TẠP
A-HÀM QUYỂN 21
KINH
559. CA-MA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại nước Ba-la-lợi-phất-đố-lộ[2]. Bấy
giờ Tôn giả A-nan và Tôn giả Ca-ma[3] cũng ở tại tinh xá
Kê lâm[4], nước Ba-la-lợi-phất-đố-lộ.
Lúc
bấy giờ, Tôn giả Ca-ma đi đến chỗ Tôn giả A-nan, cùng
nhau chào hỏi xong, rồi ngồi lui qua một bên, nói với Tôn
giả A-nan:
“Lạ
thay! Thưa Tôn giả A-nan, có mắt, có sắc[5]; có tai, có âm
thanh; có mũi, có mùi; có lưỡi, có vị; có thân, có xúc;
có ý, có pháp. Nhưng có Tỳ-kheo có những pháp này mà lại
không giác tri được. Vì sao, Tôn giả A-nan, Tỳ-kheo này vì
có tưởng nên không giác tri được, hay vì không có tưởng
nên không giác tri được?”
Tôn
giả A-nan nói với Tôn giả Ca-ma:
“Người
có tưởng cũng không giác tri được, huống chi là người
không có tưởng!”
Tôn
giả Ca-ma lại hỏi Tôn giả A-nan:
“Những
gì là có tưởng, có pháp mà không giác tri được?”
Tôn
giả A-nan bảo Tôn giả Ca-ma:
“Nếu
Tỳ-kheo nào ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán,
có hỷ lạc phát sanh do viễn ly, chứng và an trụ Sơ thiền;
như vậy Tỳ-kheo có tưởng có pháp mà không giác tri. Cũng
vậy, chứng và an trụ đệ Nhị thiền, đệ Tam thiền, đệ
Tứ thiền, Không nhập xứ, Thức nhập xứ, Vô sở hữu nhập
xứ. Như vậy Tỳ-kheo có tưởng có pháp mà không giác tri.”
“Thế
nào là không có tưởng, có pháp mà không giác tri?”
“Tỳ-kheo
như vậy không niệm tưởng hết thảy tưởng, thân tác chứng,
thành tựu và an trú vô tưởng tâm tam-muội[6]; đó gọi là
Tỳ-kheo không có tưởng, có pháp mà không giác tri.”
Tôn
giả Ca-ma lại hỏi Tôn giả A-nan:
“Nếu
Tỳ-kheo nào đạt được tâm vô tướng tam-muội, không vọt
lên, không chìm xuống, giải thoát rồi an trụ, an trụ rồi
giải thoát, thì Thế Tôn nói đây là quả gì, công đức gì?”
Tôn
giả A-nan bảo Tôn giả Ca-ma:
“Nếu
Tỳ-kheo nào đạt được tâm vô tướng tam-muội, không vọt
lên, không chìm xuống, giải thoát rồi an trụ, an trụ rồi
giải thoát, thì Thế Tôn nói đó là trí quả, trí công đức[7].”
Hai
vị Tôn giả cùng nhau bàn luận rồi tùy hỷ hoan hỷ, mỗi
người từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
*
KINH
560. ĐỘ LƯỢNG[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, thuộc nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ Tôn giả A-nan cũng ở đó.
Lúc
ấy Tôn giả A-nan bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào tự xác nhận[9] trước mặt tôi,
tôi sẽ chào mừng ủy lạo rằng: Lành thay! Hoặc do suy cầu
bốn đạo[10]. Những gì là bốn? Đó là, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
ngồi mà trụ tâm như vầy: Thiện xảo trụ tâm, cục bộ
trụ tâm, điều phục tâm, nhất tâm bình đẳng mà tiếp thọ
phân biệt chỉ quán, đối với pháp mà lượng độ, tu tập,
tu tập nhiều rồi, dứt hết các sử. Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
trước mặt tôi tự xác nhận, thì tôi ủy dụ: ‘Như vậy,
lành thay!’ Hoăïc suy cầu điều này. Đó là đạo thứ nhất.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ngồi thẳng tư duy, đối với pháp
tuyển trạch, tư lương mà trụ tâm: Thiện xảo trụ tâm,
cục bộ trụ tâm, điều phục tâm, nhất tâm bình đẳng mà
tiếp thọ chỉ quán. Như thế chánh hướng an trụ nhiều,
lìa được các sử. Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni trước mặt
tôi tự xác nhận, thì tôi ủy dụ: ‘Như vậy, lành thay!’
Hoăïc suy cầu điều này. Đó là đạo thứ hai.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni bị nắm giữ bởi sự động loạn,
vì để điều phục tâm mà ngồi, ngồi ngay ngắn trụ tâm:
Thiện xảo trụ tâm, cục bộ trụ tâm, điều phục tâm, chỉ
quán, nhất tâm bình đẳng mà tiếp thọ hóa[11]. Như thế
chánh hướng an trụ nhiều, lìa được các sử. Nếu có Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni trước mặt tôi tự xác nhận, thì tôi ủy dụ:
‘Như vậy, lành thay!’ Hoăïc suy cầu điều này. Đó là
đạo thứ ba.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni chỉ và quán hòa hợp, cả hai cùng
thực hành, tác ý như thế mà chánh hướng an trụ nhiều,
thì sẽ dứt hết các sử. Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni trước
mặt tôi tự xác nhận, thì tôi ủy dụ: ‘Như vậy, lành
thay!’ Hoăïc suy cầu điều này. Đó là đạo thứ tư[12].”
Sau
khi các Tỳ-kheo nghe những gì Tôn giả A-nan dạy xong, hoan hỷ
phụng hành.
*
KINH
561. BÀ-LA-MÔN[13]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, nước Câu-diệm-di. Bấy
giờ Tôn giả A-nan cũng ở đó.
Lúc
ấy, có Bà-la-môn đến chỗ Tôn giả A-nan cùng chào đón hỏi
thăm, rồi ngồi lui sang một bên, hỏi Tôn giả A-nan:
“Vì
sao Tôn giả ở chỗ Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh?”
Tôn
giả A-nan trả lời Bà-la-môn:
“Vì
đoạn trừ.”
Bà-la-môn
ấy lại hỏi:
“Thưa
Tôn giả, đoạn dứt cái gì?”
“Đoạn
dứt ái.”[14]
“Thưa
Tôn giả A-nan, y chỉ gì để đoạn dứt ái?”
“Này
Bà-la-môn, y chỉ dục[15] để đoạn dứt ái.”
“Thưa
Tôn giả A-nan, há không phải không có biên tế[16]?”
“Này
Bà-la-môn, không phải không có biên tế. Quả vậy, có biên
tế, không phải không có biên tế.”
“Thưa
Tôn giả A-nan, thế nào là có biên tế, không phải không có
biên tế?”
“Này
Bà-la-môn, nay tôi hỏi ông, tùy ý mà trả lời. Ông nghĩ thế
nào, trước đây có ý dục đến tinh xá không?”
Bà-la-môn
đáp:
“Đúng
vậy, thưa Tôn giả A-nan!”
“Như
thế, Bà-la-môn, sau khi đến tinh xá, dục kia dứt phải không?
“Đúng
vậy, thưa Tôn giả A-nan, kia tinh tấn, phương tiện, trù lượng
mà đi đến tinh xá.”
Tôn
giả A-nan lại hỏi:
“Sau
khi đến tinh xá thì sự tinh tấn, phương tiẹân, trù lượng
có dứt không?”
“Đúng
vậy.”
Tôn
giả A-nan lại nói với Bà-la-môn:
“Như
thế, Bà-la-môn, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, là đấng
Tri giả, Kiến giả, nói bốn Như ý túc, bằng nhứt thừa
đoạn mà thanh tịnh chúng sanh, diệt khổ não, đoạn ưu bi.
Những gì là bốn? Như ý túc được thành tựu với sự cần
hành trên dục định[17]. Như ý túc được thành tựu với
sự cần hành trên tinh tấn định, tâm định, tư duy định[18].
Như thế Thánh đệ tử tu dục định, đoạn tham ái, thành
tựu bốn Như ý túc. Y xa lìa, y vô dục, y giải thoát, y diệt,
hướng đến xả đoạn dứt ái; tham ái dứt rồi, thì dục
kia cũng dứt; tu tinh tấn định, tâm định, tư duy định,
đoạn tham ái, thành tựu, y xa lìa, y vô dục, y giải thoát,
y tịch diệt, hướng đến xả tham ái dứt sạch; ái dứt
sạch rồi, tư duy định liền dứt.”
“Này
Bà-la-môn, ý ông thế nào? Đây chẳng phải là biên tế chăng?”
Bà-la-môn
thưa:
“Thưa
Tôn giả A-nan, đây là biên tế chẳng phải không biên tế.”
Bà-la-môn
nghe Tôn giả A-nan nói, hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ rồi đi.
*
KINH
562. CÙ-SƯ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, thuộc nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ Tôn giả A-nan cũng ở đó. Lúc ấy có trưởng giả
Cù-sư-la đến chỗ Tôn giả A-nan, cúi đầu đảnh lễ Tôn
giả, rồi ngồi lui qua một bên, thưa Tôn giả A-nan:
“Thưa
Tôn giả A-nan, thế nào gọi là vị thuyết pháp trong thế
gian? Sao gọi là thiện hướng trong thế gian[19]? Sao gọi là
thiện đáo trong thế gian[20]?”
Tôn
giả A-nan bảo trưởng giả Cù-sư-la:
“Bây
giờ, tôi hỏi ông, tùy ý đáp câu hỏi của tôi. Này Trưởng
giả, ý ông nghĩ sao, nếu có vị thuyết pháp để điều phục
tham dục, điều phục sân nhuế, điều phục ngu si, được
gọi là vị thuyết pháp trong thế gian không?”
Trưởng
giả đáp:
“Thưa
Tôn giả A-nan, nếu có vị thuyết pháp để điều phục tham
dục, điều phục sân nhuế, điều phục ngu si, vị ấy được
gọi là vị thuyết pháp trong thế gian.”
Tôn
giả A-nan lại hỏi trưởng giả:
“Ý
ông nghĩ sao, nếu trong đời có vị hướng đến điều phục
tham dục, điều phục sân nhuế, điều phục ngu si, đó gọi
là vị thiện hướng trong thế gian. Nếu trong đời có vị
đã điều phục tham dục, sân nhuế, ngu si, vị đó gọi là
thiện đáo hay chẳng phải?”
Trưởng
giả đáp:
“Thưa
Tôn giả A-nan, nếu trong đời có vị đã điều phục tham
dục không dư tàn; điều phục sân nhuế, ngu si không dư tàn,
vị đó gọi là thiện đáo.”
