TẠP
A-HÀM QUYỂN 14
KINH
343. PHÙ-DI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Tỳ-kheo Phù-di[2] ở tại núi Kỳ-xà-quật.
Lúc ấy có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo đến
chỗ Tôn giả Phù-di, cùng chào hỏi và chúc tụng nhau. Sau
khi chào hỏi và chúc tụng nhau, rồi ngồi qua một bên, nói
với Tôn giả Phù-di:
“Chúng
tôi có điều muốn hỏi, Tôn giả có rảnh thì giờ giải
đáp cho không?”
Tôn
giả Phù-di bảo các xuất gia ngoại đạo:
“Tùy
theo những gì các vị hỏi, tôi sẽ trả lời các vị.”
Lúc
ấy, chúng xuất gia ngoại đạo hỏi Tôn giả Phù-di:
“Khổ
lạc có phải là do tự tác không?”[3]
Tôn
giả Phù-di đáp:
“Này
các vị xuất gia ngoại đạo, nói ‘khổ lạc là do tự tác’;
điều này Đức Thế Tôn bảo, ‘Ta không khẳng định[4] ’.”
Lại
hỏi:
“Khổ
lạc có phải là do tha nhân tác không?”
Đáp:
“Khổ
lạc là do tha nhân tác; điều này Đức Thế Tôn bảo ‘Ta
không khẳng định’.”
Lại
hỏi:
“Khổ
lạc có phải là do vừa tự vừa tha nhân tác không?”
Đáp:
“Khổ
lạc là do vừa tự vừa tha nhân tác; những điều này Đức
Thế Tôn bảo ‘Ta không khẳng định’.”
Lại
hỏi:
“Khổ
lạc có phải là chẳng phải vừa tự vừa tha nhân tác, mà
vô nhân tạo không?”
Đáp:
“Khổ
lạc là chẳng vừa tự vừa tha nhân tác, mà vô nhân tạo,
những điều này Đức Thế Tôn bảo ‘Ta không khẳng định.’”
Chúng
xuất gia ngoại đạo lại hỏi:
“Thế
nào, Tôn giả Phù-di, khi chúng tôi hỏi có phải khổ lạc
là do tự tác; thì bảo là không khẳng định. Khi hỏi khổ
lạc có phải do tha nhân tác, thì bảo rằng không khẳng định.
Khi hỏi khổ lạc có phải là do vừa tự vừa tha nhân tác,
thì bảo rằng không khẳng định. Khi hỏi khổ lạc có phải
là chẳng vừa tự vừa tha nhân tác, mà vô nhân tạo, thì
bảo rằng không khẳng định. Vậy hiện tại Sa-môn Cù-đàm
nói khổ lạc được sanh ra như thế nào?”
Tôn
giả Phù-di đáp:
“Này
chúng xuất gia ngoại đạo, Đức Thế Tôn bảo khổ lạc được
sanh ra từ duyên khởi.”
Lúc
ấy chúng xuất gia ngoại đạo nghe những gì Tôn giả Phù-di
nói, tâm không hoan hỷ, chỉ trích, rồi bỏ ra đi.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất ở cách chỗ Tôn giả Phù-di không
xa, đang ngồi dưới bóng cây. Lúc ấy Tôn giả Phù-di biết
chúng xuất gia ngoại đạo đã đi rồi, mới đến chỗ Tôn
giả Xá-lợi-phất, hai vị cùng chào hỏi và chúc tụng nhau.
Sau khi chúc tụng rồi, Tôn giả đem những câu hỏi của chúng
xuất gia ngoại đạo trình lại đầy đủ cho Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Tôi
đã giải đáp như vậy, không mắc tội hủy báng Đức Thế
Tôn chăng? Nói như thuyết chăng? Nói như pháp chăng? Nói tùy
thuận pháp, hành pháp chăng? Không bị những người khác nhân
nơi luận pháp đến nạn vấn chỉ trích chăng?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói:
“Này
Tôn giả Phù-di, những điều thầy nói là đúng như lời Phật
dạy, không hủy báng Như Lai, nói như những gì Phật đã nói,
nói như pháp, pháp hành, pháp thuyết, không bị những người
khác nhân nơi luận nghĩa, mà đến cật vấn, quở trách. Vì
sao? Vì Đức Thế Tôn dạy khổ lạc được sanh ra từ duyên
khởi.
