TẠP
A-HÀM QUYỂN 17
KINH
456. CHÁNH THỌ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà
thuộc nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
quang giới, tịnh giới, vô lượng không nhập xứ giới, vô
lượng thức nhập xứ giới, vô sở hữu nhập xứ giới,
phi tưởng phi phi tưởng nhập xứ giới, hữu diệt giới[2].”
Khi
ấy có Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục,
cúi đầu lễ dưới chân Phật, chắp tay, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có quang giới, tịnh giới, vô lượng không nhập
xứ giới, vô lượng thức nhập xứ giới, vô sở hữu nhập
xứ giới, phi tưởng phi phi tưởng nhập xứ giới, diệt giới.
Các thứ giới như vậy do nhân duyên gì để có thể biết?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Quang
giới kia do duyên tối tăm mà được biết. Tịnh giới do duyên
bất tịnh nên biết. Vô lượng không nhập xứ giới do duyên
sắc mà biết. Vô lượng thức nhập xứ giới do không[3] mà
được biết. Vô sở hữu nhập xứ giới do duyên sở hữu[4]
mà được biết. Phi tưởng phi phi tưởng nhạâp xứ giới
do duyên hữu đệ nhất[5] mà được biết. Diệt giới là
do duyên hữu thân[6] mà được biết”.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, từ quang giới cho đến diệt giới này do vào chánh
thọ[7] gì mà đạt được?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Quang
giới, tịnh giới, vô lượng không nhập xứ giới, vô lượng
thức nhập xứ giới, vô sở hữu nhập xứ giới; các cõi
này ngay nơi chánh thọ đang tự hành mà đạt được[8]. Phi
tưởng phi phi tưởng nhập xứ giới ở nơi chánh thọ của
đệ nhất hữu[9] mà đạt được và diệt giới do chánh thọ
của diệt hữu thân[10] mà đạt được.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
*
KINH
457. THUYẾT[11]
Tôi
nhge như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tại giảng đường Lộc mẫu, Đông viên,
nước Xá-vệ. Bấy giờ vào buổi chiều, Đức Thế Tôn sau
khi từ thiền tịnh tỉnh giác, đến trong bóng mát giảng đường,
trải tòa, ngồi trước đại chúng, nói những câu kệ Ưu-đàn-na,
rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Vì
duyên giới mà sanh thuyết[12], chứ không phải không do giới.
Duyên giới mà sanh kiến, không phải không do giới, Duyên giới
mà sanh tưởng, không phải không do giới. Duyên giới hạ liệt[13],
Ta nói, sanh thuyết hạ liệt[14], kiến hạ liệt, tưởng hạ
liệt, tư hạ liệt[15], dục hạ liệt[16], nguyện hạ liệt,
hạ sĩ phu hạ liệt[17], sở tác hạ liệt, thi thiết hạ liệt,
kiến lập hạ liệt, hạ bộ phận hạ liệt, hạ hiển thị
hạ liệt, hạ thọ sanh hạ liệt.
“Trung
giới[18] cũng như vậy.
“Cũng
vậy, đối với giới thù thắng[19]. Do duyên thắng giới,
Ta nói kia sanh thuyết thù thắng, kiến thù thắng, tưởng thù
thắng, nguyện thù thắng, sĩ phu thù thắng, sở tác thù thắng,
thi thiết thù thắng, kiến lập thù thắng, bộ phận thù thắng,
hiển thị thù thắng, thọ sanh thù thắng”.
Bấy
giờ có Tỳ-kheo Bà-ca-lị[20] đang đứng sau, cầm quạt hầu
Phật, bạch rằng:
“Bạch
Thế Tôn, nếu đối với Chánh đẳng Chánh giác, mà khởi
lên kiến giải không phải Chánh đẳng Chánh giác, thì các
kiến giải này cũng duyên theo giới mà sanh chăng?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Đối
với Chánh đẳng Chánh giác mà khởi kiến giải không phải
Chánh đẳng Chánh giác[21], cũng duyên theo giới mà sanh ra,
không phải không duyên giới. Vì sao? Giới của phàm phu là
vô minh giới. Như trước Ta đã nói, duyên hạ giới sanh hạ
thuyết, hạ kiến,… cho đến, hạ thọ sanh. Duyên trung giới
cũng như vậy, đối với thắng giới, cũng sanh thắng thuyết,
thắng kiến, cho đến, thắng thọ sanh.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
*
KINH
458. NHÂN[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
nhân sanh ra dục tưởng, chứ không phải không có nhân; có
nhân sanh ra nhuế tưởng, hại tưởng[23], chứ không phải
không có nhân.
“Do
nhân gì sanh dục tưởng? Do duyên dục giới. Duyên dục giới
nên sanh ra dục tưởng, dục dục, dục giác, dục nhiệt, dục
cầu[24]. Kẻ phàm phu ngu si khi đã khởi lên dục cầu rồi,
chúng sanh này khởi lên tà vạy qua ba nơi là thân, miệng,
tâm. Do nhân duyên tà vạy như vậy nên hiện tại sống trong
khổ não; có khổ, có khốn quẫn, có thất vọng[25], có nóng
bức; sau khi chết rồi sanh vào trong đường ác. Đó gọi là
nhân duyên sanh dục tưởng.