Tôn
giả A-nan nói:
“Tôi
thử hỏi ông, ông đã chân thật trả lời nghĩa ấy như vậy,
ông nên ghi nhận giữ gìn.”
Trưởng
giả Cù-sư-la sau khi nghe những gì Tôn giả A-nan chỉ dạy,
hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ rồi lui ra.
*
KINH
563. NI-KIỀN[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại giảng đường Trùng các, bên bờ ao Di-hầu,
nước Tỳ-xá-ly. Bấy giờ Tôn giả A-nan cũng ở đó. Lúc
ấy có Vô Úy người Ly-xa[22] là đệ tử của Ni-kiền và
Thông Minh đồng tử[23] người Ly-xa là đệ tử của A-kỳ-tỳ[24],
cả hai cùng đi đến chỗ Tôn giả A-nan, cùng nhau ân cần
hỏi thăm xong, rồi ngồi lui qua một bên.
Khi
ấy, Ly-xa Vô Úy nói với Tôn giả A-nan:
“Thầy
tôi Ni-kiền Tử đã diệt trừ pháp thiêu đốt[25], thanh tịnh
siêu xuất, đã vì các đệ tử nói đạo lý như vầy: Nghiệp
của đời trước, do thực hành khổ hạnh nên chắc chắn
có thể được trút bỏ[26]; thân nghiệp chẳng tạo tác, chặt
đứt cầu đò, trong đời vị lai, không còn các lậu, các
nghiệp vĩnh viễn đoạn tận. Vì nghiệp đã vĩnh viễn đoạn
tận nên các khổ vĩnh viễn chấm dứt; vì khổ vĩnh viễn
chấm dứt nên cứu cánh biên tế khổ. Thưa Tôn giả A-nan,
nghĩa này như thế nào?”
Tôn
giả A-nan bảo Vô-úy:
“Như
Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, là bâïc Tri giả, Kiến giả,
nói ba thứ đạo dứt lìa sự thiêu đốt, thanh tịnh siêu
xuất[27], bằng nhất thừa đạo mà thanh tịnh chúng sanh, lìa
ưu bi, vượt qua khổ não, được pháp chân như[28]. Những
gì là ba? Như vậy, Thánh đệ tử sống an trụ trong tịnh
giới, thọ trì Ba-la-đề-mộc-xoa, oai nghi đầy đủ, tín nơi
các tội lỗi mà sanh ý tưởng sợ hãi[29]. Giữ gìn tịnh
giới đầy đủ như vậy; nghiệp cũ dần dần trút sạch,
ngay trong hiện tại được lìa nhiệt não, không đợi thời
tiết, chứng đắc Chánh pháp, quán sát thông đạt bằng sự
hiện thấy, tự giác ngộ bằng trí tuệ[30]. Này trưởng giả
Ly-xa, đó gọi là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, là
bâïc Tri giả, Kiến giả, nói ba thứ đạo dứt lìa sự thiêu
đốt, thanh tịnh siêu xuất, bằng nhất thừa đạo mà thanh
tịnh chúng sanh, lìa ưu bi, vượt qua khổ não, được pháp
chân như.”
Lại
nữa Vô Úy, với tịnh giới đã đầy đủ như thế, mà ly
dục, lìa pháp ác bất thiện... cho đến, chứng và an trụ
đệ Tứ thiền. Đó gọi là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh
Giác nói lìa nhiệt não được pháp như thật.
Lại
có tam-muội chánh thọ, đối với Khổ Thánh đế này biết
như thật: Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế, Khổ
diệt đạo Thánh đế biết như thật. Thành tựu một cách
đầy đủ tâm trí tuệ như thế, nghiệp mới chẳng tạo,
nghiệp cũ dần dần dứt sạch, ngay trong hiện tại được
lìa nhiệt não, không đợi thời tiết, chứng đắc Chánh pháp,
quán sát thông đạt bằng sự hiện thấy, tự giác ngộ bằng
trí tuệ[31]. Này trưởng giả Ly-xa, đó gọi là Như Lai, Ứng
Cúng, Đẳng Chánh Giác, là bâïc Tri giả, Kiến giả, nói ba
thứ đạo dứt lìa sự thiêu đốt, thanh tịnh siêu xuất,
bằng nhất thừa đạo mà thanh tịnh chúng sanh, lìa ưu bi,
vượt qua khổ não, được pháp như thật.”
Bấy
giờ, đệ tử của Ni-kiền Tử là Ly-xa Vô Úy, im lặng trong
giây lâu. Đệ tử của A-kỳ-tỳ là Ly-xa Thông Minh lặp lại
với Vô Úy rằng:
“Lạ
thay, Vô Úy! Sao im lặng như vậy? Pháp được khéo giảng nói
bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, là đấng Tri giả,
Kiến giả, ông nghe mà không tùy hỷ chăng?”
Ly-xa
Vô Úy đáp:
“Vì
tôi đang suy nghĩ nghĩa ấy nên im lặng. Ai nghe pháp được
khéo giảng nói bởi Thế Tôn Sa-môn Cù-đàm, mà không tùy
hỷ? Nếu có người nào nghe pháp được khéo giảng nói bởi
Thế Tôn Sa-môn Cù-đàm mà không tùy hỷ thì đó là kẻ ngu
si, sẽ lâu dài cam chịu khổ quả, không phải nghĩa lợi,
không phải hữu ích.”
Bấy
giờ, đệ tử của Ni-kiền Tử là Ly-xa Vô Úy và đệ tử
của A-kỳ-tỳ là Ly-xa Thông Minh nghe lại lời nói pháp của
Phật do Tôn giả A-nan nói xong, tùy hỷ hoan hỷ, từ chỗ ngồi
đứng dậy ra đi.
*
KINH
564. TỲ-KHEO-NI[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-nan cũng ở đó.
Lúc
ấy có một Tỳ-kheo-ni khởi tâm nhiễm trước đối với Tôn
giả A-nan, sai người đến thưa Tôn giả A-nan:
“Thân
con bị bệnh khổ, xin Tôn giả thương xót đến thăm.”
Tôn
giả A-nan sáng sớm đắp y mang bát đến chỗ Tỳ-kheo-ni kia.
Tỳ-kheo-ni kia từ xa trông thấy Tôn giả A-nan đi đến, để
thân thể lõa lồ nằm trên giường. Tôn giả A-nan từ xa trông
thấy thân thể của Tỳ-kheo-ni liền thu nhiếp các căn, đứng
xoay lưng lại. Tỳ-kheo-ni kia trông thấy Tôn giả A-nan thu nhiếp
các căn, đứng xoay lưng lại, liền tự cảm thấy hổ thẹn.
Cô đứng lên khoác lại y phục, trải tọa cụ, đón tiếp
Tôn giả A-nan, mời ngồi, cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả,
rồi lui đứng sang một bên.
Lúc
ấy, Tôn giả A-nan liền vì Tỳ-kheo-ni này nói pháp:
“Này
cô, như cái thân này là do thức ăn uế tạp nuôi lớn, do
kiêu mạn nuôi lớn, do ái nuôi lớn, do dâm dục nuôi lớn.
Này cô, nương nơi thức ăn uế tạp thì nên dứt các thức
ăn uế tạp. Nếu nương nơi kiêu mạn, thì nên dứt kiêu mạn.
Nương nơi ái dục, hãy dứt ái dục.
“Này
cô, thế nào gọi là nương nơi thức ăn uế tạp thì dứt
thức ăn uế tạp? Thánh đệ tử đối với sự ăn uống,
phải xét lường, suy nghĩ mà ăn, không ăn với ý tưởng đắm
đuối lạc thú, không ăn với ý tưởng kiêu mạn, không ăn
với ý tưởng trau chuốt, không ăn với ý tưởng làm đẹp,
mà chỉ vì duy trì thân, chỉ vì nuôi sống, vì trị cái bệnh
đói khát, vì nhiếp thọ phạm hạnh, vì muốn làm dứt các
cảm thọ cũ, các cảm thọ mới chẳng phát sanh, nuôi lớn
theo tập quán cao thượng; hoặc lực, hoặc lạc, hoặc xúc
nên trụ như thế. Thí như khách buôn dùng dầu tô hay dầu
nấu đặc để bôi xe, không có ý tưởng nhiễm trước, không
có ý tưởng kiêu mạn, không có ý tưởng trau chuốt, không
ý tưởng làm đẹp mà chỉ vì chuyên chở. Lại như người
bị bệnh ghẻ bôi dầu không ý tưởng nhiễm trước hay ưa
thích, không ý tưởng kiêu mạn, không có ý tưởng trau chuốt,
không có ý tưởng làm đẹp mà vì lành bệnh ghẻ. Như thế
Thánh đệ tử xét lường mà ăn, không ăn với ý tưởng đắm
đuối lạc thú, không ăn với ý tưởng kiêu mạn, không ăn
với ý tưởng trau chuốt, không ăn với ý tưởng làm đẹp;
mà chỉ vì duy trì thân, chỉ vì nuôi sống, vì trị cái bệnh
đói khát, vì nhiếp thọ phạm hạnh, vì muốn làm dứt các
cảm thọ cũ, các cảm thọ mới chẳng phát sanh, nuôi lớn
theo tập quán cao thượng; hoặc lực, hoặc lạc, hoặc xúc,
không lỗi lầm, trụ an ổn. Này cô, đó gọi là nương thức
ăn thì dứt ăn.
“Nương
kiêu mạn thì dứt kiêu mạn. Thế nào là nương kiêu mạn
thì dứt kiêu mạn? Thánh đệ tử nghe Tôn giả kia, hay đệ
tử của Tôn giả kia, sạch hết các hữu lậu, tâm giải thoát
vô lậu, tuệ giải thoát, ngay trong đời này tự biết tác
chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc
cần làm đã xong, tự biết không còn tái sanh nữa.’ Nghe
rồi liền nghĩ rằng: ‘Thánh đệ tử kia hết sạch hữu
lậu, tự biết không còn tái sanh nữa. Còn ta ngày nay, vì
sao không hết hữu lậu, vì sao không tự biết không còn tái
sanh nữa?’ Ngay lúc đó chắc chắn sẽ có thể dứt các hữu
lậu, tự biết không còn tái sanh nữa. Này cô, đó gọi là
nương kiêu mạn thì dứt kiêu mạn.
“Này
cô, thế nào là nương ái thì dứt ái? Thánh đệ tử nghe
Tôn giả kia, hay đệ tử của Tôn giả kia, hết sạch các
pháp hữu lậu, tự biết không còn tái sanh nữa. Còn chúng
ta sao chẳng hết hữu lậu, tự biết không còn tái sanh nữa.
