TẠP
A-HÀM QUYỂN 23
KINH
604. A-DỤC VƯƠNG NHÂN DUYÊN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại thành Vương xá, trong vườn Trúc, khu
Ca-lan-đà.
Bấy
giờ, vào buổi sáng sớm, Thế Tôn đắp y, mang bát, cùng với
Tỳ-kheo Tăng vào thành khất thực. Như bài kệ nói:
Sắc
thân như núi vàng,
Rất
đoan nghiêm vi diệu;
Bước
đi như ngỗng chúa,
Mặt
như trăng sáng đầy;
Thế
Tôn cùng đại chúng.
Lúc
ấy, Thế Tôn lấy chân giẫm lên phần đất giới hạn cửa
thành tạo thành sáu thứ chấn động. Như bài kệ nói:
Biển
lớn và đất bằng,
Thành
quách cùng núi non,
Chân
Mâu-ni giẫm lên,
Dao
động như thuyền sóng.
Đức
Phật biến hiện thần lực như thế, lúc đó nhân dân cùng
cất tiếng xướng lớn rằng:
“Kỳ
diệu thay, pháp chưa từng có, thần lực biến hiện như Đức
Thế Tôn khi vào thành, hiển bày những việc chưa từng có
như thế. Như bài kệ nói:
Đất
thấp liền bằng lên,
Đất
cao thành thấp xuống;
Do
oai thần của Phật,
Nên
gai góc, sỏi đá,
Đều
chẳng còn thấy nữa.
Người
mù, điếc, câm, ngọng,
Liền
được thấy, nghe, nói;
Nhạc
khí trong thành quách,
Chẳng
đánh, phát diệu âm.”
Bấy
giờ, Thế Tôn tỏa ánh sáng chiếu khắp như ánh sáng của
ngàn mặt trời. Như kệ nói:
Thế
Tôn thân sáng chói,
Chiếu
khắp cả thành ấp.
Nhân
dân nhờ ánh Phật,
Mát
như thoa chiên-đàn.
Bấy
giờ, Đức Phật thuận theo thành ấp mà đi. Lúc đó có hai
em bé, một đẳng cấp thượng và một đẳng cấp thứ, cùng
nhau vọc cát chơi đùa; một tên Xà-da, một tên Tỳ-xà-da[2].
Từ xa trông thấy Thế Tôn đầy đủ ba mươi hai tướng bậc
Đại nhân trang nghiêm thân, đồng tử Xà-da nghĩ thầm: “Mình
đem bột này cúng dường.” Rồi tay nắm một nắm cát mịn
bỏ vào bát Thế Tôn. Khi ấy, Tỳ-xà-da chắp tay tùy hỷ.
Như bài kệ nói:
Thấy
Thế Tôn đại bi,
Toàn
thân sáng một tầm.
Được
nhìn thấy Thế Tôn,
Sanh
lòng tin kính lớn,
Dâng
nắm cát cúng dường,
Được
thoát bờ sanh tử.
Bấy
giờ, em bé kia phát nguyện rằng: “Nhờ căn lành của công
đức huệ thí này, mong con được làm một vị Tản cái vương[3]
của một thiên hạ, ngay đời này được cúng dường chư
Phật.”
Như
bài kệ đã nói:
Mâu-ni
biết tâm kia,
Cùng
ý kia mong muốn,
Được
quả thêm căn lành,
Cùng
với sức phước điền;
Phật
với tâm đại bi,
Nhận
nắm cát cúng dường.
Xà-da
nhờ căn lành này được làm vua, vua xứ Diêm-phù-đề, cho
đến thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cho nên, Thế
Tôn mỉm cười. A-nan thấy Phật mỉm cười, liền chắp tay
hướng về Phật, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chư Phật Thế Tôn, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, chẳng phải không nhân duyên gì mà mỉm cười.” Như
kệ nói:
Thế
Tôn lìa cười đùa.
Vô
Thượng Tôn trên đời,
Răng
trắng như ngọc quý,
Đấng
Tối Thắng mỉm cười.
Dũng
mãnh siêng tinh tấn,
Không
Thầy mà tự giác;
Lời
hay khiến thích nghe,
Tiếng
dịu dàng siêu tuyệt,
Huyền
ký đồng tử kia,
Bằng
Phạm âm trong vắt.
Lưỡng
Túc Tôn vô thượng,
Ghi
nhận quả thí cát.
Khi
ấy Thế Tôn bảo A-nan:
“Đúng
thế! Đúng thế! Như lời ngươi nói. Chư Phật không có nhân
duyên chẳng mỉm cười. Hôm nay Ta cười là vì có nhân duyên.”
“A-nan
nên biết, sau khi Ta diệt độ một trăm năm, đồng tử này
sẽ ở tại ấp Ba-liên-phất[4] thống lãnh một phương, làm
Chuyển luân vương, họ Khổng Tước[5], tên A-dục[6], đem
chánh pháp cai trị, giáo hóa nhân dân và lại còn phân bố
rộng rãi xá-lợi của Ta, sẽ xây dựng tám muôn bốn ngàn
tháp Pháp vương, đem lại sự an vui cho vô lượng chúng sanh.”
Như kệ nói:
Sau
khi Ta diệt độ,
Người
này sẽ làm vua,
Họ
Khổng Tước, tên Dục,
Ví
như vua Đảnh sanh,
Nơi
Diêm-phù-đề này,
Được
tôn quý bậc nhất.
“A-nan!
Hãy lấy nắm cát được bố thí trong bát đổ ra nơi chỗ
Như Lai kinh hành. Ta sẽ đi nơi đó.”
A-nan
vâng lời Phật dạy, liền lấy cát trong bát Phật rãi trên
chỗ kinh hành.