“Thế
nào là nhân duyên sanh ra nhuế tưởng, hại tưởng? Đó là
hại giới. Do duyên hại giới nên sanh hại tưởng, hại dục,
hại giác, hại nhiệt, hại cầu. Kẻ phàm phu ngu si khi đã
khởi lên sự mong muốn làm hại, chúng sanh này khởi lên tà
vạy qua ba nơi là thân, miệng, tâm. Do nhân duyên tà vạy như
vậy nên hiện tại sống trong khổ não; có khổ, có khốn
quẫn, có thất vọng, có nóng bức; sau khi chết rồi sanh vào
trong đường ác.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào đang an trú nơi sanh
như vậy mà sanh tưởng nguy hiểm[26], không tìm cách loại
bỏ, không tỉnh giác[27], không nhả ra, thì hiện tại người
ấy ngay trong đời hiện tại an trú khổ; có khổ, có khốn
quẫn, có thất vọng, có nóng bức; sau khi chết rồi sanh vào
trong đường ác.
“Ví
như cách thành ấp, làng xóm không xa, có cánh đồng hoang,
chợt bốc lửa lớn. Nếu không có ai có sức mạnh để dập
tắt lửa, nên biết, những chúng sanh ở trong đồng hoang đó
chắc chắn sẽ bị lửa hại. Cũng vậy, Sa-môn, Bà-la-môn
đang an trú nơi sanh mà sanh tưởng nguy hiểm, sau khi thân hoại
mạng chung sanh vào đường ác.
“Này
các Tỳ-kheo, có nhân sanh tưởng xuất yếu[28], chứ không
phải không có nhân.
“Thế
nào là nhân sanh tưởng xuất yếu? Đó là xuất yếu giới[29].
Do duyên xuất yếu giới sanh xuất yếu tưởng, xuất yếu
dục, xuất yếu giác, xuất yếu nhiệt, xuất yếu cầu. Nghĩa
là người có trí kia khi tìm cầu sự xuất yếu, chúng sanh
này[30] phát sanh chánh hành qua ba chỗ là thân, miệng, tâm.
Kia sau khi do nhân duyên sanh chánh hành như vậy, ngay hiện tại
sống an lạc; không khổ, không khốn quẫn, không thất vọng,
không nóng bức; sau khi chết sanh vào cõi lành. Đó gọi là
nhân duyên sanh tưởng xuất yếu.
“Thế
nào là nhân duyên sanh tưởng không nhuế, không hại[31]? Đó
là bất nhuế, bất hại giới. Do nhân duyên bất hại giới
sanh bất hại tưởng bất hại dục, bất hại giác, bất hại
nhiệt, bất hại cầu không hại. Nghĩa là người có trí kia
khi tìm cầu sự bất hại, chúng sanh phát sanh chánh hành qua
ba chỗ là thân, miệng, tâm. Kia sau khi do nhân duyên sanh chánh
hành như vậy, ngay hiện tại sống an lạc; không khổ, không
khốn quẫn, không thất vọng, không nóng bức; sau khi chết
sanh vào cõi lành. Đó gọi là nhân duyên sanh tưởng bất hại.
“Nếu
các Sa-môn, Bà-la-môn an trụ nơi sanh mà sanh tưởng bất hại,
không lìa bỏ, không loại bỏ[32], không nhả ra, ngay hiện
tại sống lạc; không khổ, không khốn quẫn, không thất vọng,
không nóng bức; sau khi chết sanh vào cõi lành.
“Ví
như ven thành ấp, làng xóm, có cánh đồng hoang chợt bốc
lửa lớn. Có người có khả năng dùng tay, chân để dập
tắt lửa. Nên biết, các chúng sanh sống nương cây cỏ đều
không bị hại. Cũng vậy, Sa-môn, Bà-la-môn an trụ nơi sanh
mà sanh tưởng bất hại, không lìa bỏ, không loại bỏ, không
nhả ra, ngay hiện tại sống lạc; không khổ, không khốn quẫn,
không thất vọng, không nóng bức; sau khi chết sanh vào cõi
lành.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
*
KINH
359. TỰ TÁC[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Bà-la-môn đến chỗ Phật, sau
khi cùng Thế Tôn thăm hỏi, rồi đứng sang một bên, bạch
Phật:
“Chúng
sanh không phải tự mình làm, không phải cái khác làm.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Với
luận thuyết như vậy thì Ta và ông không gặp nhau. Ông nay
tự mình đi đến đây mà lại nói không tự mình làm, không
phải cái khác làm.”
Bà-la-môn
bạch:
“Thế
nào, bạch Cù-đàm, chúng sanh là tự mình làm hay cái khác
làm?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Bây
giờ Ta hỏi ông, tùy ý mà trả lời Ta. Này Bà-la-môn, ý ông
nghĩ sao, có phương tiện giới[34] của chúng sanh, nhờ đó
các chúng sanh biết tạo ra phương tiện chăng?”
Bà-la-môn
bạch:
“Bạch
Cù-đàm, có phương tiện giới của chúng sanh đó, khiến cho
các chúng sanh biết tạo ra phương tiện.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Nếu
có phương tiêïn giới nhờ đó mà các chúng sanh biết có
phương tiện, thì đó là chúng sanh tự mình làm hay là cái
khác làm[35]?”
“Này
Bà-la-môn, ý ông nghĩ sao, có an trú giới, kiên cố giới,
xuất giới, tạo tác giới[36] của chúng sanh, nhờ đó mà
chúng sanh biết là có tạo tác chăng?”
Bà-la-môn
bạch Phật:
“Có
an trú giới, kiên cố giới, xuất giới, tạo tác giới của
chúng sanh, nhờ đó mà chúng sanh biết là có tạo tác.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Nếu
có an trú giới, kiên cố giới, xuất giới, tạo tác giới
của chúng sanh, nhờ đó mà chúng sanh biết là có tạo tác,
thì đó là chúng tự mình làm hay là cái khác làm?”
