TẠP
A-HÀM QUYỂN 25
KINH
640. PHÁP DIỆT TẬN TƯỚNG[1]
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
“Trong
đời tương lai, nước Ma-thâu-la[2] này sẽ có con một thương
nhân tên là Quật-đa[3]. Quật-đa có con tên là Ưu-ba-quật-đa[4],
sau khi Ta diệt độ một trăm năm, sẽ làm Phật sự, là vị
tối đệ nhất trong những vị thầy Giáo thọ. Này A-nan, ngươi
có thấy cụm rừng màu xanh ở đàng xa kia không?”
A-nan
bạch Phật:
“Thưa
vâng, con đã thấy, bạch Thế Tôn!”
“A-nan,
nơi đó gọi là núi Ưu-lưu-mạn-trà[5]. Sau khi Như Lai diệt
độ một trăm năm, núi này có nơi A-lan-nhã là Na-tra-bạt-trí[6].
Nơi này thích hợp bậc nhất cho sự tịch tịnh vắng lặng.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nghĩ như vầy: ‘Nếu Ta đem giáo pháp
phó chúc cho loài Người thì sợ rằng giáo pháp của Ta sẽ
không tồn tại lâu dài. Nếu phó chúc cho loài Trời, thì cũng
sợ rằng giáo pháp của Ta không tồn tại lâu dài và con người
thế gian sẽ không có người nào nhận lãnh giáo pháp. Nay
Ta nên đem Chánh pháp phó chúc cho cả Trời, Người. Chư Thiên
và Người thế gian cùng nhau nhiếp thọ pháp, thì giáo pháp
của Ta sẽ không bị dao động trong một ngàn năm.’
Khi
ấy, Thế Tôn đang khởi tâm thế tục. Bấy giờ, Thiên đế
Thích và bốn Đại Thiên vương biết tâm niệm của Phật,
đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, ngồi
lui qua một bên.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Thiên đế Thích và Tứ thiên vương:
“Như
Lai không còn bao lâu sẽ ở nơi Vô dư Niết-bàn mà vào Bát-niết-bàn.
Sau khi Ta vào Bát-niết-bàn, các ông nên hộ trì Chánh pháp.”
Rồi
Thế Tôn lại bảo Thiên vương phương Đông:
“Ông
nên hộ trì Chánh pháp phương Đông.”
Lại
bảo Thiên vương phương Bắc, phương Tây, phương Nam:
“Các
ông nên hộ trì Chánh pháp ở phương Bắc… Sau một ngàn
năm, khi giáo pháp của Ta bị diệt, ở thế gian sẽ xuất
hiện phi pháp và mười điều lành ắt sẽ bị hoại. Trong
cõi Diêm-phù-đề gió dữ sẽ bạo khởi, mưa không đúng thời,
nhân thế phần nhiều đói kém. Mưa thì bị nạn mưa đá;
sông rạch khô cạn, hoa quả thì không đậu; con người thì
không còn nước da tươi sáng. Trùng thôn, quỷ thôn[7], tất
cả đều bị tiêu diệt. Đồ ăn thức uống không còn mùi
vị. Trân bảo chìm mất. Nhân dân ăn uống các loại cỏ thô
nhám.
“Bấy
giờ có Thích-ca vương, Da-bàn-na vương[8], Bát-la-bà vương[9],
Đâu-sa-la vương[10], cùng nhiều quyến thuộc. Bát Phật, răng
Phật, đảnh cốt của Như Lai được an trí ở phương Đông.
Phương Tây có vua tên là Bát-la-bà, cùng trăm ngàn quyến thuộc,
phá hoại chùa tháp, giết hại Tỳ-kheo. Phương Bắc có vua
tên là Da-bàn-na cùng trăm ngàn quyến thuộc phá hoại chùa
tháp, giết hại Tỳ-kheo. Phương Nam có vua tên là Thích-ca,
cùng trăm ngàn quyến thuộc phá hoại chùa tháp, giết hại
Tỳ-kheo. Phương Đông có vua tên là Đâu-sa-la cùng trăm ngàn
quyến thuộc phá hoại chùa tháp, giết hại Tỳ-kheo. Bốn
phương đều loạn, các Tỳ-kheo phải tập trung vào nước
giữa.
“Lúc
ấy, có vua nước Câu-diệm-di tên là Ma-nhân-đà-la-tây-na[11],
sanh một người con, tay tựa thoa máu, thân như giáp trụ, có
sức dũng mãnh. Cùng ngày sanh vương tử này, năm trăm đại
thần cũng sanh ra năm trăm người con đều giống như vương
tử, tay như thoa máu, thân như giáp trụ.
“Bấy
giờ, nước Câu-diệm-di có một ngày mưa máu. Vua Câu-diệm-di
thấy hiện tượng ác này thì vô cùng sợ hãi. Vua cho mời
thầy tướng hỏi. Thầy tướng tâu vua:
“–Nay
vua sanh con, người này sẽ làm vua cõi Diêm-phù-đề, sẽ giết
hại nhiều người. Sanh con được bảy ngày đặt tên là Nan
Đương. Theo năm tháng dần dần trưởng thành, bấy giờ bốn
vua ác ở bốn nơi kéo đến, sát hại nhân dân.
“Vua
Ma-nhân-đà-la-tây-na nghe việc này thì sợ hãi.
“Bấy
giờ, có vị Thiên thần báo rằng:
“–Đại
vương nên lập Nan Đương lên làm vua, thì mới có đủ khả
năng hàng phục bốn vua ác kia.”