“Tôn
giả Phù-di, những gì các Sa-môn, Bà-la-môn kia hỏi về khổ
lạc là do tự tác, điều này cũng sanh ra từ duyên khởi.
Nếu bảo rằng chúng không sanh ra từ duyên khởi, điều này
không thể có được. Khổ lạc là do tha nhân tác, do tự tha
tác, cũng chẳng phải do tự chẳng phải do tha tác, hay bảo
là vô duyên tạo, chúng cũng đều sanh ra từ duyên khởi. Nếu
bảo không phải sanh ra từ duyên khởi, điều này không thể
có được.
“Tôn
giả Phù-di, những gì mà các Sa-môn, Bà-la-môn kia nói về
khổ lạc là do tự tác, chúng cũng duyên xúc mà sanh ra; nếu
bảo là chúng không sanh ra từ xúc, điều này không thể có
được. Khổ lạc là do tha tạo, là do tự tha nhân tác, do
tự tha tác, cũng chẳng phải do tự chẳng phải do tha tác,
vô nhân tác, chúng cũng duyên vào xúc mà sanh ra. Nếu bảo
không phải sanh ra từ xúc, điều này không thể có được.”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan đang ngồi dưới bóng cây cách Tôn giả
Xá-lợi-phất không xa, nghe Tôn giả Xá-lợi-phất cùng Tôn
giả Phù-di bàn luận những việc như vậy. Sau khi nghe, từ
chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, đem những lời
bàn luận giữa Tôn giả Xá-lợi-phất cùng Tôn giả Phù-di
bạch một cách đầy đủ lên Đức Thế Tôn.
Phật
bảo A-nan:
“Lành
thay! Lành thay! A-nan, Tôn giả Xá-lợi-phất có người đến
hỏi, đã có thể tùy thời mà đáp. Lành thay! Vì Xá-lợi-phất
là người có trí ứng phó kịp thời, nên có người đến
hỏi, liền có thể tùy thời mà giải đáp. Hàng Thanh văn
của Ta nếu gặp có người hỏi, thì cũng nên tùy thời mà
đáp như cách Xá-lợi-phất đã nói.
“Này
A-nan, trước đây khi Ta ở trong núi tại Tiên nhân trú xứ,
thành Vương xá, bấy giờ có chúng xuất gia ngoại đạo đã
đem ý vị như vậy, văn cú như vậy, nghĩa lý như vậy đến
hỏi Ta. Ta vì họ mà đem ý vị thế này, văn cú thế này,
nghĩa lý thế này nói cho họ, giống như những gì Tôn giả
Xá-lợi-phất đã nói.
“A-nan,
nếu các Sa-môn, Bà-la-môn cho rằng khổ lạc là do tự tác,
Ta liền đến hỏi họ: ‘Thật sự các vị có nói khổ lạc
là do tự tác không?’ Họ đáp: ‘Tôi nói như vậy’ Ta liền
nói với họ: ‘Các vị có thể chấp chặt lấy nghĩa này
cho đây là chân thật, còn những gì khác đều là ngu dối.
Ta không chấp nhận như vậy. Vì sao? Vì Ta nói sự sanh khởi
của khổ lạc khác hẳn với điều này.’ Nếu họ hỏi Ta:
‘Cù-đàm nói sự sanh khởi của khổ lạc là khác như thế
nào?’ Ta đáp: ‘Khổ lạc sanh ra từ duyên khởi.’ Cũng
vậy nếu họ nói: ‘Khổ lạc là do tha nhân tác, do tự tha
tác, chẳng phải do tự, chẳng phải do tha, vô nhân tạo, Ta
cũng đến chỗ họ nói như trên.’”
Tôn
giả A-nan bạch Phật:
“Như
nghĩa lý Thế Tôn vừa nói, con đã hiểu. Có sanh nên có già
chết, chẳng phải duyên nào khác mà có sanh nên có già chết.