Bà-la-môn
bạch:
“Chúng
sanh có việc tự mình làm, có việc người khác làm. Bạch
Cù-đàm, vì ở đời có nhiều công việc, bây giờ xin phép
được cáo từ.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Ở
đời có nhiều công việc, ông nên đúng thời.”
Sau
khi nghe lời Phật dạy, Bà-la-môn hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ
ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
460. CÙ-SƯ-LA[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, nước Câu-diệm-di[38].
Bấy giờ gia chủ Cù-sư-la[39] đi đến chỗ Tôn giả A-nan,
đảnh lễ dưới chân Tôn giả A-nan, rồi lui ngồi qua một
bên, bạch Tôn giả A-nan:
“Nói
là nhiều chủng loại giới[40]. Vậy thế nào là nhiều chủng
loại giới?”
Tôn
giả A-nan bảo gia chủ Cù-sư-la:
“Nhãn
giới khác, sắc giới khác thuộc về hỷ xứ[41]. Hai nhân
duyên sanh thức. Ba sự hòa hợp sanh xúc. Do nhân duyên hỷ
xúc sanh lạc thọ. Cũng vậy, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý pháp
cũng nói như vậy.
“Lại
nữa, này gia chủ, có nhãn giới khác, sắc giới khác thuộc
về ưu xứ. Hai nhân duyên sanh thức. Ba sự hòa hợp sanh khổ
xúc. Do nhân duyên khổ sanh khổ thọ. Cũng vậy, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý pháp cũng nói như vậy.
“Lại
nữa này gia chủ, nhãn giới khác, sắc giới khác thuộc về
xả xứ. Hai nhân duyên sanh thức. Ba sự hòa hợp sanh xúc,
không khổ, không lạc. Do nhân duyên xúc không khổ, không lạc
sanh thọ, không khổ, không lạc. Cũng vậy, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý pháp cũng nói như vậy.”
Gia
chủ Cù-sư-la sau khi nghe lời dạy của Tôn giả A-nan hoan hỷ,
tùy hỷ, đảnh lễ rồi lui ra.
*
KINH
461. TAM GIỚI (1)[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, nước Câu-diệm-di[43].
Bấy giờ gia chủ Cù-sư-la đi đến chỗ Tôn giả A-nan, đảnh
lễ dưới chân Tôn giả A-nan, rồi lui ngồi qua một bên, bạch
Tôn giả A-nan:
“Nói
là nhiều chủng loại giới. Vậy thế nào là nhiều chủng
loại giới?”
Tôn
giả A-nan bảo gia chủ Cù-sư-la:
“Có
ba giới. Những gì là ba? Đó là Dục giới, Sắc giới và
Vô sắc giới.”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan nói bài kệ:
Hiểu
rõ về Dục giới,
Sắc
giới cũng như vậy.
Bỏ
tất cả hữu dư,
Được
tịch diệt vô dư.
Nơi
thân hòa hợp giới[44],
Đoạn
tuyệt, chứng vô dư.
Đấng
Chánh Giác[45] đã chỉ,
Dấu
vô ưu, ly cấu[46].
Tôn
giả A-nan nói kinh này xong, gia chủ Cù-sư-la hoan hỷ, tùy hỷ,
rồi lui ra.
*
KINH
462. TAM GIỚI (2)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, nước Câu-diệm-di[47].
Bấy giờ gia chủ Cù-sư-la đi đến chỗ Tôn giả A-nan, đảnh
lễ dưới chân Tôn giả A-nan, rồi lui ngồi qua một bên, bạch
Tôn giả A-nan:
“Nói
là nhiều chủng loại giới. Vậy thế nào là nhiều chủng
loại giới?”
Tôn
giả A-nan bảo gia chủ Cù-sư-la:
“Có
ba giới. Những gì là ba? Đó là Sắc giới, Vô sắc giới,
Diệt giới[48].”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan nói bài kệ:
Nếu
chúng sanh Sắc giới,
Và
trụ Vô sắc giới,
Mà
không biết Diệt giới,
Thì
lại thọ các hữu.
Nếu
đoạn được sắc giới,
Không
trụ vô sắc giới,
Diệt
giới, tâm giải thoát,
Thì
xa lìa sanh tử.
Khi
Tôn giả A-nan nói kinh này xong, thì gia chủ Cù-sư-la tùy hỷ,
vui mừng làm lễ mà lui.
*
KINH
463. TAM GIỚI (3)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, nước Câu-diệm-di. Bấy
giờ gia chủ Cù-sư-la đi đến chỗ Tôn giả A-nan, đảnh lễ
dưới chân Tôn giả A-nan, rồi lui ngồi qua một bên, bạch
Tôn giả A-nan:
“Nói
là nhiều chủng loại giới. Vậy thế nào là nhiều chủng
loại giới?”
Tôn
giả A-nan bảo gia chủ Cù-sư-la:
“Có
ba thứ giới xuất ly, đó là xuất ly từ Dục giới cho đến
Sắc giới và xuất ly từ Sắc giới cho đến Vô sắc giới.
Ở đây, tất cả các hành, tất cả những tư tưởng về
giới đều dứt hết. Đó gọi là ba thứ giới cần xuất
ly, rồi Tôn giả nói bài kệ:
Biết
xuất ly Dục giới,
Vượt
luôn khỏi Sắc giới,
Tất
cả hành tịch diệt,
Siêng
tu, chánh phương tiện.