“Lúc
ấy vua Ma-nhân-đà-la-tây-na vâng lời dạy của Thiên thần,
liền nhường vương vị cho con, lấy hạt minh châu trong búi
tóc, đặt lên đầu con mình. Tập hợp các đại thần, dùng
nước thơm rưới lên đỉnh đầu con. Triệu tập những người
con sanh cùng ngày của năm trăm đại thần, thân mặc giáp
trụ, theo vua ra trận, đã chiến thắng và giết hại tất
cả những người của bốn vua ác kia, làm vua cõi Diêm-phù-đề,
cai trị nước Câu-diệm-di.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tứ đại Thiên vương:
“Tại
nước Ba-liên-phất, sẽ có Bà-la-môn tên là A-kỳ-ni-đạt-đa[12],
thông đạt kinh luận Tỳ-đà[13]. Bà-la-môn này sẽ cưới
vợ, sau đó có chúng sanh trung ấm sẽ đến làm con. Lúc vào
thai mẹ, người mẹ rất thích luận nghị cùng người. Bà-la-môn
này liền hỏi các ông tướng. Thầy tướng trả lời rằng:
‘Vì chúng sanh ở trong thai này sẽ thông đạt tất cả các
luận thuyết, cho nên khiến người mẹ sanh ra tâm ưa thích
luận nghị với người như vậy.’ Như vậy, khi đủ ngày
tháng, ra khỏi thai mẹ, trở thành một đồng tử thông đạt
tất cả các thứ kinh luận. Thường dùng kinh luận để truyền
dạy cho năm trăm người con Bà-la-môn; ngoài ra còn đem các
thứ luận khác truyền dạy cho mọi người; dùng y phương
dạy cho người học thuốc, nên có rất nhiều đệ tử như
vậy. Vì có rất nhiều đệ tử nên gọi là ‘Đệ Tử’[14].
Sau đó cầu xin cha mẹ đi xuất gia học đạo. Cho đến khi
cha mẹ đã chấp thuận ông xuất gia, ông liền xuất gia học
đạo ở trong pháp của Ta, thông đạt ba tạng, thường khéo
thuyết pháp, nói năng biện tài lưu loát, thu phục rất nhiều
quyến thuộc.”
Lại
nữa, Thế Tôn bảo Tứ đại Thiên vương:
“Trong
ấp Ba-liên-phất này sẽ có đại thương chủ tên là Tu-đà-na[15],
có chúng sanh trung ấm đến nhập thai mẹ. Chúng sanh kia khi
vào thai mẹ, khiến cho người mẹ chất trực, nhu hòa, không
có tâm niệm tà, các căn trầm lặng. Bấy giờ thương chủ
liền hỏi các ông tướng. Thầy tướng trả lời rằng: ‘Vì
chúng sanh ở trong thai cực kỳ lương thiện cho nên khiến
cho người mẹ như vậy,… cho đến các căn trầm lặng.’
Đến khi đủ ngày tháng, đồng tử ra đời, đặt tên là
Tu-la-tha; theo năm tháng trưởng thành. Cho đến một hôm đồng
tử bộc bạch cùng cha mẹ, cầu xin xuất gia học đạo, cha
mẹ đều đồng lòng. Đồng tử này xuất gia học đạo ở
trong pháp của Ta, luôn nỗ lực siêng năng tu tập đạo nghiệp,
chứng đắc lậu tận, chứng quả A-la-hán. Song ít học, ít
muốn, biết đủ và ít biết. Luôn luôn sống nơi núi rừng,
núi có tên là Kiền-đà-ma-la[16].
“Bấy
giờ, vị Thánh nhân này thường đến nói pháp cho vua Nan Đương.
Phụ vương của vua đã đến ngày bị vô thường mang đi.
Nan Đương thấy cha qua đời, hai tay ôm lấy thi thể cha khóc
lóc bi thảm, đau buồn thương tâm. Lúc ấy, vị Tam tạng này,
dẫn theo nhiều tùy tùng đến chỗ vua, vì vua mà nói pháp.
Sau khi vua nghe pháp xong, sầu não vơi đi, sanh lòng đại tín
kính đối trong Phật pháp nên phát lời nguyẹân rằng: ‘Từ
nay trở về sau, ta sẽ cúng dường cho các Tỳ-kheo không e
sợ, vừa ý là vui.’ Rồi hỏi Tỳ-kheo:
“–Bốn
vị vua bạo ác trước kia, đã hủy hoại Phật pháp bao nhiêu
năm?
Các
Tỳ-kheo đáp:
“–Trong
vòng mười hai năm.
Nhà
vua tâm nghĩ miêïng nói như sư tử rống:
“–Trong
vòng mười hai năm ta sẽ cúng dường năm chúng, cho đến chuẩn
bị mọi thứ để bố thí.
“Ngày
vua bố thí trời sẽ mưa nước mưa thơm khắp cõi Diêm-phù-đề,
tất cả các thứ cây trồng đều được tăng trưởng, dân
chúng mọi nơi đều mang đồ cúng dường đến nước Câu-diệm-di
để cúng dường Tăng chúng.
“Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nhận được sự cúng dường hậu hĩ. Các
Tỳ-kheo ăn đồ của tín thí mà không đọc tụng kinh sách,
không tát-xà vì người học kinh[17], hí luận cho hết ngày,
nằm ngủ suốt đêm, tham đắm lợi dưỡng, thích trang điểm
cho mình, thân mặc quần áo đẹp đẽ, tránh xa pháp lạc xuất
yếu, tịch tĩnh, xuất gia cái vui của Tam-bồ-đề. Thân hình
thì Tỳ-kheo, mà xa lìa công đức Sa-môn. Đó là kẻ đại
tặc trong pháp Phật, kẻ đồng lõa phá hoại ngọn cờ Chánh
pháp trong thời Mạt thế, dựng cờ ma ác; dập tắt ngọn
đuốc Chánh pháp, đốt lên ngọn lửa phiền não; đập vỡ
trống Chánh pháp, hủy hoại bánh xe Chánh pháp, làm khô biển
Chánh pháp, làm đổ núi Chánh pháp, phá thành trì Chánh pháp,
nhổ cây Chánh pháp, hủy diệt trí tuệ thiền định, cắt
đứt chuỗi ngọc giới, làm nhiễm ô Chánh đạo.
“Bấy
giờ, các loài Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Dạ-xoa, Càn-thát-bà,
sanh lòng ác đối với các Tỳ-kheo, hủy nhục, mắng nhiếc,
chán ghét xa lìa, không thân cận các Tỳ-kheo nữa. Mọi loài
cùng thốt lên lời than: ‘Than ôi! Ác Tỳ-kheo như vậy thì
không nên ở trong pháp của Như Lai.’ rồi nói kệ:
Làm
hạnh ác, không tốt,
Làm
các pháp tà kiến;
Những
người ngu si này,
Làm
đổ núi Chánh pháp.
Hành
các giới pháp ác,
Bỏ
các hạnh như pháp;
Xả
các pháp thắng diệu,
Bỏ
pháp Phật hiện tại.
Bất
tín, không tự chế,
Thích
làm các hạnh ác;
Hư
ngụy lừa thế gian,
Đả
phá pháp Mâu-ni.
Hủy
hình tập việc ác,
Hung
bạo và làm càn;
Dùng
pháp lừa mọi người;
Sân
hận, tự cao ngạo;
Tham
đắm cầu lợi danh;
Không
ác nào không làm.
Như
pháp Phật đã dạy,
Dấu
hiệu pháp tiêu mất,
Người
nay ắt đã thấy,
Bị
người trí khinh miệt.
Hiện
tượng này đã hiện,
Biển
Chánh pháp Mâu-ni
Không
bao lâu khô cạn,
Nay
Chánh pháp ít thấy;
Kẻ
ác còn đến diệt,
Hủy
hoại Chánh pháp ta.
“Bấy
giờ, các loài Trời, Rồng, Thần đều lấy làm buồn, không
còn ủng hộ các Tỳ-kheo nữa và cùng tuyên bố: ‘Pháp Phật
sau bảy ngày nữa sẽ bị diệt tận.’ Họ cùng nhau thương
khóc kêu gào và bảo nhau: ‘Đến ngày Tỳ-kheo thuyết giới
họ cùng nhau đấu tranh, Chánh pháp Như Lai vì vậy mà bị
tiêu diệt.’ Chư Thiên khóc lóc bi thương như vậy.
“Trong
lúc đó, tại thành Câu-diệm-di có năm trăm Ưu-bà-tắc nghe
chư Thiên nói những lời như vậy, cùng nhau đến giữa các
Tỳ-kheo, ngăn cản các Tỳ-kheo đấu tranh và nói kệ rằng:
Than
ôi! Năm kịch khổ,
Thương
xót quần sanh sanh.
Nay
pháp Phật sắp diệt,
Pháp
vua Thích sư tử.
Ác
luân hoại Pháp luân,
Như
vậy, có kim cương;
Mới
có thể không hoại.
Thời
an ổn không còn;
Pháp
nguy hiểm đã sanh;
Người
minh trí đã qua;
Nay
thấy tướng như vậy,
Nên
biết không còn lâu.
Pháp
Mâu-ni đoạn diệt,
Thế
gian không sáng nữa.
Lời
ly cấu, tịch diệt,
Mặt
trời Mâu-ni lặn.
Người
đời mất kho báu,
Thiện
ác không khác nhau.
Thiện
ác đã không phân,
Ai
sẽ được Chánh giác?
Đèn
pháp còn tại thế,
Kịp
thời làm việc lành;
Vào
ruộng phước vô lượng;
Pháp
này ắt sẽ diệt.
Cho
nên lũ chúng ta,
Biết
của không bền chắc;
Kịp
thời giữ lấy lõi.
“Đến
ngày mười lăm lúc thuyết giới, Chánh pháp sẽ tiêu mất.
Cũng trong ngày này, năm trăm Ưu-bà-tắc, tạo ra năm trăm tháp
Phật trong cùng ngày. Lúc bấy giờ, các Ưu-bà-tắc bận công
việc khác nên không tới lui trong chúng Tăng. Bấy giờ, A-la-hán
Tu-la-tha[18] đang ở tại núi Kiền-đà-ma-la, ngài quán sát
nơi nào trong ngày hôm nay ở cõi Diêm-phù-đề, có chúng Tăng
thuyết giới. Ngài thấy có nước Câu-diệm-di đệ tử của
Như Lai thuyết giới làm bố-tát; ngài liền đến Câu-diệm-di.
Chúng Tăng nước này bấy giờ có đến trăm ngàn người;
trong đó chỉ có một vị A-la-hán tên là Tu-la-tha. Lại có
một vị Tam tạng tên là Đệ Tử. Đây là cuộc nhóm họp
đại chúng cuối cùng của Như Lai. Bấy giờ, vị Duy-na hành
thẻ sa-la[19], bạch Thượng tọa Tam tạng rằng:
“–Chúng
Tăng đã họp, gồm trăm ngàn vị. Nay xin vì thuyết Ba-la-đề-mộc-xoa.
“Lúc
ấy vị Thượng tọa trả lời rằng:
“–Đệ
tử của Như Lai ở cõi Diêm-phù-đề đều tập hợp nơi đây,
gồm có trăm ngàn trong chúng này như vậy. Ta là Thượng tọa,
đã thông đạt Tam tạng vẫn còn không học Giới luật, huống
chi là những người khác mà có sở học! Nay sẽ thuyết Giới
luật cho ai? Rồi nói kệ rằng:
Nay
là ngày mười lăm,
Đêm
vắng lặng, trăng tỏ;
Như
vậy các Tỳ-kheo,
Nay
họp nghe thuyết giới.
Tất
cả chúng Tăng nhóm,
Diêm-phù-đề
lần cuối.
Ta
Thượng thủ trong chúng,
Không
học pháp Giới luật.
Huống
chi Tăng chúng khác,
Mà
có chỗ học tập?
Sao
giỏi pháp Mâu-ni,
Thích-ca
sư tử vương?
Người
nào có trì giới,
Người
ấy mới nói được.
“Bấy
giờ, A-la-hán Tu-la-tha đứng trước Thượng tọa, chắp tay
thưa Thượng tọa rằng:
“–Thượng
tọa, chỉ nói Ba-la-đề-mộc-xoa, như Đức Phật khi còn tại
thế. Những pháp sở học của Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên
cùng chúng Đại Tỳ-kheo, nay tôi cũng đã học hết. Như Lai
tuy đã diệt độ đến nay đã ngàn năm, những Luật nghi mà
Ngài đã chế lập, tôi cũng đã được đầy đủ.
Rồi
nói kệ rằng:
Thượng
tọa nghe tôi nói,
Tôi
tên Tu-la-tha;
A-la-hán
hết lậu,
Sư
tử rống trong chúng.
Đệ
tử thật Mâu-ni,
Các
quỷ thần tin Phật
Nghe
lời bậc Thánh dạy,
Buồn
thương khóc rơi lệ.
Cúi
đầu nghĩ pháp diệt,
Từ
nay trở về sau,
Không
có người nói pháp.
Tỳ-ni
Biệt giải thoát.
Không
còn tại thế gian.
Cầu
pháp nay đã sập;
Nước
pháp không còn chảy;
Biển
pháp đã khô cạn;
Núi
pháp đã sụp đổ.
Pháp
hội tuyệt từ nay;
Cờ
pháp không thấy nữa.
Chân
pháp không đi lại.
Giới
luật nghi mất luôn;
Đèn
pháp không còn chiếu;
Bánh
xe pháp không chuyển.
Cửa
cam lộ bít kín.
Pháp
sư không ở đời,
Người
thiện nói diệu đạo;
Chúng
sanh không biết thiện,
Không
khác nào dã thú.
“Bấy
giờ, Phật mẫu Ma-ha Ma-da Phu nhân từ trên Trời xuống, đến
chỗ chúng Tăng kêu gào khóc lóc: ‘Than ôi, khổ thay! Đó
là con của ta, đã từng trải qua a-tăng-kỳ kiếp tu các hạnh
khổ, không màng gì đến việc lao thân khổ trí, tích đức
thành Phật, mà hôm nay bỗng nhiên bị tiêu diệt!’, rồi
nói kệ:
Tôi
là thân mẫu Phật.
Con
tôi từng khổ hạnh,
Trải
qua vô số kiếp,
Cứu
cánh thành Chánh đạo.
Khóc
thương không kiềm được,
Nay
pháp bỗng bị diệt.
Than
ôi! Bậc Trí tuệ,
Hiện
tại Ngài ở đâu,
Trì
pháp bỏ tranh tụng?
Sanh
ra từ miệng Phật;
Tối
thượng trên các vua,
Đệ
tử Phật chân thật.
Tu
hạnh diệu Đầu-đà,
Đêm
nghỉ nơi rừng sâu;
Thật
sự con Phật vậy,
Hiện
nay đang ở đâu?
Hiện
tại ở thế gian,
Oai
đức không hiện hữu.
Giữa
núi rừng hoang vắng,
Các
Thần đều im lặng.
Thí,
giới, thương quần sanh,
Tin
giới tự trang nghiêm;
Hạnh
ngay thẳng, nhẫn nhục,
Quán
sát pháp thiện ác:
Các
thắng pháp như vậy,
Hiện
nay bỗng biến mất!
“Bấy
giờ, vị đệ tử của Thượng tọa kia nghĩ như vầy:
“–Tỳ-kheo
Tu-la-tha tự nói: ‘Giới luật mà Đức Như Lai đã chế lập,
ta giữ gìn đầy đủ.’
Lúc
ấy, vị Thượng tọa này có người đệ tử tên là An-già-đà
khởi lên tâm không nhẫn, phẫn hận cực độ, từ chỗ ngồi
đứng dậy mạ nhục vị Thánh kia: ‘Ông là một Tỳ-kheo
hạ tọa, ngu si, không trí mà dám hủy nhục Hòa thượng của
tôi.’ Liền cầm dao bén giết vị Thánh kia. Rồi nói bài
kệ:
Ta
là An-già-đà,
Đệ
tử của Thất-sa;
Dùng
kiếm bén giết ngươi,
Tự
bảo ‘Ta có đức’.
“Lúc
này, có một con quỷ tên là Đại Đề-mộc-khư suy nghĩ rằng:
‘Thế gian chỉ có một vị A-la-hán này, mà bị tên đệ
tử Tỳ-kheo ác giết hại.’ Liền dùng chày Kim cương bén,
đầu chày lửa cháy rực, đánh vỡ đầu người này chết
tại chỗ. Rồi nói bài kệ:
Ta
là thần quỷ ác,
Tên
Đại Đề-mộc-khư;
Dùng
chày Kim cương này,
Chẻ
đầu ngươi làm bảy.
Bấy
giờ, đệ tử của vị A-la-hán, thấy người đệ tử Thượng
tọa kia sát hại thầy mình, không kiềm được cơn tức giận
nên giết vị Tam tạng. Lúc này, chư Thiên và loài Người
đều bi thương kêu khóc: ‘Than ôi, khổ thay! Chánh pháp Như
Lai hiện tại không còn nữa.’ Chợt cõi đất chấn rung động
sáu cách, vô lượng chúng sanh sầu não cực độ, kêu gào
khóc lóc: ‘Than ôi! Ngày nay Chánh pháp không còn hiện hữu
ở đời.’ Than xong những lời này rồi mọi người giải
tán.
“Bấy
giờ, năm trăm Ưu-bà-tắc nước Câu-diệm-di nghe những lời
này xong, đi vào chùa, đưa tay vỗ đầu, khóc lớn cao tiếng:
‘Than ôi! Như Lai thương xót thế gian, cứu giúp quần sanh
không kể loài to lớn hay vi tế. Ai có thể vì chúng con mà
nói nghĩa pháp? Từ nay Trời, Người không thể nào giải thoát
được nữa. Chúng sanh ngày nay vẫn còn ở trong bóng tối,
không có người dẫn đường; luôn luôn huân tập các thói
ác và lấy đây làm vui thích như các loài dã thú mà không
chịu nghe diệu pháp của Mâu-ni, để rồi khi thân hoại mạng
chung đọa vào ba đường giống như sao rụng. Từ nay về sau
người đời không còn nhớ đến trí tuệ tam-muội tịch tĩnh,
pháp vi diệu thập lực.’
“Bấy
giờ, vua Câu-diệm-di nghe các Tỳ-kheo giết hại chân nhân
A-la-hán và Pháp sư Tam tạng, sanh lòng buồn thương, hãi hùng
than thở ngồi im. Lúc ấy, bọn tà kiến tranh nhau đánh phá
tháp miếu và hãm hại Tỳ-kheo, từ đó pháp Phật tan tác
chóng tàn.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn, bảo Thích Đề-hoàn Nhân, bốn Đại
Thiên vương, chư Thiên và Người đời:
“Sau
khi Ta diệt độ, dấu hiệu diệt tận của pháp như trên đã
nói. Cho nên, hiện tại các ông không thể không nỗ lực tinh
tấn hộ trì Chánh pháp, để còn mãi tại thế gian.”
Lúc
ấy chư Thiên và loài Người, sau khi nghe những gì Đức Phật
đã dạy, mọi người đều tỏ ra thương cảm, dùng tay lau
nước mắt, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi mọi người
tự rút lui.
*
KINH
641. A-DỤC VƯƠNG THÍ BÁN A-MA-LẶC QUẢ NHÂN DUYÊN KINH[20]
Vua
A-dục, đối với Pháp của Như Lai đạt được niềm tin kính
sâu xa. Một hôm, vua hỏi các Tỳ-kheo:
“Đối
trong pháp của Như Lai, ai là người thực hành bố thí nhất?”
Các
Tỳ-kheo trả lời vua rằng:
“Trưởng
giả Cấp Cô Độc, là người thực hành đại bố thí nhất.”
Vua
lại hỏi:
“Ông
bố thí bao nhiêu vật báu?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Có
đến ức ngàn vàng.”
Vua
nghe vậy, suy nghĩ như vầy: ‘Gia chủ kia còn có thể bỏ
ra ức ngàn vàng. Nay ta là vua, vì lý do gì cũng lại bỏ ức
ngàn vàng ra bố thí? Nên bỏ ra ức trăm ngàn vàng bố thí.’
Bấy
giờ, vua cho khởi công xây dựng tám vạn bốn ngàn tháp Phật
và trong mỗi tháp này lại bỏ ra ngàn trăm vàng để cúng.
Lại cứ năm năm tổ chức đại hội một lần. Mỗi hội
có ba trăm ngàn vị Tỳ-kheo. Dùng ba trăm ức vàng cúng dường
vào trong chúng Tăng đó. Phần thứ nhất là A-la-hán. Phần
thứ hai là những vị hữu học. Phần thứ ba là những phàm
phu chân thật. Trừ kho tàng riêng ra, vật gì ở Diêm-phù-đề
này; gồm phu nhân, thể nữ, thái tử, đại thần, đều có
thể đem cúng dường cho Thánh tăng, rồi dùng bốn mươi ức
tiền vàng chuộc chúng trở lại. Như vậy mà tính toán cho
đến dùng hết chín mươi sáu ức ngàn tiền vàng.
Cho
đến một hôm, vua bị bệnh nặng. Vua tự biết thân mạng
mình sắp kết thúc. Lúc ấy có đại thần tên là La-đà-quật-đa[21],
kiếp trước là đứa trẻ đồng bạn với vua, khi vua cúng
dường nắm đất cho Phật. Bấy giờ, đại thần La-đà-quật-đa
thấy vua đang bị bệnh nặng mạng sắp lâm chung, cúi đầu
hỏi vua bằng kệ:
Dung
mạo luôn tươi tốt,
Trăm
ngàn nữ vây quanh;
Giống
như những đóa sen,
Ong
mật tụ tập lại.
Nay
nhìn dung nhan vua,
Không
còn tươi thắm nữa.
Vua
liền dùng kệ đáp:
Nay
ta không còn lo
Mất
tiền tài, vương vị.
Thân
này cùng người thân,
Và
các thứ châu báu.
Nay
ta chỉ có buồn
Không
còn thấy Hiền thánh
Để
cúng dường tứ sự.
Nay
ta chỉ nghĩ thế,
Nên
nhan sắc biến đổi,
Tâm
ý lại không an.
“Lại
nữa, sở nguyện của ta là muốn dùng hết ức trăm ngàn tiền
vàng để làm công đức. Nhưng nay nguyện chưa thành, phải
để lại đời sau. Nếu đem cả vàng bạc trân báu đã đem
ra cúng dường mà tính góp lại trước sau, thì chỉ thiếu
có bốn ức là chưa đủ.”
Vua
liền chuẩn bị các thứ trân bảo gởi cúng vào chùa Kê tước[22].
Con của Pháp Ích tên là Tam-ba-đề[23] được lập lên làm
thái tử.
Các
đại thần thưa thái tử rằng:
“Chẳng
còn bao lâu, Đại vương sẽ qua đời. Nay đem các thứ trân
báu này gởi cúng vào chùa, trong khi của cải vật báu trong
kho đã hết sạch. Theo pháp của các vua thì lấy vật làm
trọng. Vậy nay thái tử nên xét lại việc này, không nên
để Đại vương dùng hết.”
Bấy
giờ, thái tử ra lệnh cho người giữ kho, không được xuất
vật báu ra cho Đại vương dùng nữa. Lúc này nhà vua tự biết
là những vật mà mình đòi hỏi sẽ không được nữa, nên
đem đồ đựng thức ăn bằng vàng cúng vào cho chùa. Thái
tử ra lệnh không cung cấp đồ đựng bằng vàng, mà cung cấp
đồ bằng bạc. Sau khi vua ăn xong lại gởi cúng vào cho chùa.
Lại không cung cấp đồ đựng bằng bạc, mà cung cấp đồ
bằng đồng. Vua cũng đem đồ này gởi cúng vào cho chùa. Lại
không cung cấp đồ đồng, mà cung cấp đồ gốm. Lúc này
trong tay nhà vua chỉ có nửa trái a-ma-lặc[24], lòng buồn thương
rơi lệ, vua bảo các đại thần:
“Hiện
nay, ai là chủ đất này?”
Bấy
giờ, các đại thần bạch Đại vương:
“Vua
là chủ đất này.”
Nhà
vua liền dùng kệ đáp:
Các
ngươi hộ tâm ta,
Tại
sao lại nói dối?
Ta
đang ở vương vị,
Lại
không được tự tại!
Nửa
trái A-ma-lặc,
Đang
ở trong tay ta;
Nó
là vật của ta,
Ở
đây được tự do.
Phú
quý đáng chán bỏ,
Than
ôi! Lại tôn trọng!
Xưa
cai trị Diêm-phù,
Nay
bỗng dưng nghèo hèn.
Như
sông Hằng cuộn trôi,
Một
đi không trở lại;
Phú
quý cũng như vậy,
Qua
rồi không trở lại.