Cho đến vì vô minh nên có hành, chẳng phải duyên nào khác
mà có vô minh nên có hành. Nếu vô minh diệt thì hành diệt,
cho đến sanh diệt thì già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não
cũng diệt; và thuần một khối khổ lớn diệt.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
344. CÂU-HI-LA[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la
đang ở tại núi Kỳ-xà-quật. Buổi chiều, sau khi từ thiền
tịnh tỉnh giấc, Tôn giả Câu-hi-la đi đến chỗ Tôn giả
Xá-lợi-phất, cùng nhau chào hỏi. Sau khi chào hỏi, ngồi lui
qua một bên, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Tôi
có điều muốn hỏi. Tôn giả có rảnh để giải đáp cho
không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:
“Nhân
giả cứ hỏi. Nếu biết tôi sẽ trả lời.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Đa
văn Thánh đệ tử, ở trong pháp luật này, thành tựu pháp
nào để gọi là có đầy đủ chánh kiến[6], thành tựu được
trực kiến; thành tựu bất hoại tín đối với Phật[7], thâm
nhập Chánh pháp, đạt được Chánh pháp này, tỏ ngộ Chánh
pháp này?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:
“Đa
văn Thánh đệ tử biết như thật đối với pháp bất thiện,
biết như thật bất thiện căn, biết như thật thiện pháp,
biết như thật thiện căn.
“Thế
nào là biết như thật pháp bất thiện? Các nghiệp chẳng
lành của thân, miệng, ý; đó gọi là pháp bất thiện. Biết
như thật pháp bất thiện là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật bất thiện căn? Ba căn chẳng lành,
tham là gốc (căn) chẳng lành, sân là gốc chẳng lành, si là
gốc chẳng lành; đó gọi là bất thiện căn. Biết như thật
bất thiện căn là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về thiện pháp? Các nghiệp lành của
thân, miệng, ý; đó gọi là thiện pháp. Biết như thật về
thiện pháp là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về thiện căn? Ba căn lành không tham,
không sân, không si; đó gọi là ba thiêïn căn. Biết như thật
về thiện căn là như vậy.
“Này
Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, như vậy, đa văn Thánh đệ tử biết
như thật pháp bất thiện, biết như thật pháp thiện, biết
như thật căn bất thiện, biết như thật về thiện pháp,
biết như thật về thiện căn; cho nên ở trong pháp luật này,
có đầy đủ chánh kiến, thành tựu trực kiến; thành tựu
bất hoại tín đối với Phật, thâm nhập Chánh pháp, đạt
được Chánh pháp này, tỏ ngộ Chánh pháp này.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thật
chỉ có những pháp này, hay ngoài ra còn có pháp nào khác?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Có.
Đa văn Thánh đệ tử biết như thật về thức ăn, biết như
thật về sự tập khởi của thức ăn, về sự diệt tận
của thức ăn, về con đường đưa đến sự diệt tận của
thức ăn.
“Thế
nào là biết như thật về thức ăn? Có bốn loại thức ăn;
đó là: Một là thức ăn nắm thô, hai là thức ăn tế xúc,
ba là thức ăn bởi ý tư và bốn là thức ăn của thức[8];
đó gọi là thức ăn. Biết như thật về thực là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của thức ăn? Khát
ái đối với hữu tương lai, đi đôi với hỷ tham, tham đắm
hệ lụy nơi này nơi kia[9]; đó gọi là sự tập khởi của
thức ăn. Biết như thật về sự tập khởi của thực là
như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự diệt tận của thức ăn? Khát
ái đối với hữu tương lai, đi đôi với hỷ tham, tham đắm
hệ lụy nơi này nơi kia, thảy đều dứt bỏ không còn sót,
xả bỏ, nhả ra, đoạn tận, ly dục, diệt, tịch tĩnh; đó
gọi là sự diệt tận của thức ăn. Biết như thật về sự
diệt tận của thức ăn là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của thức ăn? Tám Thánh đạo: Chánh kiến, chánh chí,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh, chánh phương tiện, chánh
niệm, chánh định; đó gọi là con đường đưa đến sự
diệt tận của thức ăn. Biết như thật về con đường đưa
đến sự diệt tận của thức ăn là như vậy.
“Đa
văn Thánh đệ tử như vậy là biết như thật về thức ăn,
biết như thật về sự tập khởi của thức ăn, biết như
thật về sự diệt tận của thức ăn, biết như thật về
con đường đưa đến sự diệt tận của thức ăn; cho nên
đa văn Thánh đệ tử ở trong pháp luật này, có đầy đủ
chánh kiến, thành tựu trực kiến; thành tựu bất hoại tín
đối với Phật, thâm nhập Chánh pháp, đạt được Chánh
pháp này, tỏ ngộ Chánh pháp này.”