Đoạn
trừ tất cả ái,
Tất
cả hành diệt tận.
Biết
tất cả hữu dư,
Không
xoay chuyển lại hữu.
Khi
Tôn giả A-nan nói kinh này xong, thì gia chủ Cù-sư-la tùy hỷ
vui mừng làm lễ mà lui.
*
KINH
464. ĐỒNG PHÁP
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cù-sư-la, nước Câu-diệm-di. Bấy
giờ Tôn giả A-nan đi đến chỗ vị Thượng tọa tên là Thượng
Tọa[49]. Khi đến nơi ấy, Tôn giả cung kính thăm hỏi, rồi
ngồi lui qua một bên, bạch vị Thượng tọa tên là Thượng
Tọa:
“Nếu
có Tỳ-kheo ở nơi vắng vẻ, dưới bóng cây, hay ở trong phòng
yên tĩnh tư duy, nên dùng pháp gì để chuyên tinh tư duy?”
Thượng
tọa đáp:
“Này
Tôn giả A-nan, nếu người nào ở chỗ vắng vẻ, dưới bóng
cây hay trong phòng yên tĩnh, nên dùng hai pháp này để chuyên
tinh tư duy, đó là chỉ và quán[50].
Tôn
giả A-nan lại hỏi Thượng tọa:
“Tu
tập chỉ, sau khi tu tập nhiều, sẽ thành tựu được pháp
gì? Tu tập quán, sau khi tu tập nhiều, sẽ thành tựu được
pháp gì?”
Thượng
tọa trả lời Tôn giả A-nan:
“Tu
tập chỉ, cuối cùng thành tựu được quán. Tu tập quán,
cũng thành tựu được chỉ. Nghĩa là Thánh đệ tử tu tập
gồm cả chỉ và quán, chứng đắc các giải thoát giới.”
Tôn
giả A-nan lại hỏi:
“Bạch
Thượng tọa, thế nào là các giải thoát giới?”
Thượng
tọa đáp:
“Này
Tôn giả A-nan, đoạn giới, vô dục giới, diệt giới, đó
gọi là các giải thoát giới.”
Tôn
giả A-nan lại hỏi Thượng tọa:
“Thế
nào là đoạn giới cho đến diệt giới?”
Thượng
tọa đáp:
“Này
Tôn giả A-nan, đoạn tất cả hành, đó gọi là đoạn giới.
Đoạn trừ ái dục, đó là vô dục giới. Tất cả hành diệt,
gọi là diệt giới.”
Tôn
giả A-nan, sau khi nghe Thượng tọa nói xong, tùy hỷ hoan hỷ,
rồi đi thẳng đến chỗ năm trăm Tỳ-kheo, cung kính hỏi thăm,
rồi ngồi lui qua một bên, bạch với năm trăm vị Tỳ-kheo:
“Nếu
Tỳ-kheo nào trong lúc ở chỗ vắng vẻ, dưới bóng cây hay
trong phòng yên tĩnh tư duy, nên dùng pháp gì để chuyên tinh
tư duy?”
Bấy
giờ năm trăm Tỳ-kheo trả lời Tôn giả A-nan:
“Nên
dùng hai pháp chuyên tinh mà tư duy.” Chi tiết, cho đến, “diệt
giới,” như vị Thượng tọa đã nói trên kia.
Khi
Tôn giả A-nan nghe năm trăm vị Tỳ-kheo nói như vậy, hoan hỷ
tùy hỷ, liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu Tỳ-kheo ở chỗ vắng vẻ, dưới bóng cây hay
trong phòng yên tĩnh mà tư duy, nên dùng phương pháp gì để
chuyên tinh tư duy?”
Phật
bảo A-nan:
“Nếu
Tỳ-kheo nào ở nơi vắng vẻ, dưới bóng cây hay trong phòng
yên tĩnh mà tư duy, nên dùng hai pháp để chuyên tinh tư duy.”
Chi tiết, cho đến, “diệt giới,” như năm trăm Tỳ-kheo
đã nói.
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan bạch Phật:
“Kỳ
diệu thay, bạch Thế Tôn, Bậc Đạo Sư và các đệ tử, tất
cả đều đồng một pháp, đồng văn cú, đồng một nghĩa,
đồng một vị. Hôm nay con đến Thượng tọa có tên là Thượng
Tọa hỏi nghĩa này, Tôn giả ấy cũng đem nghĩa này, văn cú
này, vị này giải đáp cho con, như những gì Thế Tôn đã
nói hiện tại. Con lại đến chỗ năm trăm Tỳ-kheo cũng đem
nghĩa này, văn cú này, vị này hỏi năm trăm Tỳ-kheo, họ
cũng đem nghĩa này, câu này, vị này mà đáp như những gì
Thế Tôn đã nói hiện tại. Cho nên biết rằng, Thầy và đệ
tử, tất cả đều đồng một pháp, đồng văn cú, đồng
một nghĩa, đồng một vị.”
Phật
bảo Tôn giả A-nan:
“Ngươi
có biết vị Thượng tọa này là Tỳ-kheo như thế nào không?”
A-nan
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con không biết.”