Ngay lúc ấy có thể dứt các hữu lậu tự biết không còn
tái sanh nữa Này cô, đó gọi là nương ái thì ái dứt. Này
cô, người không còn việc để làm, tức là người đã cắt
đứt cầu đò, đoạn tuyệt dâm dục.”
Khi
Tôn giả A-nan nói pháp, Tỳ-kheo-ni xa lìa trần cấu, được
pháp nhãn thanh tịnh. Tỳ-kheo-ni ấy thấy pháp đắc pháp,
giác pháp, nhập pháp, không còn hồ nghi, chẳng do người khác,
đối với Chánh pháp luật tâm không sợ hãi.
Tỳ-kheo-ni
đến đảnh lễ dưới chân Tôn giả A-nan và thưa:
“Ngày
nay con xin phát lồ sám hối. Con ngu si, không tốt, làm ra chuyện
xấu xa như thế. Nay ở nơi Tôn giả A-nan, con tự thấy lỗi
lầm, tự biết lỗi, con xin phát lồ sám hối, mong Tôn giả
thương xót.”
Tôn
giả A-nan bảo Tỳ-kheo-ni:
“Bây
giờ cô đã chân thật tự thấy tội, biết lỗi, ngu si, bất
thiện. Cô tự biết đã tạo tội xấu xa. Cô tự biết, tự
thấy và ăn năn lỗi lầm, ở đời vị lai sẽ được đầy
đủ giới. Nay tôi nhận sự sám hối của cô, vì thương xót
muốn khiến cô được tăng trưởng pháp lành trọn không thoái
giảm. Vì sao? Vì nếu người tự thấy tội, tự biết tội,
luôn sám hối thì ở đời vị lai sẽ được đầy đủ giới,
pháp lành tăng trưởng, trọn không thoái giảm.”
Sau
khi Tỳ-kheo-ni này nghe Tôn giả A-nan nói pháp, khai thị, chỉ
giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy
ra về.
*
KINH
565. BÀ-ĐẦU[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật cùng Tôn giả A-nan ở tại Kiều-trì[34], du hành
trong nhân gian, đi đến rừng Thân-thứ[35], phía Bắc làng
Bà-đầu[36].
Bấy
giờ các thiếu niên tại làng Bà-đầu nghe nói Tôn giả A-nan
ở tại Kiều-trì, du hành trong nhân gian, đi đến rừng Thân-thứ,
phía Bắc làng Bà-đầu, bèn kêu gọi nhau tập hợp lại, rồi
cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả A-nan, đảnh lễ Tôn giả,
ngồi lui qua một bên. Lúc ấy Tôn giả A-nan bảo các thiếu
niên:
“Này
các Hổ chủng[37], Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, nói
bốn thứ thanh tịnh[38]: Giới thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiến
thanh tịnh, Giải thoát thanh tịnh.
“Thế
nào là Giới thanh tịnh? Thánh đệ tử trụ nơi Ba-la-đề-mộc-xoa,
giới tăng trưởng, oai nghi đầy đủ, đối với tội vi tế
cũng sanh sợ hãi, giữ gìn các học giới, giới thân chưa
trọn vẹn có thể làm cho đầy đủ hoàn toàn, đã đầy đủ
rồi tùy thuận giữ gìn. Dục, tinh tấn phương tiện siêu
xuất, siêng năng dũng mãnh, thân, tâm pháp luôn luôn nhiếp
thọ[39]; đó gọi là Giới tịnh đoạn.
“Này
các Hổ chủng? Thế nào là Tâm tịnh đoạn? Thánh đệ tử
ly dục, lìa pháp ác bất thiện chứng và an trụ đệ Tứ
thiền; định thân chưa đầy đủ thì làm cho được đầy
đủ, đã đầy đủ rồi thì tùy thuận giữ gìn. Dục, tinh
tấn, cho đến luôn luôn nhiếp thọ; đó gọi là Tâm tịnh
đoạn[40].
“Này
các Hổ chủng, thế nào gọi là Kiến tịnh đoạn? Thánh đệ
tử nghe Đại Sư nói pháp; với pháp được nói như vậy,
như vậy, thì như vậy, như vậy mà nhập chánh quán như thật,
như vậy, như vậy mà được hoan hỷ, được tùy hỷ, được
theo Phật.
“Lại
nữa, Thánh đệ tử tuy chẳng nghe Đại Sư nói pháp, nhưng
nghe từ bậc minh trí được các vị phạm hạnh tôn trọng.
Nghe các vị phạm hạnh được tôn trọng nói như vậy, như
vậy, thì như vậy, như vậy mà nhập chánh quán như thật,
như vậy, như vậy mà được hoan hỷ, được tùy hỷ, có
tín đối với Chánh pháp.
“Lại
nữa, Thánh đệ tử chẳng được nghe Đại Sư nói pháp, cũng
chẳng nghe từ bậc minh trí được các vị phạm hạnh tôn
trọng nói. Chỉ nghe những điều đã nghe và thọ trì trước
kia, đọc đi đọc lại tập quen. Sau khi thọ trì những điều
đã nghe trước kia mà đọc đi đọc lại như vậy, như vậy
rồi, như vậy mà thâm nhập có tín đối với Chánh pháp.
“Lại
nữa Thánh đệ tử chẳng nghe Đại Sư nói pháp, cũng chẳng
nghe từ bậc minh trí được các vị phạm hạnh tôn trọng
nói lại, cũng chẳng có thể đọc lại những điều đã được
thọ trì trước kia, nhưng với pháp đã được nghe trước
kia mà nói rộng cho người khác; với pháp đã được nghe
trước kia mà nói rộng cho người khác như vậy, như vậy
rồi, như vậy mà thâm nhập có tín đối với Chánh pháp.
“Lại
nữa, Thánh đệ tử chẳng nghe Đại Sư nói pháp, cũng chẳng
nghe từ bậc minh trí được các vị phạm hạnh tôn trọng
nói lại, cũng chẳng có thể đọc lại những điều đã được
thọ trì trước kia, cũng chẳng có thể với pháp đã được
nghe trước kia mà nói rộng cho người khác; nhưng đối với
pháp đã được nghe trước kia một mình ở chỗ vắng vẻ
tư duy quán sát. Tư duy quán sát như vậy, như vậy rồi, như
vậy mà thâm nhập có tín đối với Chánh pháp.
“Như
thế từ người khác được nghe, bên trong chánh tư duy. Đó
gọi là chánh kiến chưa khởi khiến khởi; chánh kiến đã
khởi làm cho rộng thêm. Đó gọi là tuệ thân[41] chưa đầy
đủ làm cho đầy đủ; tuệ thân đã đầy đủ rồi, tùy
thuận giữ gìn. Dục, tinh tấn, cho đến luôn luôn nhiếp thọ;
đó gọi là Kiến tịnh đoạn[42].
“Này
các Hổ chủng, thế nào gọi là Giải thoát thanh tịnh đoạn?
Thánh đệ tử đối với tâm tham mà vô dục được giải
thoát; đối với tâm sân, si mà vô dục được giải thoát.
Giải thoát như thế chưa đầy đủ khiến cho đầy đủ; đã
đầy đủ rồi tùy thuận giữ gìn. Dục, tinh tấn, cho đến
luôn luôn nhiếp thọ; đó gọi là Giải thoát tịnh đoạn[43].”
Sau
khi nghe Tôn giả A-nan chỉ dạy xong, các thiếu niên làng Bà-đầu,
tùy hỷ, hoan hỷ, làm lễ rồi lui.
*
KINH
566. NA-GIÀ-ĐẠT-ĐA (1)[44]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la[45], cùng với
các Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ có trưởng giả Chất-đa-la[46]
đến chỗ các Tỳ-kheo Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới
chân, rồi ngồi lui qua một bên. Các Tỳ-kheo Thượng tọa
vì trưởng giả Chất-đa-la nói pháp bằng nhiều hình thức,
khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ. Sau khi nói pháp
bằng nhiều hình thức, khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho
hoan hỷ, các Thượng tọa ngồi im lặng. Trưởng giả Chất-đa-la
liền cúi đầu đảnh lễ các Tỳ-kheo Thượng tọa, rồi đi
đến phòng Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa; đảnh lễ Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa,
rồi ngồi lui qua một bên. Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa hỏi trưởng
giả Chất-đa-la:
“Có
lời nói như vầy:
Chi
xanh[47] được phủ trắng[48]
Xe
một bánh lăn quay;
Lìa
kết, đến quán sát,
Cắt
dòng, chẳng còn trói.
“Này
Trưởng giả, bài kệ này có nghĩa gì?”
Trưởng
giả Chất-đa-la thưa:
“Tôn
giả Na-già-đạt-đa, có phải Đức Thế Tôn nói bài kệ này
không?”
“Phải.”
Chất-đa-la
thưa Tôn giả Na-già-đạt-đa:
“Xin
Tôn giả im lặng chốc lát, tôi sẽ suy nghĩ ý nghĩa này.”
Sau
một hồi im lặng suy nghĩ, Chất-đa-la nói với Tôn giả Na-già-đạt-đa:
“Xanh
nghĩa là Giới[49]. Phủ trắng[50] là giải thoát. Một bánh
là thân niệm. Quay là quay ra. Xe là chỉ quán[51]. Lìa kết[52],
có ba thứ kết là tham, sân, si. A-la-hán kia đã dứt sạch
các lậu, đã diệt, đã biến tri, đã cắt đứt rễ, như
chặt ngọn cây đa-la không sanh trở lại nữa, đời vị lai
thành pháp bất sanh.
“Quán
sát[53] nghĩa là thấy. Đến, là người đến[54].
“Cắt
dòng[55], nghĩa là dòng ái nơi sanh tử. Tỳ-kheo A-la-hán kia
đã dứt sạch các lậu, đã diệt, đã biến tri, đã cắt
đứt rễ, như chặt ngọn cây đa-la không sanh trở lại nữa,
đời vị lai thành pháp bất sanh.
“Chẳng
còn trói[56], là ba hệ phược: tham dục phược, sân nhuế
phược, ngu si phược. Tỳ-kheo A-la-hán kia đã dứt sạch các
lậu, đã diệt, đã biến tri, đã cắt đứt rễ, như chặt
ngọn cây đa-la không sanh trở lại nữa, đời vị lai thành
pháp bất sanh.
“Thế
nên, này Tôn giả Na-già-đạt-đa, Thế Tôn nói bài kệ này:
“Chi
xanh được phủ trắng
Xe
một bánh lăn quay;
Lìa
kết, quán sát đến,
Cắt
dòng, chẳng còn trói.”
“Thế
Tôn nói bài kệ này, tôi đã phân biệt rồi.”
Tôn
giả Na-già-đạt-đa hỏi trưởng giả Chất-đa-la:
“Ông
đã nghe nghĩa này trước rồi chăng?”