Bấy
giờ Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thật
chỉ có những pháp này, hay còn có những pháp nào khác?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:
“Lại
còn có những pháp khác. Đa văn Thánh đệ tử biết như thật
về lậu[10], biết như thật về sự tập khởi của lậu,
biết như thật về sự diệt tận của lậu, biết như thật
về con đường đưa đến sự diệt tận của lậu.
“Thế
nào là biết như thật về lậu? Có ba thứ lậu: dục lậu,
hữu lậu, vô minh lậu[11], đó gọi là lậu. Phải biết như
thật về sự hiện hữu của lậu là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của lậu? Vô minh
tập khởi là lậu tập khởi. Biết như thật về sự tập
khởi của lậu là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự diệt tận của lậu? Vô minh
diệt là lậu diệt. Biết như thật về sự diệt tận của
lậu là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của lậu? Tám Thánh đạo (nói như trên). Biết như thật
về con đường đưa đến sự diệt tận của lậu là như
vậy.
“Đa
văn Thánh đệ tử như vậy là biết như thật về lậu, biết
như thật về sự tập khởi của lậu, biết như thật về
sự diệt tận của lậu, biết như thật về con đường đưa
đến sự diệt tận của lậu; cho nên đa văn Thánh đệ tử
ở trong pháp luật này, có đầy đủ chánh kiến, thành tựu
trực kiến; thành tựu bất hoại tín đối với Phật, thâm
nhập Chánh pháp, đạt được Chánh pháp này, tỏ ngộ Chánh
pháp này.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thật
chỉ có những pháp này, hay còn có những pháp nào khác?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:
“Cũng
có những pháp khác nữa. Đa văn Thánh đệ tử biết như thật
về khổ, biết như thật về sự tập khởi của khổ, biết
như thật về sự diệt tận của khổ, biết như thật về
con đường đưa đến sự diệt tận của khổ.
“Thế
nào là biết như thật về khổ? Sanh khổ, già khổ, bệnh
khổ, chết khổ, ái xa lìa là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ,
mong muốn không được là khổ. Như vậy, nói tóm, năm thọ
ấm là khổ; đó gọi là khổ. Biết như thật về khổ là
như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của khổ? Khát ái
đối với hữu tương lai, đi đôi với hỷ tham, tham đắm
hệ lụy nơi này nơi kia; đó gọi là sự tập khởi của khổ.
Biết như thật về sự tập khởi của khổ là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự diệt tận của khổ? Khát ái
đối với hữu tương lai, đi đôi với hỷ tham, tham đắm
hệ lụy nơi này nơi kia, thảy đều đoạn trừ, không còn
sót, cho đến, tịch tĩnh; đó gọi là sự diệt tận của
khổ. Biết như thật về sự diệt tận của khổ là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của khổ? Tám Thánh đạo như đã nói ở trên. Đó gọi
là con đường đưa đến sự diệt tận của khổ. Biết như
thật về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ là
như vậy.
“Đa
văn Thánh đệ tử như vậy là biết như thật về khổ, biết
như thật về sự tập khởi của khổ, biết như thật về
sự diệt tận của khổ, biết như thật về con đường đưa
đến sự diệt tận của khổ. Như vậy Thánh đệ tử ở
trong pháp luật này[12], có đầy đủ chánh kiến, thành tựu
trực kiến; thành tựu bất hoại tín đối với Phật, thâm
nhập Chánh pháp, đạt được Chánh pháp này, tỏ ngộ Chánh
pháp này.”
Lại
hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thật
chỉ có pháp này, còn có pháp nào khác nữa không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Còn
có pháp khác. Đa văn Thánh đệ tử biết như thật về già
chết, biết như thật về sự tập khởi của già chết, biết
như thật về sự diệt tận của già chết, biết như thật
về con đường đưa đến sự diệt tận của già chết. Như
kinh Phân biệt đã nói ở trước.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của già chết? Sanh
tập khởi thì già chết tập khởi, sanh diệt tận thì già
chết diệt tận… Con đường đưa đến sự diệt tận của
già chết là gồm tám Thánh đạo như trước đã nói. Đa văn
Thánh đệ tử biết như thật đối với già chết này… cho
đến, biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của già chết. Như vậy Thánh đệ tử ở trong pháp luật
này[13], có đầy đủ chánh kiến, thành tựu trực kiến; thành
tựu bất hoại tín đối với Phật, thâm nhập Chánh pháp,
đạt được Chánh pháp này, tỏ ngộ Chánh pháp này.”