Phật
bảo Tôn giả A-nan:
“Thượng
tọa này là A-la-hán, các lậu đã giũ sạch, đã vứt bỏ
gánh nặng, đạt được chánh trí, tâm khéo giải thoát. Năm
trăm vị Tỳ-kheo kia cũng đều như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
465. TRƯỚC SỬ[51]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Thế Tôn, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, biết cái gì, thấy cái gì, để ở nơi thức thân
này của con và tất cả những tướng của cảnh giới bên
ngoài mà không có kết sử ngã, ngã sở, ngã mạn[52]?”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Nếu
Tỳ-kheo nào đối với những gì thuộc địa giới, hoặc quá
khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc trong, hoặc ngoài,
hoặc thô, hoặc tế, hoặc đẹp, hoặc xấu, hoặc xa, hoặc
gần, mà biết như thật, thì tất cả những thứ đó đều
không phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau. Đối với
thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới,
lại cũng như vậy.
“Này
La-hầu-la, Tỳ-kheo nào biết như vậy, thấy như vậy đối
với thức thân này của chính mình và tất cả những tướng
thuộc cảnh giới bên ngoài, thì không có kết sử ngã, ngã
sở, ngã mạn.
“Này
La hầu la, nếu Tỳ-kheo nào đối với thức thân này và tất
cả những tướng của cảnh giới ở bên ngoài mà không có
kết sử ngã, ngã sở, ngã mạn, thì đó gọi là dứt sự
ràng buộc của ái, dứt các kết sử, đoạn trừ ái, dừng
kiêu mạn, đắc hiện quán, đến tột cùng của mé khổ.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả La-hầu-la nghe những gì Đức Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
466. XÚC NHÂN[53]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Thế Tôn, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, biết cái gì, thấy cái gì, để ở nơi thức thân
này của con và tất cả những tướng của cảnh giới bên
ngoài mà không có kết sử ngã, ngã sở, ngã mạn[54]?”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Có
ba thứ thọ, đó là khổ thọ, lạc thọ, không khổ không
lạc thọ. Ba thọ này do nhân gì, tập gì, sanh gì, chuyển
gì? Tức là, ba thọ này, xúc là nhân, là tập, là sanh, là
chuyển. Do xúc nhân như thế này, thế kia sanh các thọ như
thế này, thế kia. Nếu xúc thế này thế kia diệt, thọ thế
này thế kia cũng diệt, tĩnh chỉ, thanh lương, tịch tĩnh.
Biết như vậy, thấy như vậy thì ở nơi thức thân này của
con và tất cả những tướng của cảnh giới bên ngoài mà
không có kết sử ngã, ngã sở, ngã mạn.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả La-hầu-la nghe những gì Đức Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
467. KIẾM THÍCH[55]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Thế Tôn, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, biết cái gì, thấy cái gì, để ở nơi thức thân
này của con và tất cả những tướng của cảnh giới bên
ngoài mà không có kết sử ngã, ngã sở, ngã mạn?”
Phật
bảo Tôn giả A-nan:
“Có
ba thứ thọ, đó là khổ thọ, lạc thọ, không khổ không
lạc thọ. Quán sát lạc thọ mà khởi tưởng là khổ; quán
sát khổ thọ mà khởi tưởng là kiếm đâm; quán sát không
khổ không lạc thọ mà khởi tưởng là vô thường. Nếu Tỳ-kheo
quán sát lạc thọ mà khởi tưởng là khổ, quán sát khổ
thọ mà khởi tưởng là kiếm đâm, quán sát không khổ không
lạc thọ mà khởi tưởng là vô thường, hoại diệt, thì
đó gọi là chánh kiến.”
Sau
đó Thế Tôn nói bài kệ:
Quán
vui, khởi tưởng khổ,
Khổ
thọ như kiếm đâm,
Đối
với không khổ vui,
Tu
tưởng vô thường, diệt;
Đó
gọi là Tỳ-kheo
Thành
tựu được chánh kiến.
Đạo
an vui tịch diệt,
Trụ
nơi mé cuối cùng,
Vĩnh
viễn lìa phiền não,
Dẹp
tan chúng quân ma.
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả La-hầu-la nghe những gì Đức Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
468. TAM THỌ[56]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Đức Phật,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một
bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, biết cái gì, thấy cái gì, để ở nơi thức thân
này của con và tất cả những tướng của cảnh giới bên
ngoài mà không có kết sử ngã, ngã sở, ngã mạn?”
Phật
bảo Tôn giả La-hầu-la:
“Có
ba thứ thọ, đó là khổ thọ, lạc thọ, không khổ không
lạc thọ. Khi quán sát lạc thọ, vì muốn dứt trừ tham sử[57]
đối lạc thọ, nên ở nơi Ta mà tu phạm hạnh; vì muốn dứt
trừ sân nhuế sử[58] đối với khổ thọ, nên ở nơi Ta mà
tu phạm hạnh; vì muốn dứt trừ ngu si sử[59] đối với bất
khổ bất lạc thọ, nên ở nơi Ta mà tu phạm hạnh.
“Này
La hầu la, nếu Tỳ-kheo nào đối với kết sử tham nơi lạc
thọ đã dứt trừ, đã biết; đối với kết sử sân nhuế
nơi khổ thọ đã dứt trừ, đã biết; và đối với kết
sử si nơi bất khổ bất lạc thọ đã dứt trừ, đã biết,
thì đó gọi là Tỳ-kheo đã đoạn trừ ái dục, bứt các
kết buộc, diệt kiêu mạn[60], đến tột cùng của mé khổ[61].”
Sau
đó, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Khi
cảm nhận lạc thọ,
Thì
không biết lạc thọ
Bị
tham sử sai khiến,
Không
thấy đường xuất ly.
Lúc
cảm nhận khổ thọ,
Thì
không biết khổ thọ
Bị
sân nhuế sai sử,
Không
thấy đường xuất ly.