“Thưa,
không được nghe.”
Tôn
giả Na-già-đạt-đa nói:
“Này
Trưởng giả, ông được lợi ích tốt lành, ở nơi Phật
pháp sâu xa này mà được thâm nhập bằng tuệ nhãn của Hiền
thánh.”
Trưởng
giả Chất-đa-la sau khi nghe Tôn giả Na-già-đạt-đa nói xong,
tùy hỷ, hoan hỷ, làm lễ rồi lui.
*
KINH
567. NA-GIÀ-ĐẠT-ĐA (2)[57]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la, cùng với các
Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ có trưởng giả Chất-đa-la
đến chỗ các Tỳ-kheo Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới
chân, rồi ngồi lui qua một bên. Các Tỳ-kheo Thượng tọa
vì trưởng giả Chất-đa-la nói pháp bằng nhiều hình thức,
khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ. Sau khi nói pháp
bằng nhiều hình thức, khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho
hoan hỷ, các Thượng tọa ngồi im lặng. Trưởng giả Chất-đa-la
liền cúi đầu đảnh lễ các Tỳ-kheo Thượng tọa, rồi đi
đến phòng Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa; đảnh lễ Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa,
rồi ngồi lui qua một bên. Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa hỏi trưởng
giả Chất-đa-la:
“Có
vô lượng tâm tam-muội, vô tướng tâm tam-muội, vô sở hữu
tâm tam-muội, không tâm tam-muội. Thế nào, trưởng giả, các
pháp này vì có nhiều nghĩa khác nhau nên có nhiều tên khác
nhau, hay là chỉ có một nghĩa mà có nhiều tên?”
Trưởng
giả Chất-đa-la hỏi Tôn giả Na-già-đạt-đa:
“Các
tam-muội này là do Thế Tôn nói hay Tôn giả tự ý nói?”
Tôn
giả Na-già-đạt-đa đáp:
“Đây
là do Thế Tôn nói.”
Trưởng
giả Chất-đa-la thưa Tôn giả Na-già-đạt-đa:
“Xin
cho tôi được suy nghĩ một chút nghĩa này, rồi sẽ trả lời.”
Sau
giây lát suy nghĩ, trưởng giả nói với Tôn giả Na-già-đạt-đa:
“Có
pháp gồm nhiều nghĩa, nhiều câu, nhiều vị khác nhau, có
pháp chỉ một nghĩa mà nhiều vị.”
Tôn
giả Na-già-đạt-đa lại hỏi trưởng giả:
“Thế
nào là có pháp nhiều nghĩa, nhiều câu, nhiều vị khác nhau?”
Trưởng
giả Chất-đa-la đáp:
“Vô
lượng tâm tam-muội[58], nghĩa là tâm của Thánh đệ tử câu
hữu với từ, không oán, không hận, không sân, khoan dung, rộng
lớn, tu tập vô lượng, duyên khắp mọi phương. Cũng thế
phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư, trên dưới
tất cả tâm câu hữu với từ, không oán, không hận, không
sân, khoan dung, rộng lớn, tu tập vô lượng, sung mãn khắp
mọi phương, duyên khắp tất cả thế gian mà an trú. Đó gọi
là vô lượng tâm tam-muội.
“Thế
nào là vô tướng tâm tam-muội[59]? Thánh đệ tử đối với
tất cả tướng đều không niệm tưởng, tự thân tác chứng
vô tướng tâm tam-muội. Đó gọi là vô tướng tâm tam-muội.
“Thế
nào gọi là vô sở hữu tâm tam-muội[60]? Thánh đệ tử vượt
qua tất cả vô lượng thức nhập xứ, vô sở hữu, trụ vô
sở hữu. Đó gọi là vô sở hữu tâm tam-muội.
“Thế
nào gọi là không tâm tam-muội[61]? Thánh đệ tử, thế gian
trống rỗng[62], quan sát như thật rằng thế gian trống rỗng,
thường trụ, không biến đổi, chẳng phải ngã, chẳng phải
ngã sở. Đó gọi là không tâm tam-muội.
“Đó
gọi là pháp gồm nhiều nghĩa, nhiều câu, nhiều vị.”
Tôn
giả Na-già-đạt-đa hỏi trưởng giả:
“Thế
nào là pháp chỉ có một nghĩa mà có nhiều vị?”
“Thưa
Tôn giả, tham là có lượng[63]. Nếu vô tránh, là đệ nhất
vô lượng[64]. Nghĩa là, tham là có tướng; nhuế, si là có
tướng; vô tránh là vô tướng. Tham là sở hữu, sân nhuế
là sở hữu, vô tránh là vô sở hữu. Lại nữa, vô tránh
là trống không, không có tham, không có sân, không có si, trống
không thường trụ chẳng biến đổi, không phải ngã, không
phải ngã sở. Đó là pháp chỉ có một nghĩa mà có nhiều
vị.”
Tôn
giả Na-già-đạt-đa hỏi:
“Thế
nào, trưởng giả, nghĩa này ông đã nghe trước rồi phải
không?
“Thưa
Tôn giả con không nghe.”
Tôn
giả Na-già-đạt-đa lại bảo trưởng giả:
“Này
Trưởng giả, ông được lợi ích lớn, ở nơi Phật pháp
sâu xa này mà được thâm nhập bằng tuệ nhãn của Hiền
thánh.”
Trưởng
giả Chất-đa-la sau khi nghe Tôn giả Na-già-đạt-đa nói xong,
tùy hỷ, hoan hỷ, làm lễ rồi lui.
Sau
khi trưởng giả nghe Tôn giả Na-già-đạt-đa nói xong, tùy
hỷ hoan hỷ, làm lễ rồi lui.
*
KINH
568. GIÀ-MA[65]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la cùng với các
Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ, trưởng giả Chất-đa-la đến
đảnh lễ các Tỳ-kheo Thượng tọa, rồi đến đảnh lễ
Tỳ-kheo Già-ma[66], rồi ngồi lui qua một bên, thưa Tỳ-kheo
Già-ma:
“Hành,
thế nào gọi là hành[67]?”
Tỳ-kheo
Già-ma đáp:
“Hành,
nghĩa là có ba hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.”
“Thế
nào là thân hành, thế nào là khẩu hành, thế nào là ý hành?”
“Này
Trưởng giả, hơi thở ra vào là thân hành; có giác, có quán
gọi là khẩu hành; tưởng, tư gọi là ý hành.”
“Vì
sao hơi thở ra vào gọi là thân hành; có giác, có quán[68]
gọi là khẩu hành; có tưởng, tư[69] gọi là ý hành? Này
Trưởng giả, hơi thở ra vào là pháp của thân, y nơi thân,
thuộc nơi thân, nương nơi thân mà chuyển, do đó hơi thở
ra vào gọi là thân hành. Vì có giác, có quán nên miệng nói
năng, thế nên có giác, có quán gọi là khẩu hành. Tưởng,
tư là ý hành. Nương nơi tâm, thuộc về tâm, y tâm mà chuyển,
do đó tưởng, tư là ý hành.”
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả:
“Giác,
quán rồi phát ra miêïng nói, thế nên giác, quán thuộc về
khẩu hành. Tưởng, tư là tâm sở pháp, nương nơi tâm, thuộc
nơi tâm mà tưởng chuyển, thế nên tưởng, tư gọi là ý
hành.”
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả có bao nhiêu pháp:
Lúc
người bỏ thân này,
Thân
xác nằm trên đất,
Ném
vào trong gò mả,
Vô
tâm như gỗ đá?
Tôn
giả đáp lại:
Hơi
ấm, thọ và thức,
Lúc
xả thân đều bỏ,
Thân
kia trong gò mả,
Vô
tri như gỗ đá.
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả:
“Người
chết và người nhập chánh thọ Diệt tận[70] có khác nhau
không?”
“-
Xả thọ và hơi ấm, các căn hư hoại, thân mạng phân ly,
đó gọi là chết. Người Diệt tận định, thân, khẩu, ý
hành diệt, nhưng không xả thọ mạng, chẳng lìa hơi ấm,
các căn không hoại, thân mạng thuộc nhau. Đó là tướng sai
khác giữa người chết và người nhập Diệt tận định.”
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả:
“Thế
nào là nhập Diệt tận chánh thọ?”
“-
Trưởng giả, người nhập Diệt tận chánh thọ không nói,
‘ta đang nhập Diệt tận chánh thọ, ta sẽ nhập Diệt tận
chánh thọ’. Nhưng trước đó đã làm phương tiện tắt dần
như thế; như phương tiện từ trước, hướng đến nhập
Diệt tận chánh thọ.”
“Lúc
nhập Diệt tận chánh thọ, trước hết diệt pháp gì, là
diệt thân hành, khẩu hành hay ý hành?”
“-
Này Trưởng giả, người nhập Diệt tận chánh thọ trước
hết diệt khẩu hành, kế đến thân hành, sau đó là ý hành.”
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả:
“Thế
nào là xuất Diệt tận chánh thọ?”
Tôn
giả đáp:
“Trưởng
giả, người xuất Diệt tận chánh thọ cũng không nghĩ rằng:
‘Ta nay xuất chánh thọ, ta sẽ xuất chánh thọ’. Nhưng trước
kia đã tác thành tâm phương tiện; như tâm trước kia mà khởi.”
“Khởi
Diệt tận chánh thọ, pháp nào khởi trước, là thân hành,
khẩu hành hay ý hành?”
“-
Này Trưởng giả, từ Diệt tận chánh thọ khởi, ý hành khởi
trước, kế đến thân hành, rồi đến khẩu hành.”
“Tôn
giả, sự nhập Diệt tận định, thế nào là thuận xuôi,
chảy xuôi, chảy sâu[71]?”
“-
Này Trưởng giả, sự nhập Diệt tận chánh thọ thuận xuôi
về viễn ly, chảy xuôi về viễn ly, chảy sâu về viễn ly;
thuận xuôi về xuất ly, chảy xuôi về xuất ly, chảy sâu
về xuất ly; thuận xuôi Niết-bàn, chảy xuôi Niết-bàn, chảy
sâu vào Niết-bàn.”
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả:
“Lúc
trụ Diệt tận chánh thọ, được xúc bởi bao nhiêu xúc?”
Tôn
giả đáp:
“-
Này Trưởng giả, xúc bất động, xúc vô tướng, xúc vô sở
hữu.”
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả:
“Lúc
nhập Diệt tận chánh thọ, tác thành bao nhiêu pháp?”
Tôn
giả đáp:
“Này
Trưởng giả, điều ấy nên hỏi trước, sao đến bây giờ
mới hỏi? Nhưng tôi cũng nói cho ông biết. Tỳ-kheo nhập Diệt
tận chánh thọ tu hai pháp: Chỉ và quán.”
Sau
khi trưởng giả Chất-đa-la nghe Tôn giả nói xong, tùy hỷ
hoan hỷ làm lễ rồi đi.
*
KINH
569. LÊ-TÊ-ĐẠT-ĐA (1)[72]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la, cùng với các
Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ, có trưởng giả Chất-đa-la
đến chỗ các Tỳ-kheo Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới
chân, rồi ngồi lui qua một bên. Các Tỳ-kheo Thượng tọa
vì trưởng giả Chất-đa-la nói pháp bằng nhiều hình thức,
khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ. Sau khi nói pháp
bằng nhiều hình thức, khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho
hoan hỷ, các Thượng tọa ngồi im lặng.
Trưởng
giả Chất-đa-la liền rời khỏi chỗ ngồi, trịch vai áo bên
phải, quỳ gối chắp tay thưa thỉnh các Thượng tọa:
“Con
cúi xin chư tôn nhận lễ cúng dường, bữa ăn đạm bạc của
con.”
Khi
ấy các Thượng tọa im lặng nhận lời. Trưởng giả biết
các Thượng tọa đã im lặng nhận lời mời, vội vã đảnh
lễ rồi lui. Về nhà, sửa soạn các thứ đồ ăn thức uống,
trải chỗ ngồi. Sáng sớm, sai người đến báo đã đến
giờ. Các Thượng tọa đều đắp y mang bát đến nhà trưởng
giả, ngồi vào chỗ ngồi dọn sẵn. Trưởng giả cúi đầu
đảnh lễ các Thượng tọa, rồi ngồi lui qua một bên thưa
rằng:
“Thưa
các Thượng tọa, gọi là đa dạng giới[73]. Vậy thế nào
là đa dạng giới?”
Bấy
giờ, các Thượng tọa im lặng. Ba lần thưa như vậy. Lúc
ấy Tôn giả Lê-tê-đạt-đa[74] ngồi hạ tọa trong chúng,
thưa với các Tỳ-kheo Thượng tọa:
“Thưa
các Tôn giả, con muốn đáp câu hỏi của trưởng giả này.”
Các
Thượng tọa đáp:
“Được.”
Trưởng
giả Chất-đa-la liền hỏi:
“Thưa
Tôn giả, đa dạng giới; những gì là đa dạng giới?”
Lê-tê-đạt-đa
đáp:
“Này
trưởng giả, nhãn giới khác, sắc giới khác, nhãn thức giới
khác; nhĩ giới khác, thanh giới khác, nhĩ thức giới khác;
tỷ giới khác, hương giới khác, tỷ thức giới khác; thiệt
giới khác, vị giới khác, thiệt thức giới khác; thân giới
khác, xúc giới khác, thân thức giới khác; ý giới khác, pháp
giới khác, ý thức giới khác. Như vậy, Trưởng giả, đó
gọi là đa dạng giới.”
Bấy
giờ, trưởng giả Chất-đa-la đem các thứ thức ăn ngon lành,
tinh khiết cúng dường. Sau khi chúng Tăng thọ thực, súc miệng,
cất y bát xong, trưởng giả Chất-đa-la trải một chỗ ngồi
thấp ở trước các Thượng tọa để nghe pháp.
Các
Thượng tọa vì trưởng giả nói pháp, khai thị, chỉ giáo,
soi sáng, làm cho hoan hỷ, sau đó các Thượng tọa rời chỗ
ngồi mà đi. Dọc đường các Thượng tọa nói với Lê-tê-đạt-đa:
“Lành
thay, lành thay! Tỳ-kheo Lê-tê-đạt-đa, ông thật khéo biện
tài và nói rất đúng lúc. Nếu ở trường hợp khác, ông
cũng nên ứng đáp như vậy.”
Các
Thượng tọa sau khi nghe những lời của Lê-tê-đạt-đa, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
570. LÊ-TÊ-ĐẠT-ĐA (2)[75]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la cùng với chúng
Tăng gồm các Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ, trưởng giả
Chất-đa-la đến chỗ các Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ
dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, thưa các Thượng tọa:
“Theo
cái thấy của thế gian, có người nói có ngã, hoặc nói chúng
sanh, hoặc nói thọ mạng, hoặc nói việc tốt xấu ở thế
gian. Thế nào, thưa Tôn giả, có sở kiến khác nhau đó là
do gốc gì, tập gì, sanh gì, chuyển gì[76]?”
Các
Thượng tọa im lặng chẳng đáp. Được hỏi ba lần như vậy,
các Thượng tọa vẫn im lặng. Bấy giờ, có Tỳ-kheo hạ tọa
là Lê-tê-đạt-đa thưa với các Thượng tọa:
“Thưa
các Thượng tọa, con muốn đáp câu hỏi của Trưởng giả
này.”
Các
Thượng tọa bảo:
“Khéo
đáp được thì đáp.”
Trưởng
giả liền hỏi Tôn giả Lê-tê-đạt-đa:
“Những
sở kiến của thế gian do gốc gì, tập gì, sanh gì, chuyển
gì?”
Tôn
giả Lê-tê-đạt-đa đáp:
“Này
Trưởng giả, những gì là sở kiến của thế gian, hoặc nói
có ngã, hoặc nói chúng sanh, hoặc nói thọ mạng, hoặc nói
việc tốt xấu của thế gian; các sở kiến ấy đều lấy
thân kiến làm gốc, thân kiến tập, thân kiến sanh, thân kiến
chuyển.”
Trưởng
giả lại hỏi:
“Thế
nào là thân kiến[77]?”
Tôn
giả đáp:
“Này
Trưởng giả, phàm phu ngu si không học thấy sắc là ngã, sắc
khác ngã, ngã ở trong sắc, sắc ở trong ngã; thấy thọ, tưởng,
hành, thức là ngã, thức khác ngã, thức ở trong ngã, ngã
ở trong thức. Này Trưởng giả, đó gọi là thân kiến.”
Trưởng
giả lại hỏi Tôn giả:
“Làm
thế nào để không có thân kiến này?”
Tôn
giả đáp:
“Này
Trưởng giả, đa văn Thánh đệ tử chẳng thấy sắc là ngã,
chẳng thấy sắc khác ngã, chẳng thấy sắc trong ngã, ngã
trong sắc[78]; chẳng thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã,
chẳng thấy thức khác ngã, chẳng thấy thức trong ngã, ngã
trong thức; đó gọi là không có thân kiến.”
“Cha
của Tôn giả tên gì? Sanh ở đâu?”
“Tôi
sanh ở phía sau nhà trưởng giả.”
Trưởng
giả Chất-đa-la bảo Tôn giả Lê-tê-đạt-đa:
“Hai
cụ thân sanh của con và Tôn giả vốn là chỗ quen biết.”
Tôn
giả Lê-tê-đạt-đa đáp:
“Vâng,
đúng như thế.”
Trưởng
giả Chất-đa-la bảo Lê-tê-đạt-đa:
“Nếu
Tôn giả ở trong vườn Am-la này, suốt đời con xin cúng dường
y phục, thức ăn và thuốc men.”
Tôn
giả Lê-tê-đạt-đa im lặng nhận lời. Vì Tôn giả Lê-tê-đạt-đa
đã nhận sự cúng dường rồi nên thường bị chướng ngại,
lâu ngày không đến chỗ Thế Tôn.
Bấy
giờ, các Thượng tọa vì trưởng giả Chất-đa-la nói pháp,
khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ.
Sau
khi được sự khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ,
trưởng giả Chất-đa-la tùy hỷ hoan hỷ làm lễ rồi lui.
*
KINH
571. MA-HA-CA[79]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la, cùng chúng Tăng
gồm các vị Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ trưởng giả
Chất-đa-la đến chỗ các Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ
dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, thưa với các Thượng
tọa:
“Xin
thỉnh các Tôn giả nhận lời mời của con đến trại bò[80]
thọ thực.”
Các
Thượng tọa im lặng nhận lời mời. Trưởng giả Chất-đa-la
biết các Thượng tọa im lặng nhận lời rồi, liền vội
vàng trở về nhà. Suốt đêm trưởng giả chuẩn bị đầy
đủ các thứ đồ ăn thức uống, sáng sớm sắp xếp chỗ
ngồi, rồi sai người đến thưa với các Thượng tọa biết
đã đến giờ. Các Thượng tọa đắp y mang bát đến nhà
trưởng giả Chất-đa-la trong thôn trại bò. Khi đã ngồi xong,
trưởng giả Chất-đa-la tự tay dâng các thứ đồ ăn thức
uống cúng dường. Sau khi các Thượng tọa thọ trai, súc miệng,
rửa bát xong, trưởng giả Chất-đa-la trải một chỗ ngồi
thấp trước các Thượng tọa để nghe pháp.
Bấy
giờ, các Thượng tọa vì trưởng giả mà nói pháp, khai thị,
chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ. Sau khi khai thị, chỉ giáo,
soi sáng, làm cho hoan hỷ, các Thượng tọa rời chỗ ngồi
đứng dậy ra đi. Trưởng giả Chất-đa-la cũng đi theo sau.
Các Thượng tọa vì ăn mật, tô, lạc, quá no, lúc ấy vào
tháng cuối xuân, trời nóng bức, nên đi đường rất mệt
nhọc.
Bấy
giờ có Tỳ-kheo hạ tọa tên là Ma-ha-ca[81] thưa với các vị
Thượng tọa:
“Hôm
nay trời quá oi bức, con muốn nổi mây mưa và gió mát có
được không?”
Các
Thượng tọa đáp:
“Ngươi
có thể làm như vậy thì tốt lắm.”
Ma-ha-ca
liền nhập tam-muội, bằng chánh thọ như vậy[82], liền khi
đó mây nổi, mưa nhẹ và gió mát từ bốn phương thổi tới.
Đến cửa tinh xá, Tôn giả Ma-ha-ca hỏi các Thượng tọa:
“Việc
làm này có thể dừng lại được chưa?”
Các
Thượng tọa đáp:
“Hãy
dừng đi.”
Lúc
ấy, Ma-ha-ca liền ngưng thần thông, rồi trở về phòng riêng.
Trong khi đó trưởng giả Chất-đa-la nghĩ thầm: Vị Tỳ-kheo
tối hạ tọa mà có thể có sức thần thông lớn như thế,
huống chi là các bậc trung tọa, thượng tọa. Nghĩ như thế
liền đảnh lễ chân các Tỳ-kheo Thượng tọa, rồi đi theo
Tỳ-kheo Ma-ha-ca đến phòng của Tỳ-kheo này, làm lễ Tôn giả
Ma-ha-ca, rồi ngồi lui qua một bên thưa:
“Thưa
Tôn giả, con muốn được thấy sự hóa hiện thần túc siêu
quá người thường của Tôn giả[83].”
Tôn
giả Ma-ha-ca nói:
“Trưởng
giả chớ nên thấy, sẽ sợ hãi!”
Ba
lần thỉnh, ba lần Tôn giả đều từ chối. Trưởng giả
lại thỉnh nữa:
“Xin
Tôn giả cho xem thần thông biến hóa.”
Tôn
giả Ma-ha-ca bảo trưởng giả:
“Thôi
ông hãy ra ngoài, lấy cỏ khô và củi gom lại một đống,
rồi đem tấm đệm trùm lên trên.”
Trưởng
giả Chất-đa-la y theo lời dạy của Tôn giả, ra ngoài gom
củi thành đống, rồi đến thưa Tôn giả:
“Đống
củi đã có và con đã phủ lên bằng một tấm đệm.”
Tôn
giả Ma-ha-ca liền nhập tam-muội hỏa quang, từ lỗ trống
then cửa phát ra ngọn lửa. Lửa đốt trụi đống củi, chỉ
có tấm đệm trắng không cháy. Tôn giả bảo trưởng giả:
“Nay
ông thấy không?”
“Đã
thấy, thưa Tôn giả, thật là kỳ diệu!”
Tôn
giả Ma-ha-ca bảo trưởng giả:
“Ông
nên biết, đây đều do không buông lung làm gốc, không buông
lung mà tập khởi, không buông lung mà sanh, không buông lung
mà chuyển. Do không buông lung nên được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Này Trưởng giả, thế nên việc này cùng
với công đức khác, tất cả đều do không buông lung làm
gốc, không buông lung mà tập khởi, không buông lung mà sanh,
không buông lung mà chuyển. Do không buông lung nên được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác và những pháp đạo phẩm khác.”
Trưởng
giả Chất-đa-la thưa với Tôn giả Ma-ha-ca:
“Xin
Tôn giả ở luôn trong rừng này, con sẽ trọn đời cúng dường
y phục, thức ăn và thuốc men tùy bệnh.”
Tôn
giả Ma-ha-ca vì có việc phải đi nên không nhận lời mời
của trưởng giả.
Trưởng
giả Chất-đa-la nghe pháp xong, tùy hỷ, hoan hỷ, liền từ
chỗ ngồi đứng lên làm lễ rồi đi.
Tôn
giả Ma-ha-ca không muốn làm cho người cúng dường lợi dưỡng
trở thành tội chướng, nên Tôn giả vội vã từ chỗ ngồi
đứng dậy ra đi không trở lại.
*
KINH
572. HỆ[84]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la, cùng số đông các vị Tỳ-kheo
Thượng tọa.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo Thượng tọa tụ tập ở nhà ăn, cùng bàn
luận như sau:
“Các
vị nghĩ thế nào, mắt trói buộc sắc chăng? Sắc trói buộc
mắt chăng? Cũng thế, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi
với vị, thân với xúc, ý với pháp, là ý trói buộc chăng?
Hay pháp trói buộc ý?”
Trong
khi đó, trưởng giả Chất-đa-la đang đi lo công việc, ngang
qua tinh xá, trông thấy các Tỳ-kheo Thượng tọa tụ tập tại
nhà ăn, liền đến trước đảnh lễ các Thượng tọa và
thưa hỏi:
“Chư
Tôn giả tụ tập tại nhà ăn đang bàn luận điều gì vậy?”
Các
Thượng tọa đáp:
“Này
Trưởng giả, chúng tôi hôm nay tụ tập tại nhà ăn này, bàn
luận rằng: Có phải mắt trói buộc sắc, hay sắc trói buộc
mắt? Cũng như vậy, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi
với vị, thân với xúc, ý với pháp, là ý trói buộc chăng?
Hay pháp trói buộc ý?”
Trưởng
giả hỏi:
“Thưa
các Tôn giả, các Tôn giả sẽ nói thế nào về nghĩa này?”
Các
Thượng tọa nói:
“Còn
đối với trưởng giả, ông nghĩ sao?”
Trưởng
giả thưa các Thượng tọa:
“Theo
ý con, mắt chẳng trói buộc sắc, chẳng phải sắc trói buộc
mắt; cho đến chẳng phải ý trói buộc pháp, chẳng phải
pháp trói buộc ý. Nhưng ở khoảng giữa có dục tham[85], theo
đó mà trói buộc. Ví như hai con bò, một đen, một trắng,
mang cái ách. Có người hỏi: bò đen trói buộc bò trắng hay
bò trắng trói buộc bò đen? Hỏi như thế có đúng không?”
Các
Thượng tọa đáp:
“Này
Trưởng giả, hỏi như thế không đúng. Vì sao? Vì chẳng phải
bò đen trói buộc bò trắng và cũng không phải bò trắng trói
buộc bò đen. Cái ách kia là vật trói buộc cả hai.”
“Cũng
vậy, thưa các Tôn giả, chẳng phải mắt trói buộc sắc,
chẳng phải sắc trói buộc mắt cho đến không phải ý trói
buộc pháp, không phải pháp trói buộc ý, nhưng ở giữa đó,
tham dục là sự trói buộc.”
Trưởng
giả Chất-đa-la nghe các Tỳ-kheo Thượng tọa nói xong, tùy
hỷ hoan hỷ, làm lễ mà lui.
*
KINH
573. A-KỲ-TỲ-CA[86]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la.
Bấy
giờ có ngoại đạo A-kỳ-tỳ-ca[87], là chỗ thân hậu của
tiên nhân của trưởng giả Chất-đa-la, đi đến chỗ Chất-đa-la,
cùng nhau chào hỏi ân cần, rồi đứng một bên. Trưởng giả
Chất-đa-la hỏi ngoại đạo A-kỳ-tỳ-ca:
“Nhân
giả xuất gia được bao lâu rồi?”
“Trưởng
giả, tôi xuất gia đến nay đã hơn hai mươi năm[88].”
Trưởng
giả Chất-đa-la hỏi:
“Nhân
giả xuất gia đã hơn hai mươi năm, có được pháp siêu quá
người thường[89], tột cùng tri kiến và an lạc trụ không?”
A-kỳ-tỳ-ca
đáp:
“Này
Trưởng giả, tuy tôi đã xuất gia hơn hai mươi năm mà chẳng
được pháp siêu quá người thường, tột cùng tri kiến và
an lạc trụ. Chỉ có lõa hình, nhổ tóc, khất thực, du hành
trong nhân gian, nằm trên tro đất.”
Trưởng
giả Chất-đa-la bảo:
“Đây
không phải là pháp luật đúng danh xưng. Đây là ác tri kiến;
chẳng phải là con đường xuất yếu, chẳng gọi là Đẳng
giác, chỗ chẳng đáng khen ngợi, chẳng có thể nương tựa.
Luống gọi là người xuất gia hơn hai mươi năm, lõa hình,
nhổ tóc, du hành khất thực trong nhân gian, nằm trên tro đất.”
A-kỳ-tỳ-ca
hỏi trưởng giả Chất-đa-la:
“Ông
làm đệ tử của Sa-môn Cù-đàm đã được bao lâu?”
Trưởng
giả Chất-đa-la đáp:
“Tôi
làm đệ tử của Thế Tôn hơn hai mươi năm.”
Lại
hỏi trưởng giả Chất-đa-la:
“Ông
là đệ tử của Sa-môn Cù-đàm đã hơn hai mươi năm, có được
pháp siêu quá người thường, tột cùng tri kiến và an lạc
trụ không?”
Trưởng
giả Chất-đa-la đáp:
“Ông
nên biết, trưởng giả Chất-đa-la sẽ không còn thọ sanh
vào bào thai nữa, không còn tăng thêm mồ mả, không còn sanh
khởi từ khí huyết. Như Thế Tôn nói: ‘Năm hạ phần kết
sử, Ta không còn thấy một kết nào mà không đoạn. Nếu
có một kết nào chưa đoạn, sẽ còn trở lại sau đời này’.”
Trong
lúc trưởng giả nói như vậy, A-kỳ-tỳ-ca càng thêm buồn
bã, than thở rơi lệ, lấy áo lau mặt và nói với trưởng
giả Chất-đa-la:
“Tôi
phải tính sao bây giờ?”
Trưởng
giả Chất-đa-la đáp:
“Nếu
ông có thể ở trong Chánh pháp luật xuất gia, tôi sẽ cung
cấp y bát và những vật cần thiết.”
A-kỳ-tỳ-ca
suy nghĩ giây lát, rồi nói với trưởng giả Chất-đa-la:
“Tôi
nay tùy theo anh, xin chỉ dạy tôi việc cần làm.”
Trưởng
giả Chất-đa-la liền đưa A-kỳ-tỳ-ca đế chỗ các Thượng
tọa, rồi ngồi lui qua một bên, thưa các Tỳ-kheo Thượng
tọa:
“A-kỳ-tỳ-ca
này là chỗ thân hậu của tiên nhân của con, ngày nay xin được
xuất gia làm Tỳ-kheo. Mong các Thượng tọa độ cho xuất gia.
Con sẽ cung cấp y bát và các vật dụng cần thiết.”
Các
Thượng tọa liền cho xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc áo
ca-sa. Xuất gia xong, A-kỳ-tỳ-ca suy nghĩ những lý do mà người
thiện nam cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, xuất gia tăng tiến
học đạo, tịnh tu phạm hạnh, đắc quả A-la-hán.
*
KINH
574. NI-KIỀN[90]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la, cùng các vị
Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ có Ni-kiền Nhã-đề Tử[91]
cùng với năm trăm quyến thuộc đi đến rừng Am-la, muốn
dụ trưởng giả Chất-đa-la làm đệ tử. Trưởng giả Chất-đa-la
nghe tin Ni-kiền Nhã-đề Tử cùng với năm trăm quyến thuộc
đến rừng Am-la muốn dụ mình làm đệ tử. Sau khi nghe như
vậy rồi, ông liền đi đến chỗ Ni-kiền Nhã-đề Tử. Hai
bên cùng nhau chào hỏi, rồi mỗi người ngồi lui qua một
bên. Bấy giờ Ni-kiền Nhã-đề Tử nói với trưởng giả
Chất-đa-la:
“Ông
có tin Sa-môn Cù-đàm được tam-muội không giác không quán[92]
chăng[93]?”
Trưởng
giả Chất-đa-la đáp:
“Tôi
không vì tin mà đến đây[94].”