“Cũng
vậy, đối với sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, lục nhập
xứ, danh sắc, thức, hành. Thánh đệ tử biết như thật về
hành, sự tập khởi của hành, sự diệt tận của hành, con
đường đưa đến sự diệt tận của hành.
“Thế
nào là biết như thật về hành? Hành có ba thứ: thân hành,
khẩu hành và ý hành. Biết như thật về sự hiện hữu của
hành là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự tập khởi của hành? Vô minh
tập khởi thì hành tập khởi. Biết như thật về sự tập
khởi của hành là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về sự diệt tận của hành? Vô minh
diệt tận thì hành diệt tận. Biết như thật về sự diệt
tận của hành là như vậy.
“Thế
nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt
tận của hành? Là tám Thánh đạo như trước đã nói.
“Này
Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, đó gọi là Thánh đệ tử biết như
thật về hành, biết như thật về sự tập khởi của hành,
biết như thật về sự diệt tận của hành, biết như thật
về con đường đưa đến sự diệt tận của hành; trong pháp
luật này[14], có đầy đủ chánh kiến, thành tựu trực kiến;
thành tựu bất hoại tín đối với Phật, thâm nhập Chánh
pháp, đạt được Chánh pháp này, tỏ ngộ Chánh pháp này.”
Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Chỉ
có những pháp này, hay còn có pháp nào khác không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất đáp:
“Tôn
giả Ma-ha Câu-hi-la, thầy đuổi theo cái gì vậy, rốt cuộc
rồi Thầy cũng không thể đến chỗ tột cùng của các luận
thuyết, đạt đến biên tế của chúng được! Nếu Thánh
đệ tử đã đoạn trừ vô minh và phát sanh minh trí, thì đâu
cần tìm cầu gì nữa!”
Sau
khi đàm đạo xong, hai vị Chánh sĩ mỗi người trở về trú
xứ của mình.
*
KINH
345. TẬP SANH[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Như
những gì Ta đã nói về những câu hỏi của A-dật-đa trong
Ba-la-diên-da[16] bằng bài kệ:
Người
đã thông pháp số[17],
Người
thành các môn học[18],
Oai
nghi, hạnh đầy đủ,
Vì
con phân biệt nói.
“Này
Xá-lợi-phất, học những gì? Những gì là pháp số[19]?”
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng, không đáp; lần thứ
hai, lần thứ ba cũng im lặng.
Phật
bảo:
“Xá-lợi-phất,
thực thể[20]!”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Thế
Tôn, thực thể! Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo đối với thực thể[21]
mà nhàm tởm, ly dục, hướng đến diệt tận. Nó sanh khởi
do tập khởi của thức ăn. Tỳ-kheo đối với thức ăn mà
sanh nhàm tởm, ly dục, hướng đến diệt tận; đó gọi là
thực thể diệt tận. Vị ấy, thức ăn diệt nên thực thể
diệt, đã giác tri rồi, Tỳ-kheo này nhàm tởm, ly dục, hướng
đến diệt tận. Đó gọi là học.
“Lại
nữa, Xá-lợi-phất, thực thể!”
Tôn
giả Xá-lợi-phất bạch Phật:
“Thế
Tôn, thực thể! Bạch Thế Tôn, nếu Tỳ-kheo đối với thực
thể mà nhàm tởm, ly dục, diệt tận, chẳng khởi lên các
lậu, tâm khéo giải thoát. Nó sanh khởi do tập khởi của
thức ăn. Vị ấy, thức ăn diệt nên thực thể diệt, đã
giác tri rồi, Tỳ-kheo này nhàm tởm, ly dục, diệt tận, chẳng
khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát. Đó gọi là pháp
số.”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Đúng
thế, đúng thế! Như Xá-lợi-phất nói, Tỳ-kheo đối với
thực thể mà sanh ra nhàm tởm, ly dục, diệt tận, thì đây
gọi là pháp số.”