Thọ
không vui không khổ,
Đấng
Chánh Giác đã nói,
Nếu
không khéo quán sát,
Quyết
không qua bờ kia.
Tỳ-kheo
cần tinh tấn,
Chánh
tri không động chuyển[62],
Như
tất cả thọ nàyï,
Người
trí thường hiểu biết.
Người
hiểu biết các thọ,
Hiện
tại hết các lậu,
Người
trí sáng mạng chung,
Không
rơi vào các số[63],
Các
số đã dứt tuyệt,
Thường
nhập Niết-bàn lạc.
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả La-hầu-la nghe những gì Đức Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
469. THÂM HIỂM[64]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, nơi thành
Vương xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Biển
lớn sâu hiểm[65]. Đó là cái sâu hiểm mà người ngu ở thế
gian này thường nói, không phải là sâu hiểm được nói trong
pháp luật của Hiền thánh[66]. Những gì mà thế gian nói về
sự sâu hiểm thì đó chỉ là sự tích tụ số lượng nước
nhiều mà thôi. Nếu các thọ phát sanh từ thân, các khổ bức
bách, hoặc bị khốn quẫn, hoặc chết, thì đó mới gọi
là nơi sâu hiểm vô cùng của biển lớn.
“Phàm
phu ngu si không học, ở nơi các thọ phát sanh từ thân, các
khổ bức bách, hoặc bị khốn quẫn, hoặc chết, sầu bi,
thán oán, khóc lóc, kêu la, tâm loạn phát cuồng, mà trường
kỳ chìm đắm, không chỗ dừng nghỉ.
“Đa
văn Thánh đệ tử, ở nơi các thọ phát sanh từ thân, các
khổ bức bách, hoặc bị khốn quẫn, hoặc chết, sầu bi,
thán oán, khóc lóc, kêu la, tâm loạn phát cuồng, mà không
chìm đắm sanh tử, được chỗ dừng nghỉ.”
Sau
đó, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Thân
sanh các khổ thọ,
Bức
bách cho đến chết,
Sầu
bi không chịu nổi,
Than
khóc, phát cuồng loạn.
Tâm
tự sanh khốn quẫn,
Chiêu
tập các khổ tăng,
Mãi
chìm biển sanh tử,
Nào
biết chỗ dừng nghỉ.
Xả
các thọ nơi thân,
Khổ
não sanh từ thân,
Bức
bách cho đến chết,
Không
khởi tưởng buồn lo,
Không
than khóc kêu gào,
Thường
nhẫn thọ các khổ,
Tâm
không sanh chướng ngại,
Chiêu
tập các khổ tăng,
Không
chìm đắm sanh tử,
Quyết
được nơi an ổn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
470. TIỄN[67]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Phàm
phu ngu si không học sanh khổ thọ, lạc thọ, không khổ không
lạc thọ. Đa văn Thánh đệ tử cũng sanh khổ thọ, lạc thọ,
không khổ không lạc thọ. Này các Tỳ-kheo, như vậy giữa
phàm phu và Thánh nhân có gì sai khác?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là căn bản của pháp, là con mắt của pháp, là sở y
của pháp. Lành thay, Thế Tôn! Cúi xin nói đầy đủ, các Tỳ-kheo
sau khi nghe xong sẽ lãnh thọ thực hành.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo tiếp:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Này
các Tỳ-kheo, phàm phu ngu si không học, vì thân xúc chạm sanh
các thọ, tăng thêm các khổ đau, cho đến bị cướp mất
mạng sống, sầu bi, thán oán, khóc lóc, kêu gào, tâm sanh cuồng
loạn. Ngay lúc đó hai thọ tăng trưởng, là thân thọ và tâm
thọ. Như có người thân bị trúng hai mũi tên độc, vô cùng
đau đớn. Phàm phu ngu si không học lại cũng như vậy. Hai
thọ tăng trưởng: thân thọ, tâm thọ vô cùng đau đớn, khổ
sở. Vì sao? Vì phàm phu ngu si không học này vì không biết
rõ, nên ở nơi ngũ dục mà phát sanh cảm xúc lạc thọ, lãnh
thọ năm thứ dục lạc. Do lãnh thọ năm thứ dục lạc nên
bị tham sử sai khiến[68]. Vì xúc chạm cảm thọ khổ nên
sanh sân nhuế. Vì nổi sân nhuế nên bị nhuế sử sai khiến[69].
Nếu đối với sự tập khởi, sự diệt tận, vị ngọt, tai
hại và xuất ly của hai thọ này mà không biết như thật;
vì không biết như thật nên sanh cảm thọ không khổ không
lạc, bị si sử sai khiến. Nó bị lạc thọ trói buộc, mãi
không thể lìa[70]; bị khổ thọ trói buộc, trọn không thể
lìa; bị cảm thọ không khổ không lạc trói buộc, cuối cùng
không thể lìa.
“Cái
gì trói buộc? Bị tham, nhuế, si trói buộc; bị sanh, già,
bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não trói buộc.”