Đức
Phật dạy:
A-nan
nên biết, sau này tại thành ấp Ba-liên-phất có vua hiệu
là Nguyệt Hộ[7]. Vị vua ấy sẽ sanh con tên là Tần-đầu-sa-la[8],
cai trị nước đó. Vua lại có một người con nữa tên là
Tu-sư-ma[9]. Thời bấy giờ, nước Chiêm-bà có một thiếu
nữ Bà-la-môn rất đẹp, khiến người ưa thích, nàng là trân
bảo của đất nước. Các nhà tướng số xem tướng thiếu
nữ này đều đoán rằng: ‘Nàng sẽ là vương phi và sẽ
sanh ra hai người con. Một người sẽ thống lãnh thiên hạ
và một người sẽ xuất gia học đạo, thành tựu Thánh đạo.’
Người Bà-la-môn nghe tướng sư nói vậy vui mừng vô hạn,
liền đưa con gái của ông ta đến ấp Ba-liên-phất, sắm
sửa trang điểm cho cô gái thật xinh đẹp. Ông muốn đem gả
cho vương tử Tu-sư-ma. Tướng sư bảo: ‘Nên gả cho Tần-đầu-sa-la
vương. Cô này sẽ sanh con phước đức. Đứa con sẽ nối
cơ nghiệp của nhà vua.’ Bà-la-môn đem con gái gả cho nhà
vua này. Vua thấy thiếu nữ đoan chánh, có đức hạnh, bèn
phong làm phu nhân.
Những
bà phu nhân trước và các thế nữ thấy phu nhân này đi đến
liền nghĩ rằng: ‘Thiếu nữ này quá đoan chánh, là trân
bảo của đất nước. Nếu nhà vua say đắm nàng, nhà vua sẽ
bỏ chúng ta, cho đến mắt không nhìn tới nữa.’ Phu nhân
và các cung phi bắt thiếu nữ ấy học nghề thợ cạo. Sau
khi học xong, nàng lo việc cắt tỉa râu tóc cho vua. Khi cắt
râu tóc, nhà vua rất hoan hỷ, bèn hỏi cô gái:
“Cô
ước mơ điều gì?
Thiếu
nữ tâu:
“Tôi
chỉ mong được vua để tâm, thương yêu nghĩ đến.”
Nàng
nói như vậy ba lần.
Lúc
ấy vua bảo:
“Ta
là vua Quán đảnh dòng Sát-lợi. Còn nàng là thợ cạo. Làm
sao ta có thể thương tưởng nàng được?”
Thiếu
nữ tâu:
“Tôi
chẳng phải là con dòng hạ tiện. Tôi con gái của dòng họ
cao quý Bà-la-môn. Các tướng sư nói với cha tôi rằng: ‘Cô
gái này nên gả cho Quốc vương.’ Vì thế nên tôi mới đến
đây.”
Vua
lại hỏi:
“Nếu
như thế, ai khiến nàng học tập cái nghề hèn mọn này?”
Thiếu
nữ đáp:
“Phu
nhân trước và các thế nữ bắt tôi phải học nghề này.”
Nhà
vua liền ra lệnh:
“Từ
nay về sau, nàng chớ làm nghề hạ tiện này nữa.”
Vua
liền lập nàng làm Đệ nhất phu nhân. Nhà vua cùng nàng thụ
hưởng dục lạc. Chẳng bao lâu nàng mang thai. Đầy tháng thì
sanh con. Lúc sanh nở an ổn, mẹ không ưu não. Qua bảy ngài
đặt tên là Vô Ưu[10]. Rồi lại sanh thêm một người nữa
đặt tên là Ly Ưu[11]. Vô Ưu có thân thể thô nhám, vua cha
không muốn đến gần bồng bế, không có tình quyến luyến.
Nhà vua lại muốn thử hai người con, nên gọi Bà-la-môn Tân-già-la-a[12]
bảo rằng:
“Hòa
thượng xem giùm hai đứa con của ta. Sau khi ta từ trần, ai
sẽ làm vua?”
Ba-la-môn
đáp:
“Xin
đem các thái tử này ra khỏi thành, đến lầu Kim điện trong
công viên[13]. Ở nơi đó, tôi sẽ xem tướng.”
Bèn
ra khỏi thành, đến khu vườn ấy. Trong khi ấy, mẹ vua A-dục
nói với A-dục:
“Con
hãy theo vua cha ra nơi dinh thự trong vườn Kim điện xem tướng
các vương tử, sau khi nhà vua mất rồi ai sẽ làm vua? Sao con
không đi?”
A-dục
đáp:
“Vua
cha chẳng nghĩ gì đến con và cũng chẳng vui khi thấy con.”
Bà
mẹ lại bảo:
“Con
chỉ đến nơi ấy thôi.”
A-dục
thưa:
“Mẹ
dạy con đi thì con vâng theo. Xin mẹ đưa đồ ăn uống đến
cho con.”
Mẹ
đáp:
“Được.
Con hãy ra khỏi thành đi.”
A-dục
đi ra khỏi thành. Lúc ra cửa, gặp một vị đại thần tên
là A-nậu-la-đà[14]. Vị quan này hỏi A-dục:
“Vương
tử đi đâu thế?”
A-dục
đáp:
“Tôi
nghe Đại vương ra ngoài thành, ở trong vườn Kim điện xem
tướng các vương tử, để sau khi vua băng hà, ai sẽ làm vua.
Bây giờ, tôi đi đến nơi ấy.”
Nhà
vua đã ra lệnh cho các đại thần:
“Nếu
A-dục đến thì phải khiến cưỡi con voi già chậm lụt mà
đến và thêm người già làm tùy tùng.”
A-dục
cưỡi voi già đến trong viên quán và ngồi dưới đất, giữa
các vương tử. Bấy giờ, các vương tử soạn thức ăn uống.
Mẹ của A-dục lấy chén nung đựng đầy sữa và cơm trao
cho A-dục. Trong lúc các vương tử ăn uống như thế, vua cha
hỏi thầy tướng:
“Trong
đây ai có tướng vua, sẽ kế vị ta được?”