Vua
lập lại bài kệ như Phật đã dạy:
Phàm
thịnh ắt có suy,
Vì
suy là cứu cánh.
Nên
Như Lai nói vậy,
Chân
thật không sai khác.
Những
lời dạy trước đây,
Nay
tức thì thông suốt.
Nay
có điều cầu cạnh,
Lại
không vâng lời ta.
Như
gió bị núi ngăn,
Như
nước bị bờ cản;
Nay
giáo lệnh của ta,
Từ
đây tuyệt vĩnh viễn.
Theo
sau, vô lượng chúng,
Đánh
trống thổi loa ốc;
Thường
chơi các kỹ nhạc,
Thụ
hưởng vui năm dục.
Thể
nữ hàng trăm người,
Ngày
đêm ta khoái lạc;
Hôm
nay đều không còn,
Như
cây không hoa trái.
Tướng
mạo dần khô kiệt,
Sắc
lực cũng như vậy;
Như
hoa dần héo tàn,
Nay
ta cũng như vậy.
Bấy
giờ, vua A-dục bảo người hầu rằng:
“Nay
ngươi, nếu còn nhớ ân nuôi dưỡng của ta, thì ngươi hãy
đem nửa trái A-ma-lặc này gởi cúng vào cho chùa Kê tước,
thay ta lễ bái sát chân các Tỳ-kheo Tăng, thưa rằng: ‘Vua
A-dục hỏi thăm các vị đại Thánh, tôi là A-dục vương,
thống lãnh cõi Diêm-phù-đề này; tất cả mọi sở hữu của
tôi ở cõi Diêm-phù-đề, ngày nay bỗng dưng mất hết, không
còn của quý nào để cúng dường cho chúng Tăng nữa. Đối
với tất cả mọi thứ của cải, tôi không còn được tự
tại, nay chỉ có nửa trái A-ma-lặc này là tôi được tự
do. Đây là lần cuối cùng bố thí ba-la-mật, xin thương xót
tôi mà thu nhận sự cúng dường này, khiến tôi được phước
khi cúng dường chúng Tăng.’”
Rồi
nói kệ rằng:
Nửa
trái A-ma-lặc,
Đây,
sở hữu của ta;
Được
tự tại đối ta,
Nay
cúng dường đại chúng.
Tâm
hướng về Thánh chúng,
Không
ai khác giúp ta.
Xin
thương xót cho ta,
Nhận
lấy A-ma-lặc.
Vì
ta ăn quả này,
Nhờ
phước vô lượng này;
Đời
đời được diệu lạc,
Dụng
không bao giờ hết.
Bấy
giờ, người sứ giả kia, nhận lệnh của vua rồi, liền đem
nửa trái A-ma-lặc đi vào chùa Kê tước, đến trước Thượng
tọa, năm vóc gieo xuống đất làm lễ, quỳ gối chắp tay
hướng lên Thượng tọa mà nói kệ rằng:
Người
thống lãnh Diêm-phù,
Một
lọng, một tiếng trống;
Đi
dạo không chướng ngại,
Như
trời chiếu thế gian.
Báo
nghiệp hành đã đến,
Ở
đời chẳng còn lâu;
Vua
không còn uy đức,
Như
mây che mặt trời.
Vua
hiệu là A-dục,
Cúi
đầu lễ chân Tăng;
Gởi
cúng dường vật này,
Nửa
trái A-ma-lặc.
Nguyện
cầu phước đời sau,
Xin
vì vua, thương xót;
Thánh
chúng vì thương vua,
Nhận
nửa trái cúng dường.
Bấy
giờ, vị Thượng tọa kia bảo Đại chúng:
“Ai
nghe những lời này mà không nhàm chán thế gian? Chúng ta nghe
việc này, không thể không sanh nhàm chán, xa lìa. Như kinh Phật
đã dạy: ‘Thấy sự suy giảm của người, nên sanh ra nhàm
chán, xa lìa.’ Nếu chúng sanh hiểu biết khi nghe việc này
há không thể từ bỏ thế gian được sao?” Rồi nói kệ
rằng:
Người
trong đời, vua nhất,
A-dục
dòng Khổng Tước;
Tự
tại Diêm-phù-đề,
Làm
chủ A-ma-lặc.
Thái
tử cùng các thần,
Đoạt
vật vua bố thí;
Gởi
nửa A-ma-lặc,
Hàng
phục người tiếc của.
Khiến
họ sanh tâm chán,
Người
ngu không biết thí;
Được
diệu lạc nhân quả,
Chỉ
cúng nửa Ma-lặc.
Lúc
ấy vị Thượng tọa nghĩ như vầy: ‘Làm thế nào để đem
nửa trái A-ma-lặc này chia đều cho khắp tất cả chúng Tăng
được?’ Sau đó bảo đem nghiền nát, bỏ vào trong nồi nấu
lên, làm vậy xong tất cả chúng Tăng đều được chia đủ
cả.
Bấy
giờ, vua lại hỏi vị đại thần bên cạnh rằng:
“Ai
là vua cõi Diêm-phù-đề?”
Đại
thần thưa vua rằng:
“Chính
Đại vương.”
Lúc
ấy vua đang nằm ngồi dậy, quay nhìn bốn phía, chắp tay làm
lễ cảm niệm ân đức chư Phật, lòng nghĩ miệng nói: ‘Nay
ta đem cõi Diêm-phù-đề này cúng dường cho Tam bảo, tùy ý
sử dụng.’ Rồi nói kệ rằng:
Nay,
Diêm-phù-đề này,
Nhiều
trân bảo trang sức;
Cúng
cho ruộng phước lành,
Tự
nhiên được quả báo.
Đem
công đức bố thí này,
Chẳng
cầu Thiên đế Thích;
Phạm
vương cùng nhân chủ,
Các
diệu lạc thế giới.
Những
quả báo như vậy,
Tôi
đều không thụ dụng;
Nhờ
công đức thí này,
Mà
mau thành Phật đạo.
Nơi
tôn ngưỡng cho đời,
Thành
được Nhất thiết trí;
Làm
bạn lành thế gian,
Là
Đạo sư bậc nhất.
Bấy
giờ, nhà vua đem những lời này viết lên trên giấy rồi
phong kín lại, dùng răng cắn vào làm dấu ấn. Sau khi làm
xong việc này, nhà vua qua đời.
Bấy
giờ, thái tử cùng các quần thần, cung nhân thể nữ, nhân
dân trong nước dâng các thứ cúng dường, tống táng theo nghi
thức của quốc vương, mà làm lễ trà tỳ.
Lúc
này, các đại thần muốn lập thái tử lên nối ngôi vị
vua, nhưng trong triều có một đại thần tên là A-nậu-lâu-đà,
nói với các quần thần rằng:
“Không
được lập thái tử lên làm vua. Vì sao? Vì Đại vương A-dục
lúc còn sanh tiền, vốn có nguyện đem mười vạn ức tiền
vàng, làm công đức, nhưng còn thiếu bốn ức nữa, chưa đủ
mười vạn. Vì muốn cho đủ số, nên nay cõi Diêm-phù-đề
này đã được xả cúng cho Tam bảo. Nay đại địa này thuộc
về Tam bảo, làm sao mà lập làm vua được?”
Sau
khi các đại thần nghe vậy, liền đem bốn ức tiền vàng
cúng vào cho chùa, sau đó liền lập con của Pháp Ích lên làm
vua tên là Tam-ba-đề. Kế đến nối tiếp vương vị là thái
tử Tỳ-lê-ha-ba-đê[25]; nối tiếp vương vị Tỳ-lê-ha-ba-đê
là thái tử Tỳ-lê-ha-tây-na[26]; nối tiếp vương vị Tỳ-lê-ha-tây-na
là thái tử Phất-sa-tu-ma[27]; nối tiếp vương vị Phất-sa-tu-ma
là thái tử Phất-sa-mật-đa-la[28]. Bấy giờ Phất-sa-mật-đa-la
hỏi các vị đại thần rằng:
“Ta
phải làm những việc gì để khiến cho danh đức của ta tồn
tại mãi ở thế gian?”
Lúc
ấy, những vị hiền thần tin ưa Tam bảo thưa vua rằng:
“Đại
vương A-dục là Quốc vương đầu tiên của dòng họ. Khi còn
sống, vua cho xây dựng tám vạn bốn ngàn tháp Như Lai và phát
tâm cúng dường đủ thứ, chính danh đức này lưu truyền
mãi đến hôm nay. Nếu nhà vua muốn cầu danh đức này thì
cũng phải cho tạo lập tám vạn bốn ngàn tháp và các thứ
cúng dường.”
Nhà
vua nói:
“Vì
Đại vương A-dục có oai đức lớn nên có khả năng thực
hiện được những việc làm này, ta thì không thể nào làm
được, hãy nghĩ đến việc khác đi.”
Trong
đó, có vị nịnh thần gian ác, không có lòng tin, tâu vua:
“Thế
gian có hai loại pháp lưu truyền mãi ở đời không dứt: Một
là làm lành, hai là làm ác. Đại vương A-dục đã làm các
hạnh lành, thì nay vua nên làm các hạnh ác như phá hoại tám
vạn bốn ngàn tháp.”
Lúc
này vua nghe theo lời vị nịnh thần, lập tức cho khởi bốn
binh chúng đi đến các chùa chiền phá hoại các tháp thờ.
Trước hết vua đi vào chùa Kê tước, liền bị con sư tử
đá trước cổng chùa rống lên, làm cho vua vô cùng kinh hoàng
sợ hãi khi nghe nó và tự nghĩ: ‘Không phải là loài thú
thật, mà có thể rống lên được sao?’ Vua trở về trong
thành. Ba lần như vậy, nhà vua muốn phá hoại chùa này.
Bấy
giờ, vua cho gọi các Tỳ-kheo lại và hỏi các Tỳ-kheo:
“Ta
phá hoại tháp là thiện hay là pháp hoại Tăng phòng là thiện?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Không
nên làm cả hai. Nếu vua muốn phá hoại chúng, thì thà phá
hoại Tăng phòng, chớ nên phá hoại tháp Phật.”
Lúc
ấy vua sát hại các Tỳ-kheo, cùng phá hoại các tháp thờ
và như vậy dần dần cho đến nước Bà-già-la. Lại ra sắc
lệnh: ‘Nếu có người nào mang được đầu Sa-môn Thích
tử đến, sẽ được thưởng ngàn tiền vàng.’
Bấy
giờ, trong nước này có một vị A-la-hán hóa ra rất nhiều
đầu Tỳ-kheo cho mọi người mang đến chỗ vua, làm cho của
báu trong kho tàng nhà vua đều cạn hết. Khi nhà vua nghe vị
A-la-hán đã làm những việc như vậy, thì càng nổi giạân
hơn, muốn giết vị A-la-hán này. Lúc này, vị A-la-hán vào
định Diệt tận nên nhà vua dùng vô lượng cách để sát
hại vị Thánh nhân này, rốt cuộc cũng không thể được.
Vì ngài vào định Diệt tận nên không thể làm tổn thương
thân thể ngài được và như vậy vua tiến dần đến cửa
tháp Phật. Ở trong tháp này có một vị quỷ thần đang ở
để bảo vệ tháp Phật tên là Nha Xỉ[29]. Vị quỷ thần
này nghĩ rằng mình là đệ tử của Phật, vì thọ trì giới
cấm không sát hại chúng sanh, nên nay mình không thể giết
hại nhà vua được. Lại nghĩ: ‘Có một vị thần tên là
Trùng[30], mạnh mẽ hung bạo, thường làm các việc ác, cầu
kết hôn con gái ta, ta không chịu. Nay vì để bảo vệ Chánh
pháp nên phải gả cho nó, khiến nó bảo hộ pháp Phật.’
Liền kêu vị thần kia bảo rằng:
“Nay
ta gả con gái cho ngươi, song cùng lập giao ước là ngươi
phải hàng phục vị vua này, chớ để ông ta tạo ra các việc
ác, hoại diệt Chánh pháp.”
Lúc
này chỗ vua lại có một vị đại quỷ thần tên là Ô-trà,
vì oai đức đầy đủ nên vị thần kia không thể làm gì
vua được. Lúc này thần Nha Xỉ muốn tìm cách hủy diệt
sức mạnh tự nhiên hiện tại của vua do vị thần này mang
lại. Nay ta nên giả làm thân với hắn và như vậy cùng làm
bạn tri thức với vị thần kia. Sau khi kết bạn tri thức
thân nhau rồi, liền dẫn vị thần này đến giữa biển lớn
phương Nam. Lúc đó thần Trùng mới sang dẹp núi lớn, xua
đuổi bức bách từ trên vua cho đến bốn binh chúng không
ai là không chết hết. Dân chúng đều reo hò: ‘Sướng thay,
sướng thay!’ và người đời cùng truyền nhau từ ‘sướng
thay’ này.
Nhà
vua này mất rồi, dòng dõi Khổng tước vĩnh viễn cáo chung
từ đây. Cho nên sự giàu sang, sung sướng ở thế gian không
đáng để tham. Đại vương A-dục là người có trí, giác
ngộ cuộc đời là vô thường, thân mạng khó mà bảo tồn,
của cải của năm nhà cũng như huyễn hóa. Khi đã giác ngộ
được điều này rồi, thì phải nỗ lực tinh tấn tạo các
thứ công đức, cho đến lúc mạng chung tâm luôn nhớ đến
Tam bảo, niệm niệm không gián đoạn, không có gì phải luyến
tiếc, chỉ có nguyện thành tựu rốt ráo Vô thượng, Chánh
đẳng Chánh giác thôi.
*
--------------------------------------------------------------------------------
[1].
Nguyên Đại Chánh quyển 25, gồm hai kinh, số 640-641, học giả
hiện đại đoán định không thuộc Tạp A-hàm. Quốc Dịch
đưa xuống quyển 50, tiếp theo A-dục vương nhân duyên (Xem
kinh số 604). Phật Quang đưa vào Phụ lục 2. Về kinh số 640,
tham chiếu, Đại 12 No383 Ma-ha Ma-da kinh. Đại 13, No397 Đại
Tập kinh, “15. Nguyệt tạng phần, phẩm 20. Pháp diệt tận”.
Đại 49, No2028 Ca-đinh Tỳ-kheo Thuyết Đương Lai Biến kinh.
Đại 49, No2029 Ca-chiên-diên Thuyết Pháp Một Tận Kệ. Đại
50, No2042 A-dục vương kinh; Đại 27, No1545 Đại Tỳ-bà-sa quyển
183, tr. 918a.
[2].
Ma-thâu-la 摩偷羅, xem cht.11, kinh 36.
[3].
Quật-đa 掘多, xem kinh 604, âm là Cù-đa.
[4].
Ưu-ba-quật-đa 優波掘多, xem cht.32, kinh 604.
[5].
Ưu-lưu-mạn-trà 優留曼茶, xem cht.34 kinh 604.
[6].
Na-tra-bạt-trí 那吒跋置, xem cht.35 kinh 604, âm là Na-trà-bà-đề.
[7].
Quỷ thôn 鬼村 chỉ các loại thảo mộc. Skt.: bhūtagrāma.
[8].
Da-bàn-na 耶槃那. Skt. yavana, nguyên chỉ người Hy-lạp. Về
sau, chỉ người Hồi giáo.
[9].
Bát-la-bà 缽羅婆.
[10].
Đâu-sa-la 兜沙羅. Skt. Tukhāra, chỉ người Nhục-chi, ở Tây
vực Trung quốc, xâm chiếm Tây bắc bộ Ấn độ.
[11].
Câu-diệm-di Ma-nhân-đà-la-tây-na 拘睒彌摩因陀羅西那; A-dục
vương truyện nói là Đại Quan. Skt. Kosambi Mahenaresena.
[12].
A-kỳ-ni-đạt-đa 阿耆尼達多. Skt. Agnidatta.
[13].
Tỳ-đà kinh luận 比陀經論, chỉ các kinh điển thuộc Veda.
[14].
Đệ Tử 弟子, A-dục vương truyện gọi là “Đa Đệ Tử”.
[15].
Tu-đà-na 須 須陀那. Skt. Sudhana?
[16].
Kiền-đà-ma-la 揵陀摩羅. Skt. Gandhamālya? Xem Câu-xá 11 (Đại
29, tr.58a): Hương túy sơn 香醉山 Skt. Gandhamādana.
[17].
Hán: bất tát-xà vị nhân thọ kinh 不薩闍為人受經.
Đại-tỳ-bà-sa 183: bất lộc độc xứ tĩnh lự tư duy 不祿獨處靜慮思性:
không thích một mình ở chỗ vắng vẻ tu thiền.
[18].
Đại Chánh: Tu-la-tha 修羅他. Bản Minh: Tu-la-đà 修羅陀.
[19].
Hành sa-la trù 行沙羅籌: phát thẻ tre và đếm, một hình
thức kiểm danh hay lấy biểu quyết tập thể giữa Tăng. Skt.
Śalākā.
[20].
Kinh nói về nhân duyên vua A-dục bố thí nửa trái A-ma-lặc
(quả xoài). Xem cht.1 kinh 640. Tham chiếu kinh số 604 (Đại Chánh,
quyển 23).
[21].
La-đà-quật-đa 羅陀崛多. Skt. Rādhagupta.
[22].
Kê tước tự 雞雀寺. Skt. Kurkuṭārāma.
[23].
Tam-ba-đề 三波提. Skt. Sampadī, cháu nội của vua A-dục.
[24].
A-ma-lặc 阿摩勒. Skt. āmalaka, quả xoài.
[25].
Tỳ-lê-ha-ba-đê 毘梨訶波低. Skt.Bṛhaspati.
[26].
Tỳ-lê-ha-tây-na 毘梨訶西那. Skt. Vṛṣhasena.
[27].
Phất-sa-tu-ma 沸沙須摩. Skt. Puṣyadharma.
[28].
Phất-sa-mật-đa-la 沸沙蜜多羅. Skt. Puṣyamitra.
[29].
Nha Xỉ 牙齒. Skt. Daṃṣṭrānivāsī-yakṣa.
[30].
Trùng 蟲. Skt. Kṛmiśa.