“Đa
văn Thánh đệ tử, thân xúc sanh khổ thọ, khổ lớn bức
bách… cho đến cướp mất sanh mạng, mà không khởi lo buồn,
thán oán, khóc lóc, kêu gào, loạn tâm phát cuồng. Ngay lúc
đó chỉ sanh một thứ thọ, đó là thân thọ, chứ không sanh
tâm thọ. Như người bị một mũi tên độc, không bị mũi
tên độc thứ hai, ngay khi đó chỉ sanh có một cảm thọ,
đó là thân thọ mà không sanh tâm thọ. Khi xúc chạm lạc
thọ, không nhiễm dục lạc. Vì không nhiễm dục lạc nên
đối với lạc thọ này, tham sử không sai khiến. Khi xúc chạm
khổ thọ không sanh sân nhuế. Vì không sanh sân nhuế, nên
nhuế sử không thể sai khiến. Nếu đối với sự tập khởi,
sự diệt tận, vị ngọt, tai hại, sự xuất ly của hai sử
này mà biết như thật; vì biết như thật cảm thọ không
khổ không lạc, nên si sử không thể sai khiến được. Đối
với lạc thọ được giải thoát, không bị trói buộc; khổ
thọ, không khổ không lạc thọ cũng được giải thoát, không
bị trói buộc.
“Không
bị cái gì trói buộc? Tham, nhuế, si không trói buộc; sanh,
già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não không trói buộc.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Đa
văn đối khổ vui,
Không
phải không cảm giác.
So
với kẻ không học,
Người
này thật xa khác[71].
Thọ
lạc, không buông lung,
Gặp
khổ không tăng sầu;
Khổ
vui thảy đều bỏ,
Không
thuận cũng không trái.
Tỳ-kheo
siêng phương tiện,
Chánh
trí không khuynh động[72],
Đối
với các thọ nàyï,
Trí
tuệ thường biết rõ.
Vì
biết rõ các thọ,
Hiện
tại sạch các lậu,
Khi
chết không đọa lạc[73],
An
trú Đại Niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
471. HƯ KHÔNG[74]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như
giữa hư không, gió lộng từ bốn phương thổi đến như gió
có bụi bặm, gió không bụi bặm, gió tỳ-thấp-ba[75], gió
tỳ-lam-bà[76], gió mỏng, gió dày, cho đến phong luân gió dậy.
Gió cảm thọ trong thân cũng như vậy. Đủ các thứ thọ khởi
lên như lạc thọ, khổ thọ, không khổ không lạc thọ. Đó
là những cảm thọ lạc của thân, cảm thọ khổ của thân,
cảm thọ không khổ không lạc của thân; cảm thọ lạc của
tâm, cảm thọ khổ của tâm, cảm thọ không khổ không lạc
của tâm; cảm thọ thực vị lạc[77], cảm thọ thực vị
khổ, cảm thọ thực vị không khổ không lạc; cảm lạc thọ
phi thực vị, cảm thọ khổ phi thực vị, cảm thọ không
khổ không lạc phi thực vị; cảm thọ lạc do tham, cảm thọ
khổ do tham, cảm thọ không khổ không lạc do tham; cảm thọ
lạc xuất ly, cảm thọ khổ xuất ly, cảm thọ không khổ
không lạc xuất ly.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Như
ở giữa hư không,
Các
gió cuồng nổi dậy;
Gió
Đông, Tây, Nam, Bắc,
Bốn
phương đều như vậy.
Có
bụi và không bụi,
Cho
đến phong luân khởi.
Cũng
vậy trong thân này,
Các
thọ cũng dấy lên.
Hoặc
lạc, hoặc khổ thọ,
Và
không khổ không lạc,
Có
ăn cùng không ăn,
Tham
trước không tham trước.
Tỳ-kheo
siêng phương tiện,
Chánh
trí không lay động[78],
Đối
với các thọ này,
Trí
tuệ thường biết rõ.
Vì
biết rõ các thọ,
Hiện
tại sạch các lậu,
Khi
chết không đọa lạc[79],
An
trụ Bát-niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
472. KHÁCH XÁ[80]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như
nhà khách có đủ hạng người đến ở. Hoặc Sát-đế-lợi,
Bà-la-môn, gia chủ, cư sĩ, người nhà quê, thợ săn, người
trì giới, người phạm giới, người tại gia, người xuất
gia. Tất cả đều trọ ở trong đó. Thân này cũng lại như
vậy. Đủ các thứ thọ sanh khởi như khổ thọ, lạc thọ,
không khổ không lạc thọ; thân thọ lạc, thân thọ khổ,
thân thọ không khổ không lạc; tâm thọ lạc, tâm thọ khổ,
tâm thọ không khổ không lạc; cảm thọ thực vị lạc[81],
cảm thọ thực vị khổ, cảm thọ thực vị không khổ không
lạc; cảm thọ phi thực vị lạc, cảm thọ phi thực vị khổ,
cảm thọ phi thực vị không khổ không lạc; cảm thọ lạc
do tham trước, cảm thọ khổ do tham trước, cảm thọ không
khổ không lạc do tham trước; cảm thọ lạc xuất ly, cảm
thọ khổ xuất ly, cảm thọ không khổ không lạc xuất ly.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Như
ở trong nhà khách,
Đủ
hạng người ở trọ,
Sát-lợi,
Bà-la-môn,
Gia
chủ và cư sĩ,
Chiên-đà-la,
dân quê,
Người
trì giới, phạm giới,
Kẻ
tại gia, xuất gia,
Nhiều
hạng người như vậy.
Thân
này cũng như vậy,
Các
thứ cảm thọ sanh,
Hoặc
vui, hoặc khổ thọ,
Và
không khổ không lạc,
Thực
vị, phi thực vị,
Tham
đắm, không tham đắm.