Thầy
tướng nhìn kỹ các vương tử, thấy A-dục đầy đủ tướng
vua, sẽ được kế vị. Nhưng lại nghĩ thầm: ‘Nhà vua không
hài lòng về vương tử A-dục này. Nếu ta nói A-dục sẽ làm
vua, chắc chắn Đại vương không vui.’ Ông liền nói rằng:
“Bấy
giờ tôi xin ghi nhận chung chung.”
Vua
nói lại:
“Cứ
theo lời sư chỉ.”
Thầy
tướng nói:
“Trong
đây người nào cưỡi cỗ xe đẹp nhất thì người ấy sẽ
làm vua.”
Các
vương tử nghe nói như thế, mỗi người đều nghĩ rằng:
‘Cỗ xe của mình đẹp nhất.’ Lúc ấy A-dục nói:
“Tôi
cưỡi con voi già, tôi được làm vua.”
Vua
lại bảo thầy tướng:
“Xin
xem lại rồi xác nhận.”
Thầy
tướng lại đáp:
“Trong
đây người nào có chỗ ngồi bậc nhất, người ấy sẽ làm
vua.”
Các
vương tử cùng bảo nhau.
“Chỗ
ta ngồi là bậc nhất.”
A-dục
nói:
“Nay
tôi ngồi dưới đất, là chỗ ngồi bậc nhất, tôi sẽ làm
vua.”
Vua
lại bảo thầy tướng:
“Hãy
xem lại một lần nữa.”
Thầy
tướng lại bảo rằng:
“Trong
đây vị nào có chén bát và thức ăn quý giá hơn hết, thì
người ấy sẽ làm vua.”
Chi
tiết, cho đến, A-dục nghĩ thầm: ‘Ta có cỗ xe tốt nhất;
chỗ ngồi bậc nhất và thức ăn ngon nhất.’
Nhà
vua xem tướng các con xong rồi, trở về cung. Mẹ của A-dục
hỏi A-dục:
“Bà-la-môn
tiên đoán người nào sẽ làm vua?”
A-dục
thưa mẹ:
“Người
có cỗ xe tốt nhất, người có chỗ ngồi bậc nhất và đồ
dùng quý nhất, thức ăn ngon nhất, người ấy sẽ làm vua.
Con tự thấy con sẽ làm vua. Vì con cưỡi con voi già, ngồi
dưới đất, chén bát thuần khiết đựng đầy thức ăn như
cơm gạo khô trộn sữa.”
Bà-la-môn
biết A-dục sẽ làm vua nên tỏ vẻ cung kính mẹ của A-dục.
Mẹ của A-dục cũng ban thưởng trọng hậu cho Bà-la-môn và
tiện dịp hỏi:
“Sau
khi Đại vương từ trần ai sẽ làm vua?”
Thầy
tướng đáp:
“Điều
này không thể nói được.”
Bà
hỏi mãi ba lần ông mới đáp:
“Tôi
sẽ nói nhưng lệnh bà hãy cẩn thận, chớ cho ai biết. Lệnh
bà sanh được người con này là A-dục. Chính người này sẽ
làm vua vậy.”
Phu
nhân bảo rằng:
“Tôi
nghe lời nói này hết sức vui mừng. Nếu nhà vua nghe được,
đối với thầy tướng vua sẽ không còn tin kính nữa. Vậy
thầy nên trở về chốn cũ. Nếu con tôi làm vua thì thầy
cũng sẽ được tất cả những điều tốt đẹp. Tôi sẽ
cúng dường suốt đời.”
Lúc
ấy nước láng giềng Đức-xoa-thi-la[15] làm phản, vua Tần-đầu-la
bảo A-dục:
“Con
hãy đem bốn binh chủng đi bình phạt nước kia.”
Khi
vương tử ra đi, chẳng cho binh giáp. Bấy giờ, người đi
theo thưa với vương tử:
“Nay
đi bình phạt nước kia, nhưng không có quân cụ, thì làm sao
dẹp yên được?”
A-dục
nói:
“Nếu
ta sẽ làm vua thì do phước báu của căn lành, binh giáp tự
nhiên đến.”
Ứng
theo tiếng nói của A-dục, mặt đất liền nứt ra, binh giáp
từ đất hiện ra. A-dục bèn đem bốn thứ quân binh đến
bình phạt nước ấy.
Nhân
dân các nước kia nghe A-dục đến liền sửa sang đường sá,
trang nghiêm thành quách, mang bình quý đựng nước và các thức
cúng dường, đón tiếp kính dâng vương tử và nói rằng:
“Chúng
tôi không phản Đại vương và vương tử A-dục. Nhưng bọn
quan lại làm hại chúng tôi, nên chúng tôi mới trái nghịch
với Thánh hóa.”
Nhân
dân đem các thức cúng dường vương tử; rước vương tử
vào thành. Sau khi bình định nước này rồi, lai sai đi chinh
phạt nước Khư-sa.
Đương
thời có hai vị đại lực sĩ giúp vua sửa sang đường sá,
dời các đá núi. Lại có chư Thiên đến tuyên lệnh cho nước
này rằng: ‘A-dục sẽ làm vua thiên hạ này. Các người chớ
nên khởi ý chống đối.’ Quốc vương kia bèn quy hàng. Như
thế, chi tiết cho đến, bình định thiên hạ này cho đến
bờ biển.
Một
hôm vương tử Tu-sư-ma ra ngoài thành dạo chơi, lại gặp một
vị đại thần. Vị đại thần này không chào vương tử theo
nghi lễ. Vương tử liền sai người đánh đập đại thần.
Đại thần nghĩ rằng: ‘Vương tử này chưa được ngôi vua,
mà cách xử sự như thế. Nếu được làm vua thì không thể
nào chịu nổi.’ Lại nghe A-dục được thiên hạ, chinh phục
được năm trăm đại thần. Họ nói: ‘Chúng ta sẽ cùng nhau
lập A-dục làm vua, thống lãnh thiên hạ này.’
Nước
Đức-xoa-thi-la lại làm phản. Các quan cùng nhau luận bàn,
đề nghị vương tử Tu-sư-ma đi dẹp loạn. Vua bằng lòng.
