể khiến cho pháp ác bất thiện chưa sanh, khiến sanh;
pháp ác bất thiện đã sanh rồi, khiến diệt; hay pháp thiện
chưa sanh, khiến sanh; pháp thiện đã sanh rồi, khiến tái sanh
và làm trăng trưởng, như đã nói về thiện tri thức, thiện
bạn đảng, thiện tùy tùng. Các Tỳ-kheo, thiện tri thức,
thiện bạn đảng, thiện tùy tùng có thể khiến cho tà kiến
chưa sanh, không sanh; tà kiến đã sanh rồi khiến diệt; hay
chánh kiến chưa sanh, khiến sanh; chánh kiến đã sanh, khiến
tái sanh và làm tăng trưởng. Cũng vậy, tà chí, tà ngữ, tà
nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định chưa
sanh, khiến không sanh; đã sanh rồi khiến cho diệt; hay chánh
chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện,
chánh niệm, chánh định chưa sanh, khiến sanh; đã sanh rồi,
khiến tái sanh và làm tăng trưởng.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
781. CHÁNH BẤT CHÁNH TƯ DUY (4)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở
trong nội pháp, Ta không thấy một pháp nào có thể khiến
pháp ác bất thiện chưa sanh, cho sanh; đã sanh rồi, khiến
tái sanh và làm tăng trưởng; hay pháp thiện chưa sanh, không
cho sanh, đã sanh rồi khiến thoái thất, như đã nói về không
chánh tư duy. Các Tỳ-kheo, không chánh tư duy, có thể khiến
tà kiến chưa sanh, sanh; tà kiến đã sanh rồi khiến tái sanh
và làm tăng trưởng; hay chánh kiến chưa sanh, không cho sanh;
chánh kiến đã sanh rồi, khiến thoái thất.
“Này
các Tỳ-kheo, ở trong nội pháp, Ta không thấy một pháp nào
có thể khiến cho pháp ác bất thiện chưa sanh, khiến không
sanh; pháp ác bất thiện đã sanh rồi, khiến cho diệt; hay
pháp thiện chưa sanh, khiến cho sanh; pháp thiện đã sanh rồi,
khiến tái sanh và làm tăng trưởng, như nói về chánh tư duy.
Các Tỳ-kheo, chánh tư duy, thì có thể khiến cho tà kiến chưa
sanh, không sanh; đã sanh rồi, khiến cho diệt; chánh kiến chưa
sanh, khiến cho sanh; đã sanh rồi, khiến tái sanh và làm tăng
trưởng.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
đã nói về tà kiến và chánh kiến. Cũng vậy bảy kinh nói
về tà chí, chánh chí; tà ngữ, chánh ngữ; tà nghiệp, chánh
nghiệp; tà mạng, chánh mạng; tà phương tiện, chánh phương
tiện; tà niệm, chánh niệm; tà định, chánh định cũng nói
như trên. Như tám kinh nói về nội pháp. Cũng vậy, tám kinh
nói về ngoại pháp cũng nói như vậy.
*
KINH
782. PHI PHÁP THỊ PHÁP
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
pháp sai và pháp đúng[39]. Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta
sẽ vì các ông mà nói. Những gì là pháp sai, là pháp đúng?
Tà kiến là pháp sai; chánh kiến là pháp đúng… cho đến
tà định là pháp sai; chánh định là pháp đúng.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
Phi pháp và Thị pháp. Cũng vậy, Phi luật và Chánh luật, Phi
Thánh và Thị Thánh, Bất thiện pháp và Thiện pháp, Phi tập
pháp và Tập pháp, Phi thiện tai pháp và Thiện tai pháp, Hắc
pháp và Bạch pháp, Phi nghĩa và Chánh nghĩa, Ty pháp và Thắng
pháp, Hữu tội pháp và Vô tội pháp, Ưng khử pháp và Bất
khử pháp, kinh nào cũng đều nói như trên.
*
KINH
783. ĐOẠN THAM[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cù-sư-la tại Câu-diệm-di. Bấy
giờ Tôn giả A-nan cũng ở tại đó. Lúc ấy có Bà-la-môn
đến chỗ Tôn giả cùng thăm hỏi và khích lệ nhau. Sau khi
thăm hỏi và khích lệ nhau xong, ngồi lui qua một bên, bạïch
Tôn giả A-nan:
“Tôi
có điều muốn hỏi, Tôn giả có rảnh rỗi để ký thuyết
cho không?”
A-nan
đáp rằng:
“Theo
những gì ông hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Bà-la-môn
hỏi:
“Vì
sao xuất gia tu phạm hạnh ở chỗ Sa-môn Cù-đàm?”
A-nan
đáp:
“Này
Bà-la-môn, vì muốn cắt đứt.”
Lại
hỏi:
“Cắt
đứt những gì?”
Đáp
rằng:
“Cắt
đứt tham dục, cắt đứt sân nhuế, ngu si.”
Lại
hỏi:
“Tôn
giả A-nan, có con đường, dấu tích nào có thể cắt đứt
tham dục, sân nhuế, ngu si không?”
A-nan
đáp rằng:
“Có,
đó là tám Thánh đạo: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định.”
Bà-la-môn
nói:
“Tôn
giả A-nan, quý tốt thay con đường đó, quý tốt thay dấu
tích ấy, khi tu tập, tu tập nhiều có thể cắt đứt những
thứ tham dục, nhuế, si ấy.”
Khi
Tôn giả A-nan nói pháp này, Bà-la-môn sau khi nghe những gì
Tôn giả nói, hoan hỷ tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra
về.
Như
cắt đứt tham, nhuế, si; cũng vậy, điều phục tham, nhuế,
si và đắc Niết-bàn, cùng yểm ly và chẳng đến Niết-bàn,
cùng nghĩa Sa-môn và nghĩa Bà-la-môn, cùng giải thoát và cắt
đứt khổ, cùng cứu cánh mé khổ và chánh thức hết khổ,
kinh nào cũng đều nói như trên.[41]
*
KINH
784. TÀ CHÁNH[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
tà, có chánh. Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các
ông mà nói. Những gì là tà? Là chỉ cho tà kiến… cho đến
tà định. Những gì là chánh? Là chỉ cho chánh kiến… cho
đến chánh định.
“Thế
nào là chánh kiến? Là nói có bố thí, có chú thuyết, có
trai tự[43], có thiện hành, có ác hành, có quả báo thiện
ác hành, có đời này, có đời khác, có cha mẹ, có chúng
sanh hóa sanh[44], có A-la-hán thiện đáo[45], thiện hướng[46],
tự tri tự tác chứng đời này và đời khác, thành tựu và
an trú, ‘Ta, sự sanh đã hết, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không tái sanh đời sau[47].’
“Thế
nào là chánh chí? Là chỉ cho xuất yếu chí, vô nhuế chí,
bất hại chí[48].
“Thế
nào là chánh ngữ? Là xa lìa nói dối, xa lìa hai lưỡi, xa
lìa ác khẩu, xa lìa lời thêu dệt.
“Thế
nào là chánh nghiệp? Là lìa sát, đạo, dâm.
“Thế
nào là chánh mạng? Là cầu y phục, ẩm thực, ngọa cụ thuốc
thang đúng như pháp, chứ không phải không như pháp.
“Thế
nào là chánh phương tiện? Là dục, tinh tấn, phương tiện,
xuất ly, tinh cần, kham năng, luôn thực hành không lùi bước.
“Thế
nào là chánh niệm? Là nhớ nghĩ không dối không hư, luôn
tùy thuận.
“Thế
nào là chánh định? Là trụ tâm không loạn, kiên cố nhiếp
trì, tĩnh chỉ, nhất tâm chánh định.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
785. QUẢNG THUYẾT BÁT THÁNH ĐẠO[49]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
đã nói ở trên, nhưng có một vài sai biệt.
“Thế
nào là chánh kiến? Chánh kiến có hai: Có chánh kiến thuộc
về thế tục, hữu lậu, hữu thủ[50], chuyển hướng cõi
thiện [51]; có chánh kiến thuộc về xuất thế gian của bậc
Thánh, vô lậu, không thủ, hết khổ chân thật, hướng đến
thoát khổ[52].
“Thế
nào là chánh kiến hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng cõi
thiện? Nếu người nào thấy có bố thí, có chú thuyết…
cho đến biết thế gian có A-la-hán, không tái sanh đời sau[53].
Đó gọi là chánh kiến thế tục thuộc về thế gian, hữu
lậu, hữu thủ, chuyển hướng cõi thiện.
“Thế
nào là chánh kiến thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh,
vô lậu, không thủ, hết khổ chân thật, hướng đến thoát
khổ? Thánh đệ tử nơi Khổ tư duy Khổ; nơi Tập, Diệt,
Đạo tư duy Đạo, tương ưng với tư duy vô lậu, ở nơi pháp
mà tuyển trạch, phân biệt, suy cầu, giác tri, hiệt tuệ,
quán sát tỏ ngộ. Đó gọi là chánh kiến thuộc về xuất
thế gian của bậc Thánh, vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn
tận khổ, chuyển hướng đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh chí? Chánh chí có hai loại: Có chánh chí thuộc
về thế tục, hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng cõi thiện;
có chánh chí thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh, vô
lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng
đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh chí thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ,
chuyển hướng cõi thiện? Chánh chí giác tri về xuất yếu,
giác tri về vô nhuế, giác tri về bất hại; đó gọi là chánh
chí thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng
cõi thiện.
“Thế
nào là chánh chí thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh,
vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng
đến thoát khổ? Thánh đệ tử nơi Khổ tư duy Khổ; nơi Tập,
Diệt, Đạo tư duy Đạo, tâm pháp tương ưng với tư duy vô
lậu, phân biệt, tự quyết, ý giải, suy tính, lập y. Đó
gọi là chánh chí thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh,
vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng
đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh ngữ? Chánh ngữ có hai loại: Có loại chánh ngữ
thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng cõi
thiện; có loại chánh ngữ thuộc về xuất thế gian của bậc
Thánh, vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển
hướng đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh ngữ thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ,
hướng đến đường lành? Lời nói đúng, xa lìa lời nói
dối, hai lưỡi, ác khẩu, lời nói thêu dệt. Đó gọi là
chánh ngữ thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ, hướng
đến đường lành.
“Thế
nào là chánh ngữ thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh,
vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng
đến thoát khổ? Thánh đệ tử nơi Khổ tư duy Khổ; nơi Tập,
Diệt, Đạo tư duy Đạo, trừ tà mạng, niệm tưởng xa lìa
bốn ác hạnh của miệng và các ác hạnh khác của miệng,
xa lìa các ác hành ấy; vô lậu, viễn ly, không dính trước,
giữ chặt, nhiếp trì không phạm; không vượt qua thời tiết,
không vượt qua giới hạn. Đó gọi là chánh ngữ thuộc về
xuất thế gian của bậc Thánh, vô lậu, không thủ, chân chánh
đoạn tận khổ, chuyển hướng đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh nghiệp? Chánh nghiệp có hai loại: Có loại chánh
nghiệp thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng
cõi thiện; có loại chánh nghiệp thuộc về xuất thế gian
của bậc Thánh, vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận
khổ, chuyển hướng đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh nghiệp thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ,
chuyển hướng cõi thiện? Xa lìa sát, đạo, dâm. Đó gọi
là chánh nghiệp thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ,
chuyển hướng cõi thiện.
“Thế
nào là chánh nghiệp thuộc về xuất thế gian của bậc Thánh,
vô lậu, không thủ, chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng
đến thoát khổ? Thánh đệ tử nơi Khổ tư duy Khổ; nơi Tập,
Diệt, Đạo tư duy Đạo, trừ tà mạng, nhớ đến ba ác hạnh
nơi thân và các thứ ác hạnh khác nơi thân; vô lậu, viễn
ly, không dính trước, giữ chặt, nhiếp trì không phạm; không
vượt qua thời tiết, không vượt qua giới hạn. Đó gọi
là chánh nghiệp thuộc về xuất thế gian, vô lậu, không thủ,
chân chánh đoạn tận khổ, chuyển hướng đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh mạng? Chánh mạng có hai loại: Có loại chánh
mạng thuộc thế tục, hữu lậu, hữu thủ, chuyển hướng
cõi thiện; có loại chánh mạng thuộc xuất thế gian của
bậc Thánh, vô lậu, bất thủ, hết khổ chân thật, hướng
đến thoát khổ.
“Thế
nào là chánh mạng thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu thủ,
chuyển hướng cõi thiện? Tìm cầu y, thực, ngọa cụ, thuốc
thang theo bệnh đúng như pháp, chứ chẳng phải không như pháp.
Đó gọi là chánh mạng thuộc về thế tục, hữu lậu, hữu
thủ, chuyển hướng cõi thiện.
“Thế
nào là chánh mạng thuộc về xu