A-kỳ-tỳ-ca[95]
nói:
“Này
Trưởng giả, ông không quanh co, không dối trá, chất thực,
bản chất chất trực. Này Trưởng giả, nếu người có thể
dứt được hữu giác hữu quán, cũng có thể dùng dây buộc
gió; hoặc người dứt hữu giác hữu quán, cũng có thể lấy
một nắm đất ngăn được dòng nước sông Hằng. Ta trong
lúc đi, đứng, nằm, ngồi, tri kiến thường sanh.”
Trưởng
giả Chất-đa-la hỏi Ni-kiền Nhã-đề Tử:
“Tín
được đặt trước hay trí được đặt trước? Tín và trí
cái nào trước, cái nào hơn?”
Ni-kiền
Nhã-đề Tử đáp:
“Tín
nên đặt trước, sau đó có trí. Tín và trí so sánh nhau thì
trí là hơn.”
Trưởng
giả Chất-đa-la nói với Ni-kiền Nhã-đề Tử:
“Tôi
đã cầu được dứt hữu giác hữu quán, nội tịnh, nhất,
không giác không quán, có hỷ lạc do tam-muội sanh, chứng và
an trụ đệ Nhị thiền. Ban ngày tôi cũng ở trong tam-muội
này. Ban đêm tôi cũng ở trong tam-muội này. Có trí như vậy
thì cần gì tin Thế Tôn!”
Ni-kiền
Nhã-đề Tử nói:
“Ngươi
quanh co, dối trá, không chất trực, bản chất không chất
trực.”
Trưởng
giả Chất-đa-la nói:
“Lúc
nãy ông đã nói là tôi không quanh co, không dối trá, chất
thực, bản chất chất trực, vì sao bây giờ lại nói là tôi
quanh co, dối trá, không chất thực, bản chất không chất
trực? Nếu như lời trước của ông là thật, thì lời sau
là dối trá; hoặc lời sau thật thì lời trước dối trá!
Trước ông đã nói: ‘Ta trong đi, đứng, nằm, ngồi tri kiến
thường sanh, đối với trước sau, việc nhỏ như vậy mà
còn không rõ thì làm sao biết được pháp siêu quá người
thường, hoặc tri kiến, hoặc việc trụ an lạc?’”
Trưởng
giả lại hỏi Ni-kiền Nhã-đề Tử:
“Có
người hỏi một liền đáp một, cho đến hỏi mười đáp
mười, ông có như vậy không? Nếu không hỏi một đáp một,
hỏi mười đáp mười, mà đến rừng Am-la này hòng mong dụ
dỗ tôi sao?”
Ngay
lúc ấy Ni-kiền Nhã-đề Tử nghẹn thở, lắc đầu, chắp
tay chào và đi thẳng không nhìn lại.
*
KINH
575. BỆNH TƯỚNG[96]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la, cùng số đông
các vị Tỳ-kheo Thượng tọa.
Bấy
giờ trưởng giả Chất-đa-la bị bệnh khổ, các thân thuộc
vây quanh. Có nhiều vị trời đến chỗ trưởng giả Chất-đa-la,
bảo rằng:
“Này
Trưởng giả, ông nên phát nguyện làm Chuyển luân vương.”
Trưởng
giả Chất-đa-la nói với chư Thiên:
“Nếu
làm Chuyển luân vương; kia cũng vô thường, khổ, không, vô
ngã.”
Rồi,
các thân thuộc của trưởng giả bảo trưởng giả:
“Ông
nên buộc niệm lại! Ông nên buộc niệm lại!”
Trưởng
giả Chất-đa-la nói với thân thuộc:
“Vì
sao các ông dạy tôi phải buộc niệm lại?”
Những
người thân nói rằng:
“Ông
đã nói: Vô thường, khổ, không, vô ngã. Vì vậy nên chúng
tôi bảo ông nên buộc niệm lại, buộc niệm lại!”
Trưởng
giả nói với các quyến thuộc:
“Có
chư Thiên đến chỗ tôi, nói với tôi: Ông nên phát nguyện
được làm Chuyển luân Thánh vương, sẽ tùy nguyện đắc
quả. Tôi liền đáp: Chuyển luân Thánh vương lại cũng vô
thường, khổ, không, vô ngã.”
Các
quyến thuộc hỏi trưởng giả Chất-đa-la:
“Chuyển
luân vương có gì mà chư Thiên bảo ông mong cầu?”
Trưởng
giả đáp:
“Chuyển
luân vương đem chánh pháp cai trị, giáo hóa. Vì chư Thiên
thấy phước lợi như vậy nên dạy tôi phát nguyện mong cầu.”
Các
quyến thuộc hỏi:
“Nay
ông dụng tâm như thế nào?”
Trưởng
giả đáp:
“Này
các thân quyến, ngày nay tâm tôi nguyện rằng chỉ không còn
thọ sanh vào bào thai nữa, không thêm mồ mả, không thọ nhận
huyết khí. Như Thế Tôn nói: Năm hạ phần kết sử, Ta không
thấy có, không tự thấy một kết nào mà không đoạn. Nếu
kết không đoạn thì còn sanh lại đời này.”
Ngay
lúc ấy Trưởng giả ngay từ giường nằm, ngồi kiết già,
chánh niệm và nói kệ:
Chứa
thức ăn đã chứa,
Rộng
độ các hoạn nạn;
Bố
thí tăng ruộng phước,
Vun
trồng năm chủng lực.
Vì
mong muốn nghĩa ấy,
Người
tục sống tại nhà.
Ta
điều được lợi này,
Đã
khỏi các thứ nạn.
Điều
thế gian nghe quen,
Xa
lìa các việc khó;
Sanh
vui, biết chút khó,
Tùy
thuận Đẳng Chánh Giác.
Cúng
dường người trì giới,
Khéo
tu các phạm hạnh;
Lậu
tận A-la-hán,
Và
ẩn sĩ Thanh văn.
Kiến
siêu việt như vậy,
Trên
các cõi thù thắng;
Thường
làm người bố thí,
Cuối
cùng được quả lớn.
Tập
hành bố thí chúng,
Cho
các ruộng phước tốt;
Nơi
đời này mạng chung,
Hóa
sanh về cõi trời.
Năm
dục được đầy đủ,
Tâm
vô lượng mừng vui;
Được
báo vi diệu này,
Vì
không tâm keo bẩn;
Thọ
sanh ở nơi nào,
Đều
luôn được vui vẻ.
Trưởng
giả Chất-đa-la nói kệ này xong, liền mạng chung, sanh vào
cõi Vô phiền nhiệt thiên.
Bấy
giờ Thiên tử Chất-đa-la nghĩ rằng: Ta không nên đình trú
ở đây, mà nên đến Diêm-phù-đề lễ bái các Tỳ-kheo Thượng
tọa. Trong khoảnh khắc nhanh như người lực sĩ co duỗi cánh
tay, dùng sức Thiên thần hiện đến rừng Am-la, phóng ánh
sáng từ thân trời, chiếu sáng khắp rừng Am-la. Bấy giờ,
có Tỳ-kheo nọ, ra khỏi phòng ban đêm đi kinh hành nơi đất
trống, trông thấy ánh sáng kỳ diệu, chiếu khắp rừng cây,
liền nói kệ:
Sắc
trời nào vi diệu,
Trụ
ở giữa hư không;
Giống
như núi vàng rực,
Ánh
sáng Diêm-phù-đàn?
Thiên
tử Chất-đa-la nói kệ đáp:
Tôi
là vua trời, người,
Là
đệ tử Cù-đàm;
Trong
rừng Am-la này,
Trưởng
giả Chất-đa-la.
Nhờ
tịnh giới đầy đủ,
Hệ
niệm tự tịch tịnh;
Thân
giải thoát đầy đủ,
Thân
trí tuệ cũng thế.
Tôi
biết pháp nên đến,
Nhân
giả cần nên biết;
Nên
nơi Niết-bàn kia,
Pháp
này pháp như vậy.
Thiên
tử Chất-đa-la nói kệ xong, liền biến mất.
*
--------------------------------------------------------------------------------
[1].
Đại Chánh quyển 21, kinh 559; Pāli, S.35.192 Kāmanhū.
[2].
Ba-la-lợi-phất-đố-lộ 波羅利弗妒路Bản Pāli: Phật trú
tại tinh xá Ghositārāma, Kosambī.
[3].
Ca-ma 波羅. Pāli: Kāmabhū.
[4].
Kê lâm tinh xá 雞林精舍, Pāli: Kukkuṭārāma? Bản Pāli: tính
xá Ghositārāma.
[5].
Bản Pāli, S.35.192: “Con mắt là hệ phược của sắc, hay
sắc là hệ phược của con mắt?” Nội dung Hán và Pāli không
đồng nhất.
[6].
Vô tưởng tâm tam-muội 無想心三昧: tức vô tướng tâm tam-muội.
Xem các kinh 556 và tiếp.
[7].
Xem kinh 556 trên.
[8].
Pāli, A.4.170 Yuganandha.
[9].
Tự ký thuyết 自記說. Bản Pāli: arahattapattiṃ vyākaroti,
tự xác nhận đắc quả A-la-hán.
[10].
Bản Pāli: sabbo so catuhi aṅgehi etesaṃ vā aññatarena, “(tự
ký thuyết) bằng bốn chi, hay một trong bốn chi”.
[11].
Hán: nhất tâm đẳng thọ hóa 一心等受化; không rõ nghĩa.
Ấn Thuận cho là dư chữ hóa 化 .
[12].
Bốn chi (Hán: tứ đạo 四道), bản Pāli: 1. samathapubaṅgamaṃ
vipassanaṃ bhāveti, tu quán với chỉ đi trước. 2. vipassanāpubbaṅgamaṃ
samathaṃ bhāveti, tu chỉ với quán đi trước. 3. samathavipassanaṃ
yuganaddhaṃ bhāveti, chỉ quán song hành. 4. dhammuddhaccaviggahitaṃ
mānasaṃ hoti, tác ý để diệt trừ sự loạn động đối
với pháp.
[13].
Pāli, S.51.15 Brāhmaịa.
[14].
Pāli: chandappahānattham, mục đích đoạn trừ dục.
[15].
Bản Pāli: y chỉ dục tam-ma-địa cần hành thần túc (chandasamādhi-padhāna-saṃkhāra-samannāgataṃ
iddhipādaṃ). Tức tu bốn thần túc (iddhipāda).
[16].
Pāli: “Lấy dục để đoạn dục, như thế thì không cùng
tận (... santakaṃ hoti no asantakaṃ).
[17].
Bốn Như ý túc, hay thần túc, xem cht.15, kinh 561.
[18].
Dục, tinh tấn định, tâm định, tư duy định; thứ tự này
không đồng với các bản khác: dục, tâm, tinh tấn, tư duy.
Pāli: chanda-samādhi-, citta-samādhi-, viriya-samādhi-, vīmaṃsā-samādhi.
[19].
Thế gian thiện hướng; xem cht.11, kinh 490(2).
[20].
Thế gian thiện đáo; chỗ khác: thế gian thiện thệ. Xem cht.12,
kinh 490(2).
[21].
Pāli, A.3.74 Nigaṇṭha.
[22].
Vô Úy Ly-xa 無畏離車. Pāli: Abhaya-licchavi.
[23].
Thông Minh đồng tử 聰明童子. Pāli: Paṇḍita Kumarāka.
[24].
A-kỳ-tỳ 阿耆毘. Có lẽ Pāli: Ājivika, tà mạng ngoại đạo.
Xem kinh 573.
[25].
Hán: xí nhiên pháp 熾然法.
[26].
Pāli: so purāṇānaṃ kammānaṃ tapasā vyantībhāvaṃ paññapeti,
“Ngài chủ trương phá trừ nghiệp quá khứ bằng sự nhiệt
hành (khổ hành)”.
[27].
Pāli: tisso nijjarā visuddhiyo, ba sự diệt tận, thanh tịnh.
[28].
Hán: đắc chân như pháp 得真如法. Pāli: ñāyassa adhigamāya
nibbānassa sacchikiriyāya, để chứng đắc như lý; để thân
chứng Niết-bàn.
[29].
Pāli thường gặp về giới: pātimokkhasaṃvarasaṃvutto viharati
ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, “sống phòng
hộ với sự phòng hộ bằng Ba-la-đề-mộc-xoa, đầy đủ
oai nghi chánh hạnh; thấy sợ hãi trong những lỗi lầm nhỏ
nhặt”.
[30].
Pāli: sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṃ
veditabbā viññūhī’ti, “sự diệt tận ngay hiện thời, phi
thời gian, được thấy do đến gần, có tính tùy thuận, được
nhận biết bằng nội tâm bởi những bậc trí.
[31].
Pāli: so bhikkhu evaṃ sīlasampanno ... āsavānaṃ khayā anāsavaṃ
cetovimuttiṃ ditth’eva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
viharati, “Tỳ-kheo ấy thành tựu giới như vậy, đoạn tận
hữu lậu, ngay trong đời hiện tại, bằng thắng trí, vô lậu
tâm giải thoát tự mình thân chứng, thành tựu và an trú.”
[32].
Pāli, A.4.159 Bhikkhunī.
[33].
Pāli, A.4.194 Sāpūgī.
[34].
Kiều-trì 橋池. Pāli: Koliyesu Sāpūgan nāma nigame, giữa những
người Koliya, trong một xón tên là Sāpūga.
[35].
Thân-thứ lâm 身恕林, rừng cây siṃsapa.
[36].
Bà-đầu tụ lạc quốc 婆頭聚落國. Pāli: Sāpūga.
[37].
Hổ chủng, tên gọi một dòng họ. Bản Cao-ly chép đế 帝;
bản Tống-Nguyên-Minh: khổ 苦. Y theo bản Pāli, sửa lại là
“hổ” 虎. Pāli: Vyagghapajja.
[38].
Pāli: bốn thanh tịnh cần chi; pāriuddhipadhānyaṅga.
[39].
Dục tinh tấn... 欲精進. Pāli: yo tattha chando ca vayāmo ca ussāho
ca appaṭivāni ca sati ca sampajaññañca idaṃ vuccati... sīlapārisuddhipadhāni-yaṅgaṃ,
ở đây, ý dục, tinh cần, dũng mãnh, nổ lực, không thoái
thất, chánh niệm, chánh trí, đều được gọi là giới thanh
tịnh tinh cần.
[40].
Pāli: cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṃ, tâm thanh tịnh cần chi.
Pāli: Padhāna, bản Hán đọc là Pahāna.
[41].
Nguyên Hán chép nhầm là giới thân 戒身.
[42].
Pāli: diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṃ, kiến thanh tịnh cần
chi.
[43].
Pāli: vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṃ, giải thoát thanh tịnh
cần chi.
[44].
Ấn Thuận, “33. Tương ưng Chất-đa-la” gồm các kinh, Đại
Chánh 566-575. phần lớn tương đương Pāli S.41. Cittasaṃyutta.
Đại Chánh kinh 566, Pāli, S.41.5 Kāmabhū.
[45].
Am-la tụ lạc Am-la lâm 菴羅聚落菴羅林. Pāli: Macchikāsaṇḍe
Ambāṭakavane.
[46].
Chất-đa-la trưởng giả 質多羅長者. Pāli: Citta-gahapati.
[47].
Xem cht.49 dưới.
[48].
Xem cht.50 dưới.
[49].
Hán: chi thanh 枝青 (cành cây xanh). Pāli: nelaṅga, chi phần
không khuyết điểm. Bản Hán đọc: nīla: mau xanh, thay vì nela:
không khuyết điểm, không tội lỗi.
[50].
Hán: bạch phú 白覆. Pāli: setapacchāda, lọng trắng.
[51].
Pāli: ratho…imasseta cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṃ, xe
đồng nghĩa với thân bốn đại này.
[52].
Ly kết 離結. Pāli: anīgham, không khổ, không động chuyển.
[53].
Pāli: passa, hãy nhìn!
[54].
Pāli: āyantam, người đang đến.
[55].
Hán: đoạn lưu 斷流. Pāli: chinnasotam.
[56].
Hán: bất phục phược 不復縛. Pāli: abandhana, không bị cột
trói.
[57].
Pāli, S.41.7 Godatta.
[58].
Vô lượng tâm tam-muội 無量心三昧. Pāli: appamānā cetovimutti,
tâm giải thoát không hạn lượng.
[59].
Vô tướng tâm tam muội 無相心三昧. Pāli: animittā cetovimutti,
tâm giải thoát vô tướng.
[60].
Vô sở hữu tâm tam-muội 無所有心三昧. Pāli: akiñcaññā
cetovimutti.
[61].
Không tâm tam-muội 空心三昧. Pāli: sūññā cetovimutti.
[62].
Bản Pāli: Tỳ-kheo vào rừng,… hay nhà trống, tư duy, “Cái
này trống không; không có ngã và ngã sở”.
[63].
Pāli: rāgo bhante pamāṇakaraṇo, tham là cái làm ra hạn lượng.
[64].
Pāli: trong tất cả vô lượng tâm giải thoát, bất đọâng
tâm giải thoát là bậc nhất: akuppā tāsaṃ cetovimutti aggam
akkhāyati.
[65].
Pāli, S.41.6 Kāmabhū (2).
[66].
Nguyên bản viết già 伽. Trên kia, kinh 559, viết là ca 迦.
[67].
Hành 行. Pāli: saṅkhāra; ở đây chỉ hành vi.
[68].
Hán: giác hữu quán 覺有觀. Pāli: (sa)vitakka-(sa)vicārā.
[69].
Hán: tưởng tư 想思. Pāli: saññā ca vedanā.
[70].
Diệt tận chánh thọ 滅盡正受, tức diệt tận định, hay
tưởng tri diệt tận định. Pāli: saññvedayita-norodhasamāpatti.
[71].
Hán: thuận thú, lưu chú, tuấn thâu 順趣,流注,浚輸. Pāli:...
kiṃnaṃ cittam hoti, kiṃpoṇaṃ kiṃpabbhāran ’ti, tâm hướng
đến cái già, nghiêng về cái gì, xuôi theo cái gì.
[72].
Pāli, S.41.2 Isidatta (1).
[73].
Chủng chủng giới 種種界. Pāli: dhātunānattaṃ.
[74].
Lê-tê-đạt-đa 梨犀達多. Pāli: Isidatta.
[75].
Pāli, S.41.3 Isidatta (2).
[76].
Hà bản, hà tập, hà sanh, hà chuyển 何本, 何集, 何生, 何轉;
xem cht.104, kinh 57.
[77].
Thân kiến 身見, đây chỉ hữu thân kiến. Pāli: sakkāgadiṭṭhi.
[78].
Pāli: rūpam attato samanupassati, rūpavantaṃ và attānaṃ attanivā
rūpaṃ rūpasmiṃ vā attānam, quán sát sắc là tự ngã, tự
ngã có sắc, chính tự ngã là sắc, tự ngã ở trong sắc.
[79].
S.41.4 Mahaka.
[80].
Hán: ngưu mục 牛牧. Pāli: gokula, ngưu xá, nhà cho bò ở, hay
trại bò.
[81].
Ma-ha-ca 摩訶迦. Pāli: Mahaka.
[82].
Như kỳ chánh thọ 如其正受. Pāli: tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ
abhisaṅkhati, thực hiện thắng hành thần thông như vậy.
[83].
Quá nhân pháp thần túc hiện hóa 過人法神足現化. Pāli:
uttarimanussadhamma iddhipāṭihāriya.
[84].
Hệ phược, hay kết. Pāli, S.41.1 Saññojana.
[85].
Dục tham 欲貪. Pāli: chandarāga.
[86].
S.41.9 Acela.
[87].
A-kỳ-tỳ-ca 阿耆毘迦, bản Cao ly không có chữ ca 迦. Pāli:
ājivika. Bản Pāli, S.41.9: Acela Kassapa, lõa thể ngoại đạo,
bạn cũ của Citta trước khi tu lõa thể.
[88].
Bản Pāli, 30 năm.
[89].
Quá nhân pháp 過人法. Pāli: uttarimanussa-dhamma, nhân thượng
pháp, hay thượng nhân pháp, pháp của bậc thượng nhân.
[90].
Pāli, S.41.8 Nigaṇṭha.
[91].
Ni-kiền Nhã-đề Tử 尼犍若提子. Pāli: Nigaṇṭha Nāṭaputta.
[92].
Vô giác vô quán tam muôi 無覺無觀三昧, định không tầm
và tứ, từ Nhị thiền trở lên. Pāli: saddahasi tvam gahapati
samanassa gotamassa atthi avitakko avicāro samādhi, atthi vitakkavicārānaṃ
nirodho’ti, gia chủ có tin lời Sa-môn Cù-đàm rằng có định
không tầm không tứ và có sự diệt tận của tầm và tứ?
[93].
Bản Pāli: “Ông có tin lời Phật về định không tầm không
tứ?
[94].
Pāli: na khvāhaṃ ettha, bhante, bhegavato saddhāya gacchāmi, atthi
avitakko avicāro, atthi vitakkavicārāṇaṃ nirodho’ti, tôi không
đến đây để tin Thế Tôn nói rằng có định không tầm
không tứ và có sự diệt tận của tầm và tứ.
[95].
Bản Minh chép là Ni-kiền Nhã-đề Tử.
[96].
Pāli, S.41.10 Gilānadasana (thăm bệnh).