Vương tử liền đi đến nước kia, nhưng không hàng phục
được, vua cha lại bị bệnh nặng, bảo các quan:
“Nay
ta muốn lập Tu-sư-ma làm vua. Hãy lệnh cho A-dục đến nước
kia.”
Bấy
giờ, các quan muốn lập A-dục lên làm vua. Họ lấy sắc vàng
bôi lên thân thể, mặt mày và tay chân của A-dục. Rồi các
quan tâu với vua:
“Vương
tử A-dục nay đang bệnh nặng.”
Các
quan trang nghiêm cho A-dục tề chỉnh rồi dẫn đến chỗ vua:
“Nay
nên lập người con này làm vua. Chúng tôi từ từ sẽ lập
Tu-sư-ma làm vua sau.”
Vua
nghe những lời này không vui; lo lắng, buồn bực, im lặng
không đáp.
Lúc
ấy A-dục thầm suy nghĩ: ‘Nếu ta xứng đáng làm được
ngôi vua, chư Thiên sẽ đến rưới nước trên đỉnh đầu
ta, lấy lụa trắng quấn trên đầu.’
Nói
vừa dứt, chư Thiên lấy nước rưới trên đỉnh đầu A-dục
và lấy lụa trắng quấn lên đầu. Vua cha trông thấy cảnh
tượng ấy thì vô cùng buồn bã, liền từ trần. A-dục lo
việc tang lễ cho vua cha đúng theo nghi thức vương triều. A-dục
kế vị xong, phong A-nậu-lâu-đà làm đại thần.
Trong
khi ấy, vương tử Tu-sư-ma nghe vua cha băng hà, nay lại lập
A-dục lên làm vua, sanh lòng bất bình, tập hợp binh lính kéo
về đánh lại A-dục. Trong bốn cổng thành của A-dục, hai
cổng có đặt hai lực sĩ. Cổng thứ ba thì đặt một đại
thần. Tự mình giữ cửa Đông.
Đại
thần A-nậu-lâu-đà làm con voi máy bằng gỗ và đúc tượng
A-dục. Tượng A-dục cỡi voi, đặt ở ngoài cửa Đông. Lại
làm hầm lửa không khói, lấy vật phủ lên. Khi Tu-sư-ma đi
đến, đại thần A-nậu-lâu-đà nói với Tu-sư-ma:
“Vương
tử muốn làm vua, A-dục đang ở cửa Đông, đến đó đánh
thắng được ông ấy, tự nhiên được làm vua.”
Vương
tử Tu-sư-ma vội vàng đi thẳng đến cửa Đông, liền bị
rơi xuống hầm lửa mà chết.
Bấy
giờ, có một đại lực sĩ tên là Bạt-đà-la-do-đà[16] nghe
Tu-sư-ma đã chết, ông đâm ra chán đời, đem tất cả quyến
thuộc vào trong Phật Pháp xuất gia học đạo, gắng sức tinh
tấn, chẳng bao lâu sạch các lậu, thành A-la-hán.
Vua
A-dục bằng chánh pháp trị hóa dân chúng. Bấy giờ bọn quần
thần cậy vào thế đưa A-dục lên ngôi nên tỏ ra khinh mạn
A-dục, không tuân hành nghi lễ vua tôi. Vua biết các quan khinh
lời mình, bèn bảo bá quan:
“Các
người hãy chặt cây hoa trái mà trồng gai góc.”
Các
quan tâu:
“Chúng
tôi chưa từng thấy nghe dẹp bỏ hoa trái mà trồng gai góc,
chỉ thấy dẹp bỏ gai góc mà trồng hoa trái.”
Cho
đến, ba lần vua ra lệnh phải chặt bỏ, nhưng các quan cũng
chẳng làm theo.
Bấy
giờ, vua A-duc tức giận các quan đại thần, liền lấy gươm
bén giết chết hết năm trăm đại thần. Lại có lúc vua đem
các thế nữ ra vườn ngoài chơi đùa. Vua thấy một gốc cây
Vô ưu đang trổ đầy hoa. Nghĩ hoa này cùng tên với mình,
trong lòng rất hoan hỷ. Vì vua có thân hình xấu xí, da dẻ
sần sùi, nên các thể nữ không yêu mến. Họ chán ghét vua,
nên dùng tay bẻ gãy hết cây Vô ưu. Nhà vua nghỉ, vừa thức
giấc dậy, thấy cây Vô ưu trơ trọi, hoa thì nằm ngỗn ngang
trên đất. Vua nổi trận lôi đình, bắt các thể nữ trói
lại và đốt chết hết. Vì vua làm điều bạo ác nên gọi
là Bạo ác A-dục vương[17].
Lúc
ấy đại thần A-nậu-lâu-đà tâu:
“Vua
không nên làm những điều đó. Sao lại tự tay giết các quan
và thể nữ? Bây giờ, Đại vương nên lập ra một tên đao
phủ. Ai có tọâi đáng chết thì giao cho người đó.”
Vua
liền ra lệnh lập người đao phủ. Trong nước vua A-dục có
hòn núi tên là Kỳ-lê, nơi đó có nhà người thợ dệt. Người
này có một người con tên là Kỳ-lê[18], tánh tình rất hung
ác, hay đánh đập, bắt trói các bé trai, bé gái và bắt các
sanh vật trên đất cũng như dưới nước, cho đến ngỗ nghịch
với cha mẹ. Vì thế người đời đồn đại là ‘Hung ác
Kỳ-lê tử[19].’ Bấy giờ các sứ giả của vua đến nói
với nó:
“Ngươi
có thể vì vua làm đao phủ để chém những tội nhân không?”
Kỳ-lê
đáp:
“Tất
cả những người có tội ở Diêm-phù-đề này tôi đều có
thể trừ sạch, huống chi chỉ có một xứ này!”
Các
sứ giả trở về tâu vua:
“Người
kia đã tìm được kẻ hung ác rồi.”
Vua
ra lệnh:
“Hãy
đem hắn về đây.”
Các
sứ giả đi gọi nó. Nó đáp:
“Chờ
một chút, để tôi từ giã cha mẹ trước đã.”
Nó
nói đầy đủ những sự việc trên. Cha mẹ nó khuyên can:
“Con
chớ làm việc ấy!”
Cha
mẹ can ngăn ba lần, hắn sanh tâm bất nhân, giết chết cha
mẹ sau đó mới đi.”
Các
sứ giả hỏi:
“Sao
lâu thế, không đến sớm?”
Tên
hung ác ấy thuật lại đầu đuôi sự việc. Các sứ giả
đem việc này tâu lại nhà vua. Vua ra lệnh cho hắn:
“Có
tội nhân phạm tội đáng chết, ta giao cho ngươi phải biết
đấy.”
Hắn
tâu:
“Xin
vua làm nhà cho tôi.”
Vua
cho xây cất nhà cửa, phòng ốc cho Kỳ-lê rất đàng hoàng,
nhưng chỉ mở một cửa. Cửa cũng rất nghiêm ngặt. Bên trong
ấy bày la liệt các đồ trị tội như cảnh địa ngục. Ngục
ấy rất đẹp. Khi ấy tên hung ác kia tâu vua:
“Bây
giờ, xin vua một điều. Nếu người nào đã vào đây rồi
thì không được ra.”
Vua
trả lời:
“Ta
chấp nhận như lời xin của ngươi.”
Một
hôm tên đao phủ đi vào chùa, nghe các Tỳ-kheo nói về địa
ngục. Lúc ấy có Tỳ-kheo đang giảng kinh Địa ngục: ‘Có
chúng sanh rơi xuống địa ngục, ngục tốt nắm lấy tội
nhân ấy, dùng kiềm sắt nóng banh miệng tội nhân, nhét viên
sắt nóng vào trong miệng. Kế đó sau đó lấy búa sắt cắt
chặt thân thể, rồi lại lấy gông cùm, xiềng xích trói buộc
thân, rồi đến xe lửa, lò than, vạc sắt, đến sông tro,
kế đến núi đao, cây kiếm.’ Đầy đủ như kinh Ngũ Thiên
Sứ đã nói. Tên đao phủ nghe các Tỳ-kheo nói những việc
như thế, liền lập chỗ ở ấy làm những cách trị tội
nhân như các Tỳ-kheo đã nói, bắt chước theo pháp này để
trị tội nhân.
Một
thời kia, có người lái buôn cùng với vợ đi ra trên biển.
Trong lúc đang ở ngoài biển khơi thì người vợ sanh con, đặt
tên là Hải[20]. Gia đình này sống trên mặt biển như vậy
hơn mười năm, thu nhặt châu báu, rồi trở về quê hương.
Dọc đường họ bị năm trăm tên cướp giết chết và đoạt
hết châu báu.
Bấy
giờ, đứa con của người lái buôn thấy cha bị giết chết
và của cải mất hết, nên sanh ra chán cái khổ của thế
gian, bèn ở trong pháp của Như Lai xuất gia học đạo, rồi
trở về nhà du hành qua các nước, dần dần đến ấp Ba-liên-phất.
Khi
đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, người này đắp y mang bát
vào trong thành khất thực, đi lầm vào nhà tên đao phủ. Bấy
giờ, Tỳ-kheo này từ xa nhìn thấy trong nhà nào là lò than,
vạc dầu, xe lửa v.v… trừng trị tội nhân như ở trong ngục.
Tỳ-kheo sợ hãi, lông dựng đứng, liền muốn quay ra khỏi
cửa. Ngay khi ấy tên đao phủ hung ác liền đi tới nắm lấy
Tỳ-kheo nói rằng:
“Ai
đã vào đây rồi thì không thể ra được. Bây giờ người
phải chết đây thôi.”
Tỳ-kheo
nghe nói trong lòng hết sức buồn thảm, nước mắt đầm đìa.
Tên đao phủ hỏi:
“Tại
sao ông lại khóc lóc như trẻ con?”
Tỳ-kheo
nói kệ đáp:
Tôi
không phải sợ chết.
Chí
nguyện cầu giải thoát;
Chỗ
mong cầu chưa toại,
Vì
thế nên tôi khóc.
Thân
người rất khó được,
Xuất
gia cũng như vậy.
Gặp
Thích Sư tử vương,
Từ
nay không thấy nữa.
Tên
đao phủ hung ác nói với Tỳ-kheo:
“Ông
nhất định phải chết, còn ưu não cái gì?”
Tỳ-kheo
trả lời bằng những lời bi ai:
“Hãy
cho tôi sống thời gian ngắn một tháng.”
Tên
hung ác không chịu. Như vậy số ngày bớt dần lại còn bảy
ngày hắn mới bằng lòng. Tỳ-kheo kia biết sắp chết, nên
dũng mãnh tinh tấn, tọa thiền nhất tâm, cuối cùng cũng không
thể đắc đạo được. Đến ngày thứ bảy, trong cung vua
có cung nữ phạm tội nặng đến chết, bị đem giao cho tên
đao phủ hung ác nay trị tội. Tên đao phủ đem nữ tội nhân
bỏ vào cối dùng chày giã nát thân thể cô gái. Tỳ-kheo trông
thấy việc đó nên rất chán ghét thân này: ‘Ôi, khổ thay
chốc nữa ta cũng sẽ như vậy!’ Rồi nói kệ:
Ôi
bậc Thầy đại bi,
Diễn
nói Chánh diệu pháp:
Thân
này như bọt nước,
Đúng
nghĩa không có thật.
Sắc
gái đẹp trước kia,
Nay
đây còn đâu nữa?
Sanh
tử rất đáng xả,
Kẻ
ngu si tham đắm.
Buộc
tâm vào nơi ấy,
Nay
nên thoát gông cùm;
Vượt
qua biển Tam hữu,
Rốt
ráo không sanh lại.