Tỳ-kheo
siêng phương tiện,
Chánh
trí không lay động,
Đối
với các thọ này,
Trí
tuệ thường biết rõ,
Vì
biết rõ các thọ,
Hiện
tại hết các lậu,
Khi
chết không đọa lạc,
An
trụ Bát-niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
473. THIỀN[82]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ, có Tỳ-kheo một mình ở chỗ vắng[83], thiền
tịnh, tư duy: ‘Thế Tôn nói ba thọ: lạc thọ, khổ thọ,
không khổ không lạc thọ; lại nói những gì thuộc về thọ
thảy đều là khổ. Vậy, điều này có nghĩa gì?”
Tỳ-kheo
này suy nghĩ như vậy rồi, sau khi từ thiền tịnh tỉnh giấc,
đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi đứng
lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con ở chỗ vắng, trong lúc thiền tịnh tư duy có
nghĩ rằng: ‘Thế Tôn nói ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, không
khổ không lạc thọ; lại nói những gì thuộc về thọ đều
là khổ. Vậy, điều này có nghĩa gì?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ta,
vì tất cả hành đều vô thường, tất cả hành là pháp biến
đổi nên nói những gì thuộc về thọ thảy đều là khổ.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
Biết
các hành vô thường,
Đều
là pháp biến dịch,
Nên
nói thọ là khổ,
Chánh
Giác biết điều này.
Tỳ-kheo
siêng phương tiện,
Chánh
trí không lay động,
Đối
với tất cả thọ,
Trí
tuệ thường biết rõ.
Biết
rõ tất cả thọ,
Hiện
tại hết các lậu,
Khi
chết không đọa lạc,
An
trụ Bát-niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
474. CHỈ TỨC[84]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ, Tôn giả A-nan ở một mình chỗ vắng, trong
lúc thiền tịnh nghĩ rằng: ‘Thế Tôn nói ba thọ: lạc thọ,
khổ thọ, không khổ không lạc thọ; lại nói những gì thuộc
về thọ đều là khổ. Vậy điều này có nghĩa gì?’
Suy
nghĩ vậy rồi, sau khi từ thiền tịnh tỉnh giấc, đi đến
chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng
lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, lúc con một mình ở chỗ vắng, thiền tịnh tư duy
rằng: ‘Như lời Thế Tôn nói ba thọ: lạc thọ, khổ thọ,
không khổ không lạc thọ; lại nói những gì thuộc về thọ
đều là khổ. Vậy điều này có nghĩa gì?”
Phật
bảo A-nan:
“Ta,
vì tất cả hành là vô thường, tất cả hành là pháp biến
đổi, nên nói những gì thuộc về thọ đều là khổ. Lại
nữa A-nan, Ta, vì các hành tuần tự tịch diệt[85], vì các
hành tuần tự tĩnh chỉ[86], nên Ta nói tất cả thọ đều
là khổ.”
A-nan
bạch Phật:
“Thế
Tôn vì các hành tuần tự tịch diệt mà nói, là nghĩa thế
nào?”
Phật
bảo A-nan:
“Khi
nhập[87] Sơ thiền, thì ngôn ngữ tich diệt. Nhập Nhị thiền
thì giác quán[88] tịch diệt. Nhập Tam thiền, tâm hỷ tịch
diệt[89]. Nhập Tứ thiền, hơi thở ra vào tịch diệt. Nhập
Không nhập xứ[90], sắc tưởng tịch diệt. Nhập Thức nhập
xứ[91], tưởng không nhập xứ vắng lặng. Nhập Vô sở hữu
nhập xứ, tưởng thức nhập xứ tịch diệt. Nhập Phi tưởng
phi phi tưởng nhập xứ, tưởng vô sở hữu nhập xứ tịch
diệt. Nhập Tưởng thọ diệt, tưởng và thọ tịch diệt.
Đó gọi là các hành dần dần vắng lặng.”
A-nan
bạch Phật:
“Thế
Tôn vì các hành tuần tự tĩnh chỉ mà nói, là nghĩa thế
nào?”
Phật
bảo A-nan:
“Khi
nhập Sơ thiền, ngôn ngữ tĩnh chỉ. Nhập Nhị thiền thì
giác quán tĩnh chỉ. Nhập Tam thiền, tâm hỷ tĩnh chỉ. Nhập
Tứ thiền, hơi thở ra vào tĩnh chỉ. Nhập Không nhập xứ,
sắc tưởng tĩnh chỉ. Nhập Thức nhập xứ, tưởng không
nhập xứ tĩnh chỉ. Nhập Vô sở hữu nhập xứ, tưởng thức
nhập xứ tĩnh chỉ. Nhập Phi tưởng phi phi tưởng nhập xứ,
tưởng vô sở hữu nhập xứ tĩnh chỉ. Nhập Tưởng thọ
diệt, tưởng và thọ tĩnh chỉ. Đó gọi là các hành tuần
tự tĩnh chỉ.”
A-nan
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có phải đó gọi là các hành tuần tự tĩnh chỉ?”
Phật
bảo A-nan:
“Lại
có sự tĩnh chỉ thù thắng, tĩnh chỉ kỳ đặc, tĩnh chỉ
tối thượng, tĩnh chỉ vô thượng. Sự tĩnh chỉ như vậy,
đối với những sự tĩnh chỉ khác, không có gì hơn được.”
A-nan
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, những gì là tĩnh chỉ thù thắng, tĩnh chỉ kỳ
đặc, tĩnh chỉ tối thượng, tĩnh chỉ vô thượng. Sự tĩnh
chỉ như vậy, đối với những sự tĩnh chỉ khác, không có
gì hơn được?”
Phật
bảo A-nan: