TẠP
A-HÀM QUYỂN 26
KINH
642. TRI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba căn: Căn vị tri đương tri, căn tri, căn vô tri[2]. Rồi Thế
Tôn nói kệ rằng:
Khi
hiểu biết học địa,
Tùy
thuận tiến thẳng đường;
Cần
phương tiện siêng năng,
Khéo
tự hộ tâm mình.
Tự
biết hết tái sanh,
Đạo
vô ngại đã biết;
Đã
biết giải thoát rồi,
Cuối
cùng được vô tri.
Bất
động ý giải thoát[3],
Tất
cả hữu đều dứt;
Các
căn đầy đủ cả,
Vui
nơi căn vắng lặng.
Giữ
thân sau cùng này,
Hàng
phục các ma oán.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
643. TỊNH[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn. Những gì là năm? Đó là, căn Tín, căn Tinh tấn,
căn Niệm, căn Định, căn Tuệ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
644. TU-ĐÀ-HOÀN[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn. Những gì gọi là năm? Đó là, căn Tín, căn Tinh tấn,
căn Niệm, căn Định, căn Tuệ. Nếu Tỳ-kheo nào khéo quán
sát như thật đối với năm căn này, người ấy đối với
ba kết mà đoạn biến tri[6]; đó là thân kiến, giới thủ,
nghi. Đó gọi là Tu-đà-hoàn, không còn rơi vào pháp đường
ác, nhất định sẽ hướng thẳng đến Chánh giác, còn bảy
lần qua lại Trời, Người, cuối cùng sẽ cứu cánh biên tế
của khổ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
645. A-LA-HÁN[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Đối
với năm Căn này, người nào quán sát như thật, không khởi
lên các lậu, tâm sẽ chứng đắc ly dục giải thoát[8]. Đó
gọi là A-la-hán, các lậu đã hết, việc cần làm đã làm
xong, đã lìa các gánh nặng, đã được lợi mình[9], hết
các hữu kết, bằng chánh trí mà tâm khéo giải thoát.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
646. ĐƯƠNG TRI[10]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn. Những gì gọi là năm? Căn Tín, căn Tinh tấn, căn
Niệm, căn Định, căn Tuệ. Căn Tín, nên biết, đó là bốn
Bất hoại tịnh. Căn Tinh tấn, nên biết, đó là bốn Chánh
đoạn. Căn Niệm, nên biết, đó là bốn Niệm xứ. Căn Định,
nên biết, đó là bốn Thiền. Căn Tuệ, nên biết, đó là
bốn Thánh đế.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
647. PHÂN BIỆT[11]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn. Những gì gọi là năm? Căn Tín, căn Tinh tấn, căn
Niệm, căn Định, căn Tuệ.
“Sao
gọi là căn Tín? Tỳ-kheo khởi tín tâm thanh tịnh, căn bản
bền chắc đối với Như Lai mà các Sa-môn, Bà-la-môn khác,
chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, cùng thế gian khác không
thể làm cản trở, phá hoại tâm ấy, thì đó gọi là căn
Tín.
“Sao
gọi là căn Tinh tấn? Pháp ác bất thiện đã sanh, khiến cho
đoạn mà phát khởi ý dục, nỗ lực phương tiện, nhiếp
tâm, sách tiến. Pháp ác bất thiện chưa sanh, khiến không
sanh, mà phát khởi ý dục, nỗ lực phương tiện, nhiếp tâm,
sách tiến. Pháp thiện chưa sanh, khiến cho sanh, mà phát khởi
ý dục, nỗ lực phương tiện, nhiếp tâm, sách tiến. Pháp
thiện đã sanh, khiến cho an trú không mất, khiến không sanh,
tu tập tăng rộng, mà phát khởi ý dục, nỗ lực phương tiện,
nhiếp tâm, sách tiến. Đó gọi là căn Tinh tấn.
“Sao
gọi là căn Niệm? Tỳ-kheo sống quán thân trên nội thân,
tinh cần phương tiện, chánh niệm chánh trí, điều phục tham
ưu thế gian; sống quán ngoại thân, nội ngoại thân; và thọ,
tâm, pháp trên pháp cũng nói như vậy. Đó gọi là căn Niệm.
“Sao
gọi là căn Định? Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện,
có giác có quán, có hỷ lạc do viễn ly sanh, cho đến, chứng
và an trú Tứ thiền. Đó gọi là căn Định.
“Sao
gọi là căn Tuệ? Tỳ-kheo biết như thật về Khổ Thánh đế,
biết như thật về Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế,
Khổ diệt đạo tích Thánh đế. Đó gọi là căn Tuệ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
648. LƯỢC THUYẾT[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, chỉ có một vài sai biệt:
“Nếu
Tỳ-kheo nào khéo quán sát như thật đối với năm Căn này,
người ấy đối với ba kết mà đoạn biến tri[13]; đó là
thân kiến, giới thủ, nghi. Đó gọi là Tu-đà-hoàn, không
còn rơi vào pháp đường ác, nhất định sẽ hướng thẳng
đến Chánh giác, còn bảy lần qua lại Trời, Người, cuối
cùng sẽ cứu cánh biên tế của khổ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
649. LẬU TẬN[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, chỉ có một vài sai biệt:
“Nếu
Tỳ-kheo nào, đối với năm Căn này, sau khi đã quán sát như
thật, dứt sạch các lậu, ly dục giải thoát; đó gọi là
A-la-hán, các lậu đã hết, việc cần làm đã làm xong, đã
lìa các gánh nặng, đã được lợi mình, hết các hữu kết,
bằng chánh trí mà tâm khéo giải thoát.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
650. SA-MÔN BÀ-LA-MÔN (1)[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, chỉ có một vài sai biệt:
“Các
Tỳ-kheo, nếu Ta đối với căn Tín này, sự tập khởi của
căn Tín, sự diệt tận của căn Tín, con đường đưa đến
sự diệt tận của căn Tín mà không biết như thật, thì rốt
cuộc Ta ở giữa các chúng chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn
đã không được cho là xuất, là ly, tâm lìa điên đảo và
cũng không thành tựu được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.”
Cũng
như căn Tín, căn Tinh tấn, căn Niệm, căn Định, căn Tuệ
cũng nói như vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, vì đối với căn Tín này, Ta bằng chánh trí
mà quán sát như thật; vì đối với sự tập khởi của căn
Tín, sự diệt tận của căn Tín, con đường đưa đến sự
diệt tận của căn Tín, Ta bằng chánh trí mà quán sát như
thật, nên ở giữa chúng chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn,
Ta đã xuất, đã ly, tâm lìa điên đảo, thành tựu Vô thượng,
Chánh đẳng Chánh giác.”
Cũng
như căn Tín, căn Tinh tấn, căn Niệm, căn Định, căn Tuệ
cũng nói như vậy.
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
]
KINH
651. SA-MÔN BÀ-LA-MÔN (2)[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sự sai biệt:
“Các
Tỳ-kheo, đối với sự tập khởi của căn Tín này, sự diệt
tận của căn Tín, vị ngọt của căn Tín, sự tai hoạn của
căn Tín, sự xuất ly của căn Tín, mà Ta không biết như thật,
thì Ta không được ở trong chúng chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Bà-la-môn, cho là giải thoát, là xuất, là ly, tâm lìa điên
đảo, là thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Cũng
vậy, căn Tín, căn Tinh tấn, căn Niệm, căn Định, căn Tuệ
cũng nói như vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, vì đối với căn Tín, sự tập khởi của căn
Tín, sự diệt tận của căn Tín, vị ngọt của căn Tín, sự
tai hoạn của căn Tín, sự xuất ly căn Tín, Ta biết như thật,
nên ở trong chúng chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn Ta
đã giải thoát, đã xuất, đã ly, tâm lìa điên đảo, thành
tựu được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
652. HƯỚNG[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Nếu
Tỳ-kheo nào đối với năm Căn này, hoặc nhạy bén hay đầy
đủ, thì đạt A-la-hán; hoặc mềm hay yếu kém, thì đạt
A-na-hàm; hoặc mềm hay yếu kém hơn thì đạt Tư-đà-hàm;
hoặc mềm hay yếu kém hơn nữa thì đạt Tu-đà-hoàn. Người
nào đầy đủ, thì thành tựu việc đầy đủ; người nào
không đầy đủ, thì thành tựu việc không đầy đủ[18].
Đối với năm Căn này không phải trống không, không quả.
Nếu người nào đối với năm Căn này tất cả đều cho là
không, thì Ta nói họ thuộc về số phàm phu ngoại đạo.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
653. QUẢNG THUYẾT[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sự sai khác:
“Nếu
Tỳ-kheo nào, đối với năm Căn này mà có sự tăng thượng
minh lợi, mãn túc[20] thì sẽ đạt A-la-hán Câu phần giải
thoát[21]; hoặc nhu nhuyến hay yếu kém, thì sẽ đạt Thân
chứng[22]; nơi đó hoặc nhu nhuyến hay yếu kém, thì sẽ đạt
Kiến đáo[23]; nơi đó hoặc nhu nhuyến hay yếu kém, thì sẽ
đạt Tín giải thoát[24]; nơi đó hoặc nhu nhuyến hay yếu
kém, thì sẽ đạt Nhất chủng[25]; nơi đó hoặc nhu nhuyến
hay yếu kém, thì sẽ đạt Tư-đà-hàm; nơi đó hoặc nhu nhuyến
hay yếu kém, thì sẽ đạt Gia gia[26]; nơi đó hoặc nhu nhuyến
hay yếu kém thì sẽ đạt Thất hữu[27]; nơi đó hoặc nhu
nhuyến hay yếu kém, thì sẽ đạt Pháp hành[28]; nơi đó hoặc
nhu nhuyến hay yếu kém, thì sẽ đạt Tín hành[29]. Đó gọi
là Tỳ-kheo vì nhân duyên căn ba-la-mật, nên biết quả ba-la-mật[30],
vì nhân duyên quả ba-la-mật, nên biết người ba-la-mật[31].
Người đầy đủ như vậy, thì làm việc đầy đủ; người
giảm thiểu, thì làm việc giảm thiểu[32]. Các căn này không
phải rỗng không, không quả. Nếu người nào không có các
căn này, thì Ta nói kẻ đó thuộc vào số phàm phu.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
654. TUỆ CĂN (1)[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn, những gì gọi là năm? Căn Tín, căn Tinh tấn, căn
Niệm, căn Định, căn Tuệ. Năm Căn này, căn Tuệ nhiếp thọ
tất cả. Thí như các thứ cây gỗ của nhà, gác, thì cây
đòn nóc là ở trên hết, mọi cây gỗ khác đều nương vào
cây đòn nóc mà giữ yên. Như vậy trong năm căn, Tuệ thâu
nhiếp tất cả nên Tuệ trên hết.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
655. TUỆ CĂN (2)[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn. Những gì gọi là năm? Căn Tín, căn Tinh tấn, căn
Niệm, căn Định, căn Tuệ. Căn Tín, nên biết, đó là bốn
Bất hoại tịnh. Căn Tinh tấn, nên biết, đó là bốn Chánh
đoạn. Căn Niệm, nên biết, đó là bốn Niệm xứ. Căn Định,
nên biết, đó là bốn Thiền. Căn Tuệ, nên biết, đó là
bốn Thánh đế.
“Các
công đức này Tuệ đứng hàng đầu, vì Tuệ nhiếp trì tất
cả.”
Cho
đến sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những
gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
656. TUỆ CĂN (3)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn, những gì gọi là năm? Căn Tín, căn Tinh tấn, căn
Niệm, căn Định, căn Tuệ.
“Thánh
đệ tử thành tựu căn Tuệ thì có thể tu tập căn Tín, y
viễn ly, y vô dục, y tịch diệt, hướng đến xả. Đó gọi
là thành tựu căn Tín. Thành tựu căn Tín tức là căn Tuệ.
“Như
căn Tín, cũng vậy căn Tinh tấn, căn Niệm, căn Định, căn
Tuệ cũng nói như vậy.
“Cho
nên khi đối với năm căn này, căn Tuệ đứng hàng đầu vì
nhiếp trì tất cả. Thí như các thứ cây gỗ của nhà, gác,
thì cây đòn nóc là ở trên hết, mọi cây gỗ khác đều
nương vào cây đòn nóc mà giữ yên. Như vậy trong năm căn,
Tuệ trên hết vì Tuệ thâu nhiếp tất cả.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
657. TUỆ CĂN (4)
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn, những gì gọi là năm? Căn Tín, căn Tinh tấn, căn
Niệm, căn Định, căn Tuệ.
“Thánh
đệ tử thành tựu căn Tín, học như vầy: ‘Thánh đệ tử
sanh tử từ vô thỉ. Bị vô minh che lấp, ái trói buộc, chúng
sanh mãi mãi trôi lăn qua lại trong sanh tử, không biết bản
tế. Vì có nhân nên có sanh tử. Nếu nhân vĩnh viễn đoạn
tận thì sẽ không có sanh tử. Vô minh là khối tối tăm vĩ
đại làm chướng ngại, ai nhập Bát-niết-bàn? mà chỉ có
khổ diệt, khổ dứt, mát mẻ không còn (?).’ Như căn Tín,
cũng vậy căn Tinh tấn, căn Niệm, căn Định, căn Tuệ cũng
nói như vậy. Trong năm Căn này, Tuệ nhiếp trì tất cả nên
nó là hàng đầu. Thí như cây đòn nóc của nhà gác, vì nó
giữ vững các cây nên nó ở trên hết.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
658. TUỆ CĂN (5)[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn, là Căn Tín, căn Tinh tấn, căn Niệm, căn Định, căn
Tuệ.
“Thế
nào là căn Tín? Tín tâm mà Thánh đệ tử phát khởi nơi Như
Lai[36], có gốc rễ bền chặt, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Bà-la-môn cùng các pháp thế gian không thể nào phá hoại được;
đó gọi là căn Tín. Thế nào là căn Tinh tấn? Là bốn Chánh
đoạn. Thế nào là căn Niệm? Là bốn Niệm xứ. Thế nào
là căn Định? Là bốn Thiền. Thế nào là căn Tuệ? Là bốn
Thánh đế. Những công đức này đều lấy Tuệ làm đầu,
thí như nhà, gác, cây đòn nóc là ở trên hết.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
659. TUỆ CĂN (6)[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn, những gì là năm? Đó là, căn Tín, căn Tinh tấn,
căn Niệm, căn Định, căn Tuệ.
“Thế
nào là căn Tín? Tín tâm thanh tịnh màThánh đệ tử phát khởi
nơi Như Lai khi phát tâm Bồ-đề[38]; đó gọi là căn Tín.
Thế nào là căn Tinh tấn? Tinh tấn phương tiện được phát
khởi đối với Như Lai khi mới phát tâm Bồ-đề[39]; đó
gọi là căn Tinh tấn. Thế nào là căn Niệm? Niệm được
phát khởi đối với Như Lai lúc mới phát tâm Bồ-đề; đó
gọi là căn Niệm. Thế nào là căn Định? Tam-muội được
phát khởi đối với Như Lai khi mới phát tâm Bồ-đề khởi
Tam-muội; đó gọi là căn Định. Thế nào là căn Tuệ? Tuệ
được phát khởi đối với Như Lai lúc bắt đầu phát tâm
Bồ-đề; đó gọi là căn Tuệ. Còn những thí dụ về nhà,
gác thì như đã nói ở trên.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
660. KHỔ ĐOẠN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Căn, những gì là năm? Đó là, căn Tín, căn Tinh tấn,
căn Niệm, căn Định, căn Tuệ. Đối với năm Căn này, nếu
tu tập, tu tập nhiều, thì tất cả những cái khổ quá khứ,
hiện tại, vị lai đều sẽ dứt sạch.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
đoạn khổ, cũng vậy cứu cánh biên tế khổ, đoạn tận
khổ, dập tắt khổ, diệt tận khổ, qua dòng khổ, giải thoát
mọi trói buộc, tổn hại sắc, đoạn tận tất cả lậu quá
khứ, hiện tại, vị lai; đều cũng nói như vậy.
*
KINH
661. NHỊ LỰC (1)[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai loại sức mạnh. Những gì là hai? Sức mạnh của số[41]
và sức mạnh của tu[42]. Thế nào là sức mạnh của số?
Thánh đệ tử ở dưới bóng cây, ngồi trong rừng vắng, tư
duy như vầy: ‘Đối với ác hành của thân, đời này và
đời sau chịu báo ác. Nếu thân ta làm hạnh ác, thì tự ta
phải tự chê trách và khiến người khác cũng chê trách ta.
Đại Sư của ta cũng sẽ chê trách ta, Đại đức phạm hạnh
của ta cũng chê trách ta. Ta sẽ bị khiển trách đúng pháp,
tiếng ác của ta vang khắp, sau khi thân hoại mạng chung sẽ
đọa ác thú, sanh trong địa ngục. Quả báo đời này và đời
sau như vậy. Đoạn trừ ác hành của thân; tu thiện hành của
thân. Cũng như thân làm ác, miệng, ý làm ác cũng nói như
vậy. Đó gọi là sức mạnh của số. Thế nào là sức mạnh
của tu? Tỳ-kheo học sức mạnh của số; Thánh đệ tử đã
thành tựu được sức mạnh của số rồi, tùy thuận mà đạt
được sức mạnh của tu. Khi sức mạnh của tu đã được
rồi, thì sức mạnh của tu sẽ đầy đủ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
662. NHỊ LỰC (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
đã nói ở trên, nhưng có một vài sai biệt:
“Thánh
đệ tử đã học sức mạnh của số đã thành tựu, tham,
nhuế, si hoặc tiết hoặc giảm, hoặc hết sạch. Thánh đệ
tử y trên sức mạnh của số, xác lập trên sức mạnh của
số như vậy, tùy thuận mà đạt được sức mạnh của tu
lực. Khi sức mạnh của tu đã được rồi, thì sức mạnh
của tu sẽ đầy đủ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
663. NHỊ LỰC (3)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Cái
gì là sức mạnh của tu? Đó là bốn Niệm xứ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như
bốn Niệm xứ, cũng vậy tu bốn Chánh đoạn, bốn Như ý túc,
năm Căn, năm Lực, bảy Giác phần, tám Thánh đạo phần, Bốn
đạo[43], Bốn pháp cú[44], Chỉ quán, cũng nói như vậy.[45]
*
KINH
664. TAM LỰC (1)[46]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba thứ lực. Những gì là ba? Đó là lực Tín, lực Tinh tấn,
lực Tuệ. Lại có ba lực. Những gì là ba? Đó là lực Tín,
lực Niệm, lực Tuệ. Lại có ba lực. Những gì là ba? Đó
là lực Tín, lực Định, lực Tuệ.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
665. TAM LỰC (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba lực; đó là lực Tín, lực Tinh tấn, lực Tuệ. Như vậy
Tỳ-kheo phải học như vầy: ‘Ta phải thành tựu lực Tín,
lực Tinh tấn, lực Tuệ.’”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
666. TAM LỰC (3)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba lực: lực Tín, lực Niệm, lực Tuệ. Lực Tín là thế nào?
Thánh đệ tử, đối với Như Lai, đã thâm nhập tịnh tín,
căn bản vững chắc, không có chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Bà-la-môn cùng những kẻ đồng pháp nào có thể phá hoại
được. Đó gọi là lực Tín. Lực Tinh tấn là những gì?
Là bốn Chánh đoạn. Lực Tuệ là những gì? Là bốn Thánh
đế.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
667. TỨ LỰC (1)[47]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn lực. Những gì là bốn? Lực Tín, lực Tinh tấn, lực
Niệm, lực Tuệ. Lại có bốn lực: lực Tín, lực Niệm, lực
Định, lực Tuệ. Lại có bốn lực: lực Giác, lực Tinh tấn,
lực Vô tội, lực Nhiếp.”
Ba
lực của những kinh này cũng nói như trên, nhưng chỉ có một
vài sai biệt:
“Lực
Giác là thế nào? Biết như thật, đối với pháp thiện, bất
thiện; biết như thật là có tội, không tội; đáng thân cận[48],
không thân cận; pháp thấp kém, pháp thắng diệu; pháp đen,
pháp trắng; pháp có phân biệt, pháp không phân biệt; pháp
duyên khởi, pháp phi duyên khởi. Đó gọi là lực Giác. Lực
Tinh tấn là những gì? Là bốn Chánh đoạn như đã nói đầy
đủ ở trước. Lực không tội là thế nào? Là thân, miệng,
ý không tạo tội; đó gọi là lực không tội. Lực Nhiếp
là những gì? Là bốn nhiếp sự. Đó là Huệ thí, Ái ngữ,
Hành lợi, Đồng lợi.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
668. TỨ NHIẾP SỰ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Bố
thí tối thắng, đó là pháp thí. Ái ngữ tối thắng, là khiến
thiện nam tử thích nghe, nói pháp đúng lúc. Hành lợi[49] tối
thắng là đối với người không có tín khiến có tín, xác
lập trên tín; đối với người học giới thì xác lập bằng
tịnh giới; đối với người bỏn sẻn thì bằng bố thí;
đối với người ác trí tuệ thì bằng chánh trí mà xác lập.
Đồng lợi[50] tối thắng là, A-la-hán thì trao cho quả A-la-hán[51].
A-na-hàm thì trao cho A-na-hàm. Tư-đà-hàm thì trao cho Tư-đà-hàm.
Tu-đà-hoàn thì trao cho Tu-đà-hoàn. Người Tịnh giới thì
trao người khác bằng Tịnh giới.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
669. NHIẾP[52]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Nếu
như có pháp nào để nhiếp thủ đại chúng thì tất cả đều
ở trong Bốn nhiếp sự. Hoặc một nhiếp thủ là bố thí,
hoặc một nhiếp thủ là ái ngữ, hoặc một nhiếp thủ là
hành lợi, hoặc một nhiếp thủ là đồng lợi. Ở trong thời
quá khứ, những pháp nào đã nhiếp thủ đại chúng trong thời
quá khứ cũng không ngoài bốn nhiếp sự. Những pháp nào sẽ
nhiếp thủ đại chúng trong thời vị lai cũng không ngoài bốn
nhiếp sự. Hoặc một pháp nhiếp thủ là bố thí, hoặc một
pháp nhiếp thủ là ái ngữ, hoặc một pháp nhiếp thủ là
hành lợi, hoặc một pháp nhiếp thủ là đồng lợi.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Bố
thí cùng ái ngữ,
Hoặc
hành vi hành lợi,
Đồng
lợi các hành vi,
Mỗi
tùy chỗ thích hợp.
Nhờ
đây nhiếp thế gian,
Như
xe lăn nhờ gang[53].
Đời
không Bốn nhiếp sự,
Quên
ơn mẹ nuôi con.
Cũng
không tôn trọng cha,
Không
khiêm tốn phụng sự.
Vì
có bốn nhiếp sự,
Và
tùy thuạân pháp này.
Cho
nên có Đại sĩ,
Đức
trùm cả thế gian[54].
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
670. TỨ LỰC (2)[55]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
Bốn lực. Những gì là bốn? Đó là lực Giác, lực Tinh tấn,
lực Vô tội, lực Nhiếp, như trên đã nói. Nếu Tỳ-kheo nào
thành tựu được bốn lực này, thì tránh xa được năm sự
sợ hãi. Những gì là năm? Sợ không sống, sợ tiếng xấu,
sợ giữa đám đông, sợ chết, sợ đường ác. Đó gọi là
năm sự sợ hãi.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
671. TỨ LỰC (3)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Thánh
đệ tử thành tựu Bốn lực này, phải học như vầy: ‘Ta
chẳng sợ không sống. Vì lý do gì mà ta phải sợ không sống?
Nếu ai mà thân hành hạnh bất tịnh, miệng hành hạnh bất
tịnh, ý hành hạnh bất tịnh, làm các việc tà tham, bất
tín, biếng nhác, không tinh tấn, mất niệm, không định, ác
tuệ, keo lẫn không nhiếp thủ; thì kẻ đó đáng sợ không
sống. Ta có bốn lực, đó là Giác lực, Tinh tấn lực, Vô
tội lực, Nhiếp lực. Vì đã thành tựu bốn lực này, nên
chẳng nên sợ. Như sợ không sống, cũng vậy sợ tiếng xấu,
sợ ở giữa đám đông, sợ chết, sợ đường ác cũng nói
như trên’...”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
672. TỨ LỰC (4)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
bốn lực; đó là Giác lực, Tinh tấn lực, Vô tội lực, Nhiếp
lực. Giác lực là thế nào? Là chỉ cho tuệ, đại tuệ, thâm
tuệ, nan thắng tuệ; đó gọi là giác lực. Tinh tấn lực
là thế nào? Là xa lìa đối với pháp bất thiện, số bất
thiện[56]; pháp đen, số đen; pháp có tội, số có tội, pháp
không nên thân cận, số không nên thân cận. Sau khi tránh xa
các pháp này rồi, nếu đối với các pháp thiện, số thiện;
pháp trắng, số trắng, pháp vô tội, số vô tội, pháp nên
thân cận, số nên thân cận, những pháp như vậy mà tu tập,
tăng thượng tinh cần, nỗ lực phương tiện, kham năng, chánh
niệm, chánh trí; đó gọi là Tinh tấn lực. Còn vô tội lực,
nhiếp lực như kinh trên đã nói.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
673. NGŨ LỰC[57]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm Lực. Những gì là năm? Đó là Tín lực, Tinh tấn lực,
Niệm lực, Định lực, Tuệ lực.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
674. NGŨ LỰC ĐƯƠNG THÀNH TỰU
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Các
Tỳ-kheo nên học như vầy: ‘Ta nên nỗ lực tinh tấn, thành
tựu Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Định lực, Tuệ
lực.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
675. ĐƯƠNG TRI NGŨ LỰC[58]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Tín
lực kia, nên biết, đó là Bốn bất hoại tín. Tinh tấn lực,
đó là bốn Chánh đoạn. Niệm lực là bốn Niệm xứ. Định
lực là bốn Thiền. Tuệ lực là bốn Thánh đế.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
676. ĐƯƠNG HỌC NGŨ LỰC
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Cho
nên, các Tỳ-kheo nên học như vầy: Ta nên thành tựu Tín lực,
Tinh tấn lực, Niệm lực, Định lực, Tuệ lực.’”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
677. NGŨ HỌC LỰC[59]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
năm học lực[60]. Những gì là năm? Tín lực là học lực,
Tinh tấn lực là học lực, Tàm lực là học lực, Quý lực
là học lực, Tuệ lực là học lực[61].”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
678. ĐƯƠNG THÀNH HỌC LỰC (1)[62]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Các
Tỳ-kheo nên học như vầy: Ta nên thành tựu tín lực là học
lực[63]; nên thành tựu tinh tấn lực là học lực; nên thành
tựu tàm lực là học lực; nên thành tựu quý lực là học
lực; nên thành tựu tuệ lực là học lực.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
679. QUẢNG THUYẾT HỌC LỰC[64]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Tín
lực là học lực, là thế nào? Tỳ-kheo khéo thâm nhập tín
tâm đối với Như Lai, gốc rễ bền chắc mà các Sa-môn, Bà-la-môn
khác, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, cùng đồng pháp
khác không thể phá hoại; đó gọi là căn Tín.
“Tinh
tấn lực là học lực, là thế nào? Là bốn Chánh đoạn,
như đã nói đầy đủ ở trước.
“Tàm
lực là học lực, là thế nào? Là hổ thẹn, xấu hổ đối
với pháp ác, bất thiện, các số phiền não[65] đã khởi,
sẽ phải chịu các quả báo khổ bức bách của sanh, lão bệnh,
tử, ưu, bi, khổ, não ở trong đời vị lai. Đó gọi là Tàm
lực là học lực.
“Quý
lực là học lực, là thế nào? Là lấy làm thẹn các điều
đáng thẹn, tự thẹn về các pháp ác, bất thiện, các số
phiền não đã khởi, sẽ phải chịu các quả báo khổ bức
bách của sanh, lão bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não ở trong đời
vị lai. Đó gọi là Quý lực là học lực.
“Tuệ
lực là học lực, là thế nào? Là Thánh đệ tử trụ trí
tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt của thế gian,
về sự xuất ly, yểm ly của Thánh hiền, về sự chân chánh
diệt tận khổ đã quyết định. Đó gọi là Tuệ lực là
học lực.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
680. ĐƯƠNG THÀNH HỌC LỰC (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như
trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Cho
nên các Tỳ-kheo phải học như vầy: ‘Ta sẽ thành tựu Tín
lực là học lực, Tinh tấn lực, Tàm lực, Quý lực, Tuệ
lực là học lực’.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
681. BẠCH PHÁP (1)[66]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo nào đối với pháp thiện mà thay đổi hoặc thoái
thất, hay không trụ lâu, thì Tỳ-kheo khác nên[67] dùng năm
thứ bạch pháp đến quở trách họ. Những gì là năm? Bảo
rằngï: ‘Ông không có tín thâm nhập trong các pháp thiện[68].
Nếu y trên tín thì có thể xa lìa được pháp bất thiện,
tu các pháp thiện. Ông không tinh tấn, không tàm, không quý;
không tuệ thâm nhập pháp thiện[69]. Nếu y trên tuệ, có thể
xa lìa các pháp bất thiện, tu các pháp thiện. Nếu Tỳ-kheo
nào, đối với Chánh pháp mà không đổi thay, không thoái thất,
trụ lâu, thì Tỳ-kheo khác nên dùng năm thứ bạch pháp đến
chúc mừng. Những gì là năm? Có chính tín thâm nhập pháp.
Nếu y trên tín, thì xa lìa được pháp bất thiện, tu các
pháp thiện. Tinh tấn, có tàm, có quý, có tuệ thâm nhập.
Nếu người nào y cứ vào tuệ, thì xa lìa được pháp bất
thiện, tu các pháp thiện.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
682. BẠCH PHÁP (2)[70]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo nào hoàn giới, thoái thất giới[71], Tỳ-kheo khác
nên dùng năm thứ bạch pháp đến quở trách[72]. Những gì
là năm? Hoặc Tỳ-kheo không có tín đối với pháp thiện.
Nếu y trên tín, thì tránh xa pháp bất thiện, tu các pháp thiện.
Hoặc không có tinh tấn, tàm, quý và tuệ thâm nhập pháp thiện.
Nếu y trên tuệ, thì xa lìa pháp bất thiện, tu các pháp thiện.
“Nếu
có Tỳ-kheo suốt đời thanh tịnh thuần nhất, phạm hạnh
thanh bạch, thì Tỳ-kheo khác nên dùng năm thứ bạch pháp đến
an ủi, khuyến khích, như trên đã nói.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
683. BẤT THIỆN PHÁP
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào, hoặc không muốn pháp ác bất thiện sanh khởi,
duy chỉ có tín nơi pháp thiện. Nếu tín bị thoái giảm, an
trú lâu dài nơi bất tín, các pháp bất thiện lại sanh,…
cho đến nếu muốn cho các pháp ác bất thiện không còn sanh,
duy chỉ có tinh tấn, tàm, quý, tuệ. Nếu tinh tấn, tàm, quý,
tuệ lực bị thoái giảm an trú lâu dài với ác tuệ, thì
pháp ác bất thiện sẽ sanh ra. Nếu Tỳ-kheo nào y trên tín,
thì sẽ xa lìa được pháp bất thiện, tu các pháp thiện.
Người nào y cứ vào tinh tấn, tàm, quý, tuệ, thì lìa được
pháp ác bất thiện và tu các pháp thiện.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
684. THẬP LỰC[73]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo, đối với sắc sanh tâm yểm ly, ly dục, diệt tận,
không sanh khởi, giải thoát; đó gọi là A-la-ha Tam-miệu-tam
Phật-đà. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng nói như
vậy. Lại, nếu Tỳ-kheo nào đối với sắc sanh tâm yểm ly,
ly dục không sanh khởi, giải thoát; đó gọi là A-la-hán tuệ
giải thoát. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng nói như
vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, giữa Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác và
A-la-hán tuệ giải thoát có những gì sai khác?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc của pháp, là mắt của pháp, là nơi y cứ của
pháp, xin vì chúng con mà nói, các Tỳ-kheo sau khi nghe xong sẽ
lãnh thọ, phụng hành.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ! Ta sẽ vì các ông mà nói. Như Lai,
Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đối với pháp trước kia chưa
nghe, thì có thể tự giác tri, ngay trong đời hiện tại tự
thân chứng ngộ, thành Chánh giác; đối với đời vị lai
có thể giảng nói Chánh pháp, giác ngộ các Thanh văn; tức
là, bốn Niệm xứ, bốn Chánh đoạn, bốn Như ý túc, năm
Căn, năm Lực, bảy Giác phần, tám Thánh đạo phần. Đó gọi
là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đối với pháp chưa
chứng đắc thì có thể sẽ chứng đắc; phạm hạnh chưa
chế có thể chế; có thể khéo biết đạo, khéo nói đạo,
vì chúng sanh mà dẫn đường. Sau đó, Thanh văn thành tựu
tùy thuận pháp, tùy thuận đạo, vui thích vâng lời giáo giới,
giáo thọ của Đại Sư, nên khéo thâm nhập Chánh pháp. Đó
gọi là những sự sai khác giữa Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác và A-la-hán tuệ giải thoát.
“Lại
nữa, có năm học lực, mười lực Như Lai.
“Những
gì là học lực? Đó là tín lực, tinh tấn lực, niệm lực,
định lực, tuệ lực.
“Những
gì là mười lực của Như Lai? Như Lai biết như thật về
xứ, phi xứ[74], đó gọi là lực thứ nhất của Như Lai. Nếu
thành tựu lực này, thì Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác
đạt được trí tối thắng xứ như Phật quá khứ[75], có
thể chuyển Phạm luân, ở giữa đại chúng, rống lên tiếng
rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai biết như thật về việc thọ quả tạo nhân
báo của nghiệp[76] quá khứ, vị lai, hiện tại; đó gọi
là lực thứ hai của Như Lai. Nếu thành tựu được lực này,
Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đạt được trí tối
thắng xứ như Phật quá khứ, có thể chuyển Phạm luân, ở
giữa đại chúng rống lên tiếng rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác biết như thật về
nhiễm ác, thanh tịnh, xứ tịnh[77], của các thiền, giải
thoát, tam-muội, chánh thọ, đó gọi là lực thứ ba của Như
Lai. Nếu thành tựu được lực này, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác đạt được trí tối thắng xứ như Phật quá khứ,
có thể chuyển Phạm luân, ở giữa đại chúng rống lên tiếng
rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai biết như thật những sai biệt căn tánh khác
nhau của tất cả các loài chúng sanh; đó gọi là lực thứ
tư của Như Lai. Nếu thành tựu được lực này, Như Lai, Ứng
Cúng, Đẳng Chánh Giác đạt được trí tối thắng xứ như
Phật quá khứ, có thể chuyển Phạm luân, ở giữa đại chúng
rống lên tiếng rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai biết như thật về tất cả mọi ý giải của
chúng sanh; đó gọi là lực thứ năm của Như Lai. Nếu thành
tựu được lực này, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác
đạt được trí tối thắng xứ như Phật quá khứ, có thể
chuyển Phạm luân, ở giữa đại chúng rống lên tiếng rống
sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai biết như thật về tất cả các giới loại khác
nhau của thế gian chúng sanh; đó gọi là lực thứ sáu của
Như Lai. Nếu thành tựu được lực này, Như Lai, Ứng Cúng,
Đẳng Chánh Giác đạt được trí tối thắng xứ như Phật
quá khứ, có thể chuyển Phạm luân, ở giữa đại chúng rống
lên tiếng rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai biết như thật về tất cả chí xứ đạo[78],
đó gọi là lực thứ bảy của Như Lai. Nếu thành tựu được
lực này, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đạt được
trí tối thắng xứ như Phật quá khứ, có thể chuyển Phạm
luân, ở giữa đại chúng rống lên tiếng rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai biết như thật về túc mạng, nhớ những sự
khác nhau trong đời sống, từ một đời cho đến trăm, ngàn
đời, từ một kiếp cho đến trăm, ngàn kiếp; Ta bấy giờ
sanh vào chủng tộc như vậy, dòng họ như vậy, tên như vậy,
ăn như vậy, cảm giác khổ lạc như vậy, tuổi thọ như vậy,
sống lâu như vậy, mạng sống chấm dứt như vậy; ở chỗ
kia Ta chết đi, ở chỗ này sanh ra, chỗ này sanh ra, chỗ kia
chết đi, hành như vậy, nhân như vậy, phương như vậy; đó
gọi là lực thứ tám của Như Lai. Nếu thành tựu được
lực này, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đạt được
trí tối thắng xứ như Phật quá khứ, có thể chuyển Phạm
luân, ở giữa đại chúng rống lên tiếng rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai bằng thiên nhãn hơn mắt người thường, thấy
chúng sanh lúc sanh lúc chết, đẹp, xấu, thua, hơn, hướng
về đường ác, hướng về đường thiện, theo nghiệp mà
thọ báo, tất cả biết như thật; chúng sanh này do nghiệp
ác của thân thành tựu, do nghiệp ác của miệng, ý thành
tựu, hủy báng Hiền thánh, sẽ mắc nghiệp tà kiến, vì nhân
duyên này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đọa vào đường
ác, sanh vào trong địa ngục; chúng sanh này, thân làm việc
thiện, miệng, ý làm việc thiện, không hủy báng Hiền thánh,
sẽ lãnh nghiệp chánh kiến, vì nhân duyên này, sau khi thân
hoại mạng chung, sẽ sanh về đường thiện cõi trời; tất
cả biết như thật; đó gọi là lực thứ chín của Như Lai.
Nếu thành tựu được lực này, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác đạt được trí tối thắng xứ như Phật quá khứ,
có thể chuyển Phạm luân, ở giữa đại chúng rống lên tiếng
rống sư tử.
“Lại
nữa, Như Lai đã dứt sạch các lậu, tâm giải thoát vô l