Như
thế siêng phương tiện,
Chuyên
tinh tu Phật pháp;
Đoạn
trừ tất cả kết,
Đắc
thành A-la-hán.
Khi
ấy tên đao phủ nói với Tỳ-kheo:
“Kỳ
hạn đã hết.”
Tỳ-kheo
hỏi:
“Tôi
không hiểu điều ông nói.”
Tên
đao phủ đáp:
“Trước
đây người kỳ hạn bảy ngày, nay đã mãn.”
Tỳ-kheo
nói kệ đáp:
Tâm
tôi được giải thoát,
Vô
minh tối tăm lớn.
Đoạn
trừ các hữu cái[21],
Do
giết giặc phiền não.
Mặt
trời tuệ đã hiện,
Soi
sáng tâm ý thức;
Rõ
ràng thấy sanh tử,
Khởi
lòng thương xót người.
Tùy
thuận tu Chánh pháp,
Nay
thân thể ta đây;
Muốn
làm gì mặc ý,
Không
còn có lẫn tiếc.
Lúc
bấy giờ, tên hung ác kia bắt Tỳ-kheo bỏ vào trong vạc dầu
sắt, lấy củi đun vào nhưng lửa không cháy. Dù có cháy nhưng
chẳng nóng. Tên ấy thấy lửa không cháy, liền đánh đập
người bị sai, rồi tự đốt lửa. Lửa bỗng cháy bừng dữ
dội. Thật khá lâu, nó mở nắp vạc sắt; thấy Tỳ-kheo ấy
giữa vạc dầu sôi ngồi trên hoa sen. Tên hung ác vô cùng ngạc
nhiên, lạ lùng, liền đến tâu với Quốc vương. Nhà vua vội
vàng sai thắng xe ngựa, dẫn theo đám đông vô số người,
đến xem Tỳ-kheo. Tỳ-kheo biết đã đến lúc có thể điều
phục vua, liền phóng thân lên hư không như con chim nhạn chúa,
phô bày các thứ biến hóa. Như kệ sau đây:
Vua
thấy Tỳ-kheo này,
Thân
bay lên hư không;
Lòng
vô cùng hoan hỷ,
Chắp
tay nhìn vị Thánh:
Nay
tôi xin được nói,
Điều
không rõ trong ý:
Hình
thể không khác người,
Thần
thông chưa từng có.
Vì
tôi phân biệt nói:
Tu
tập những pháp gì;
Khiến
ngài được thanh tịnh,
Xin
vì tôi giảng rộng?
Khiến
được pháp thắng diệu,
Tôi
hiểu pháp tướng rồi;
Sẽ
làm đệ tử ngài,
Hoàn
toàn không hối tiếc.
Tỳ-kheo
kia nghĩ thầm: ‘Nay ta đã điều phục được vị vua này,
có nhiều điều cần phải hướng dẫn: Hộ trì Phật pháp,
phân bố rộng rãi xá-lợi của Như Lai, đem an vui cho vô lượng
chúng sanh, nơi cõi Diêm-phù-đề này, khiến mọi người đều
tin Tam bảo.’ Vì nhân duyên này nên tự hiển lộ các đức
kia. Tỳ-kheo hướng về vua nói kệ:
Tôi
là đệ tử Phật,
Đã
được sạch các lậu;
Lại
nữa, là con Phật,
Không
đắm tất cả hữu.
Nay
tôi đã điều phục,
Đấng
Lưỡng Túc Vô Thượng;
Tâm
tĩnh chỉ, tịch tĩnh,
Mối
sợ lớn sanh tử.
Nay
tôi đều được thoát,
Trọn
lìa được ba cõi;
Trong
Thánh pháp Như Lai,
Được
lợi ích như vậy.
Vua
A-dục nghe Tỳ-kheo nói như vậy, khởi lòng tin kính Phật vô
hạn. Vua lại thưa:
“Lúc
Phật chưa diệt độ, Ngài đã huyền ký điều gì?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Phật
huyền ký Đại vương: ‘Sau khi Phật diệt độ khoảng một
trăm năm, tại thành Ba-liên-phất, có ba ức nhà. Nước ấy
có vua tên A-dục, sẽ làm vua cõi Diêm-phù-đề này, làm Chuyển
luân vương, dùng Chánh pháp cai trị giáo hóa và lại phân
bố xá-lợi Ngài khắp Diêm-phù-đề, dựng tám vạn bốn ngàn
tháp. Phật đã huyền ký Đại vương như vậy. Nhưng ngày
nay Đại vương tạo ra địa ngục lớn này, giết hại vô
lượng nhân dân. Bây giờ, vua nên mở lòng thương xót nghĩ
đến tất cả chúng sanh, ban bố sự không sợ hãi, khiến
họ an ổn. Như lời Phật huyền ký Đại vương, Đại vương
nên như pháp tu hành.”
Và
Tỳ-kheo nói kệ:
Nên
thực hành từ tâm,
Chớ
não hại chúng sanh;
Nên
tu tập Phật pháp,
Rộng
phân bố xá-lợi.
Bấy
giờ, A-dục vô cùng kính tin Phật, chắp tay làm lễ Tỳ-kheo:
“Tôi
phạm tội lớn, nay đối trước Tỳ-kheo xin sám hối. Những
việc làm của tôi thật sự không thể tha thứ được. Nay
nguyện làm Phật tử. Hãy nhận sự sám hối của tôi. Mong
hỷ xả, chớ quở trách. Tôi là kẻ ngu si, nay lại quy y.”
Và
vua nói kệ:
Tôi
nay quy y Phật,
Pháp
thắng diệu vô thượng;
Chúng
Tỳ-kheo tôn kính;
Nay
tôi trọn quy mạng.
Nay
tôi phải dũng mãnh,
Vâng
lời Thế Tôn dạy;
Nơi
Diêm-phù-đề này,
Dựng
khắp các tháp Phật.
Cúng
dường đủ các thứ,
Treo
lụa và tràng phan;
Trang
nghiêm tháp Thế Tôn,
Tráng
lệ đời ít có.
Tỳ-kheo
độ A-dục xong, liền nương nơi hư không mà hóa. Nhà vua từ
ngục mà ra, tên đao phủ tâu vua:
“Vua
không đi được.”
Vua
hỏi:
“Nay
người muốn giết ta sao?”
Đáp:
“Đúng
vậy.”
Vua
nói:
“Ai
là người đầu tiên vào ngục này?”
“Chính
tôi.”
“Nếu
như vậy, thì ngươi đáng chết trước.”
Vua
ra lệnh đem tên hung ác này bỏ vào nhà có bôi keo, lấy lửa
đốt cháy. Rồi ra lệnh phá hoại địa ngục này, ban sự
không sợ hãi cho chúng sanh.
Bấy
giờ, vua muốn xây tháp xá-lợi, đem bốn binh chủng đến
thành Vương xá lấy xá-lợi trong tháp Phật của vua A-xà-thế,
rồi trở về sửa sang tháp này giống như trước không khác.
Như vậy, A-dục đã lấy xá-lợi từ bảy tháp Phật. Sau đó
lại đưa đến thôn La-ma-la[22]. Rồi, các Long vương đưa vua
vào Long cung. Vua đòi vua Rồng cúng dường xá-lợi. Long vương
liền trao cho vua. Vua ra khỏi Long cung. Như bài kệ nói:
Trong
thôn La-ma-la,
Nơi
đó có tháp Phật;
Do
Long vương thờ phụng,
Giữ
gìn và cúng dường.
Vua
đòi vua Rồng chia,
Các
rồng sẵn lòng cho;
Vua
cầm xá-lợi này,
Đem
đến các phương khác.
Vua
làm tám muôn bốn ngàn hộp bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê
để đựng xá-lợi Phật. Lại làm tám muôn bốn ngàn bình
tứ bảo để chứa các ngàn hộp này. Rồi làm vô lượng
trăm ngàn tràng phan, tàn lọng lụa trắng, khiến cho các quỷ
thần mỗi vị cầm giữ đồ vật cúng dường xá-lợi. Vua
lại ra lệnh cho các quỷ thần rằng: ‘Diêm-phù-đề cho đến
làng, xóm, thành ấp, ven biển, đầy một ức nhà, hãy lập
tháp Xá-lợi để thờ Thế Tôn.’
Đương
thời có nước tên là Đức[23]-xoa-thi-la có ba mươi sáu ức
nhà. Người nước ấy nói với quỷ thần: ‘Hãy cho chúng
tôi ba mươi sáu hộp xá-lợi. Chúng tôi sẽ dựng tháp Phật.’
Vua làm phương tiện: nước nào ít dân, chia thêm cho đủ số
dân mà dựng tháp.
Bấy
giờ, tại ấp Ba-liên-phất có Thượng tọa tên Da-xá. Vua
đi đến chỗ Thượng tọa thưa:
“Tôi
muốn một ngày dựng tám vạn bốn ngàn tháp khắp cả Diêm-phù-đề.
Ý nguyện như vậy.”
Như
kệ tán thán:
Đại
vương tên A-dục,
Từ
tám ngôi tháp trước,
Lấy
ra xá-lợi Phật
Nơi
Diêm-phù-đề này.
Xây
dựng các tháp Phật,
Tám
muôn và bốn ngàn;
Rộng
rãi và thắng diệu,
Một
ngày đều hoàn tất.
Thượng
tọa nói với vua:
“Lành
thay, Đại vương! Ấn định mười lăm ngày sau, khi nguyệt
thực[24] cho xây các tháp Phật cõi Diêm-phù-đề.”
Như
vậy chỉ trong một ngày, dựng tám muôn bốn ngàn tháp. Nhân
dân thế gian vui mừng vô hạn cùng gọi là ‘Pháp A-dục vương’[25].
Tán thán như bài kệ sau:
Vua
dòng thánh Khổng Tước,
An
vui người thế gian.
Nơi
Diêm-phù-đề này,
Kiến
lập pháp thắng diệu.
Trước
gọi là Ác vương,
Nay
tạo nghiệp tốt lành;
Cùng
xưng gọi Pháp vương,
Tương
truyền mãi về sau.
Vua
đã dựng tám muôn bốn ngàn tháp, nên lấy làm phấn khởi,
vui mừng, đem các quần thần đi đến tinh xá Kê tước[26].
Vua thưa với Thượng tọa Da-xá:
“Có
Tỳ-kheo nào được Phật thọ ký sẽ làm Phật sự chăng?
Tôi sẽ đi đến Tỳ-kheo ấy cúng dường cung kính.”
Thượng
tọa Da-xá đáp:
“Lúc
Phật sắp Niết-bàn, hàng phục Long vương A-ba-la[27], thợ
gốm Chiên-đà-la[28], rồng Cù-ba-lê[29], đi đến nước Ma-thâu-la[30],
Phật bảo Tôn giả A-nan: ‘Sau khi Ta nhập Niết-bàn khoảng
một trăm năm có trưởng giả tên là Cù-đà[31] có con tên
là Ưu-ba-quật-đa[32] sẽ xuất gia học đạo, bằng Vô tướng
Phật[33] mà dạy dỗ người, là bậc nhất, sẽ làm Phật
sự.’ Phật bảo A-nan: ‘Có thấy núi xa kia chăng?’ A-nan
bạch: ‘Bạch Thế Tôn, thấy.’ Phật bảo A-nan: ‘Núi này
tên là Ưu-lưu-mạn-trà[34], đó là chỗ A-lan-nhã gọi là Na-trà-bà-đê[35],
phù hợp với sự tịch tĩnh.’ Phật nói kệ ca ngợi:
Tỳ-kheo
Ưu-ba-quật,
Vị
Giáo thọ bậc nhất;
Tiếng
đồn khắp bốn phương,
Được
thọ ký tối thắng.
Sau
khi Ta diệt độ,
Sẽ
làm các Phật sự;
Độ
tất cả chúng sanh,
Số
lượng nhiều vô hạn.”
Nhà
vua hỏi Thượng tọa Da-xá:
“Tôn
giả Ưu-ba-quật nay đã ra đời chưa?”
Thượng
tọa đáp:
“Vị
ấy đã ra đời và xuất gia học đạo, hàng phục phiền não,
là A-la-hán cùng với vô lượng Tỳ-kheo quyến thuộc một
muôn tám ngàn đang trú tại A-lan-nhã ở núi Ưu-lưu-mạn-trà.
Vì thương xót chúng sanh, nên nói pháp tịnh diệu như Phật,
hóa độ vô lượng trời, người khiến cho được vào thành
cam lộ.”
Nhà
vua nghe xong vui mừng khôn xiết. Tức thì ra lệnh cho quần
thần nhanh chóng sửa soạn xe cộ, đưa vô lượng quyến thuộc
đến nơi ấy, để cung kính cúng dường Ưu-ba-quật-đa.
Bấy
giờ, các quan tâu với vua rằng:
“Vị
Thánh này đang ở tại nước của vua. Nên sai tín sứ rước
vị ấy. Vị ấy sẽ tự mình đến.”
Vua
trả lời các quan:
“Không
nên sai tín sứ đến nơi ấy. Ta nên tự đến, không nên để
vị ấy tới đây.”
Và
vua nói kệ:
Ngươi
được lưỡi Kim cang,
Vẫn
không thể phá vỡ,
Ngăn
ta đến nơi kia,
Gần
gũi người nhà nông[36].”
Vua
sai tín sứ đến báo Tôn giả: ‘Ngày nào đó, vua sẽ đến
chỗ Tôn giả.’
Tôn
giả suy nghĩ: ‘Nếu vua đến sẽ có rất đông người đi
theo, chịu bao khổ sở, lại bức bách sát hại côn trùng và
hại nhân dân làng xóm.’ Suy nghĩ xong, Tôn giả trả lời
sứ giả rằng:
“Tôi
sẽ tự đi đến cung vua.”
Khi
vua nghe Tôn giả tự đến, vui mừng sung sướng vô hạn. Từ
Ma-thâu-la đến Ba-liên-phất, ở khoảng giữa hai nơi, vua cho
đặt thuyền bè, trên thuyền treo phướn lọng. Tôn giả Ưu-ba-quật,
vì thương xót vua nên đem chúng A-la-hán một muôn tám ngàn
vị theo đường thủy đến vương quốc. Bấy giờ, người
trong nước tâu vua:
“Tôn
giả Ưu-ba-quật đem một muôn tám ngàn Tỳ-kheo đến đây
rồi.”
Vua
sung sướng mừng rỡ khôn xiết, vội cởi chuỗi ngọc giá
trị ngàn vàng trao cho họ. Rồi vua cùng các đại thần, quyến
thuộc đi đến chỗ Tôn giả, cởi bỏ hành lý, năm vóc sát
đất, làm lễ trước Tôn giả, quỳ gối chắp tay thưa rằng:
“Tôi
nay thống lãnh cõi Diêm-phù-đề này, tuy ngồi ở ngôi vua
mà không lấy làm vui. Hôm nay thấy được Tôn giả, vui mừng
khôn xiết. Đệ tử của Như Lai mới có thể như vậy, thấy
Tôn giả như thấy được Phật.”
Và
vua nói kệ:
“Tịch
diệt, đã qua đời,
Nay
ngài làm Phật sự.
Dứt
ngu si thế gian,
Như
mặt trời Phật chiếu.
Vì
đời làm Đạo sư,
Bậc
thuyết pháp đệ nhất;
Chúng
sanh đáng nương cậy,
Nay
tôi rất hoan hỷ.”
Nhà
vua ra lệnh cho sứ giả loan báo khắp nước rằng:
“Tôn
giả Ưu-ba-quật ngày nay đến nước này.”
Bèn
xướng lên rằng:
“Ai
muốn được giàu sang,
Xa
lìa khổ bần cùng;
Thường
được vui cõi trời;
Ai
giải thoát Niết-bàn.
Nên
gặp Ưu-ba-quật,
Cung
kính và cúng dường.
Ai
chưa thấy chư Phật,
Nay
thấy Ưu-ba-quật.”
Bấy
giờ, nhà vua chỉnh trang bờ cõi, đắp đường bằng phẳng,
treo lụa, phan, lọng, xông hương, rãi hoa, tấu nhạc. Nhân
dân cả nước đều ra ngoài nghinh đón Tôn giả Ưu-ba-quật
để cúng dường cung kính.
Bấy
giờ, Tôn giả Ưu-ba-quật tâu vua:
“Tâu
Đại vương, ngài nên đem chánh pháp cai trị, giáo hóa, thương
xót chúng sanh. Vì Tam bảo khó gặp, nên đối với Tam bảo
cúng dường, cung kính, tu niệm và khen ngợi, vì người giảng
nói rộng. Vì sao? Vì Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác,
là bậc Tri giả, Kiến giả, thường huyền ký rằng: ‘Chánh
pháp của Ta được ký thác nơi Quốc vương và Tỳ-kheo Tăng
của ta’.”
Và
Tôn giả nói kệ:
“Bậc
Thế Hùng tôn kính,
Chánh
pháp rất thắng diệu;
Ký
thác nơi Đại vương,
Cùng
với Tỳ-kheo Tăng.”
Nhà
vua thưa với Tôn giả Ưu-ba-quật:
“Tôi
đã dựng lập Chánh pháp.”
Và
vua nói kệ:
“Tôi
đã tạo các tháp,
Trang
nghiêm các bờ cõi;
Khởi
cúng dường mọi thứ,
Phan,
lọng cùng trân bảo.
Phân
bố xá-lợi Phật,
Khắp
cả Diêm-phù-đề;
Tôi
tạo các phước này,