Nói
như vậy rồi, Thế Tôn đứng lên đi vào thất tọa thiền.
Tôn giả Xá-lợi-phất biết Đức Thế Tôn đã đi, sau đó
không lâu nói với các Tỳ-kheo:
“Chư
vị, vì tôi không thể hiểu rõ câu hỏi đầu tiên của Đức
Thế Tôn nên tôi im lặng. Sau một hồi, Đức Thế Tôn lại
vì tôi hoan hỷ hỏi lại, tôi liền giải thích được nghĩa
của nó như vậy. Giả sử Đức Thế Tôn trong một ngày một
đêm hay cho đến bảy ngày đêm lại hỏi nghĩa này với những
văn cú khác, ý vị khác thì tôi cũng có thể giải thích,
nói rộng nghĩa này với những văn cú khác, ý vị khác suốt
bảy ngày đêm.”
Bây
giờ, có một số Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi lui đứng qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói những điều kỳ
đặc chưa từng có. Ở trong đại chúng đã nói lên tiếng
rống con sư tử: ‘Đối với câu hỏi đầu tiên của Đức
Thế Tôn, tôi đã không thể trả lời, vì không thể hiểu
rõ, nên cho đến ba lần Ngài hỏi tôi đều im lặng, không
đáp được. Sau đó Đức Thế Tôn lại đã vì tôi hoan hỷ
hỏi lại, tôi liền giải thích được. Giả sử Đức Thế
Tôn trong một ngày một đêm, hay cho đến suốt bảy ngày đêm,
lại hỏi nghĩa lý của nó với những văn cú khác, ý vị
khác, thì tôi có thể giải thích với văn cú khác, ý vị
khác suốt bảy ngày đêm.’”
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Quả
thật, nếu Ta một ngày một đêm, cho đến bảy ngày đêm,
lại hỏi nghĩa lý của nó với những văn cú khác, ý vị
khác, thì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất, trong ý nghĩa những điều
được hỏi, cũng có thể giải thích với câu khác, ý vị
khác cho đến bảy ngày đêm. Vì sao? Vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất
khéo nhập vào pháp giới.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
346. TAM PHÁP[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
ba pháp mà thế gian không yêu thích, không nhớ nghĩ, không
vừa ý. Những gì là ba? Đó là già, bệnh, chết. Thế gian
nếu không có ba pháp không đáng yêu thích, không đáng nhớ
nghĩ, không vừa ý này thì Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh
Giác không xuất hiện ở thế gian; thế gian cũng không biết
có Chánh pháp luật được tri kiến và được tuyên thuyết
bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Vì thế gian có ba
pháp già, bệnh, chết, không đáng yêu thích, không đáng nhớ
nghĩ và không vừa ý này, cho nên Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác mới xuất hiện ở thế gian; thế gian biết có
Chánh pháp luật được tri kiến và được tuyên thuyết bởi
Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.
“Vì
ba pháp chưa đoạn nên không thể thoát khỏi già, bệnh, chết.
Ba pháp đó là tham, nhuế, si.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa tham, nhuế, si.
Ba pháp đó là thân kiến, giới thủ, nghi.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được thân kiến,
giới thủ, nghi. Ba pháp đó là không chánh tư duy, thân cận
tà đạo và tâm biếng nhác.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không chánh
tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác. Ba pháp đó là
thất niệm[23], không chánh tri, loạn tâm.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa thất niệm, không
chánh tri, loạn tâm. Ba pháp đó là dao động[24], không luật
nghi, chẳng học giới.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa dao động, không
luật nghi, chẳng học giới. Ba pháp đó là không tin, khó dạy,
lười biếng.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa không tin, khó
dạy, lười biếng. Ba pháp đó là không muốn thấy bậc Thánh,
chẳng muốn nghe pháp, thường hay tìm điều dở của người.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể xa lìa không muốn
thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, ưa tìm cầu điều dở
của người. Ba pháp đó là không cung kính, nói năng ngang trái,
quen theo bạn xấu.
“Lại
vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không cung
kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu. Ba pháp đó là
không tàm, không quý, buông lung. Vì ba pháp này không đoạn
trừ nên không thể lìa được không cung kính, nói năng ngang
trái, quen bạn xấu. Vì sao? Vì do không tàm, không quí nên
buông lung; vì buông lung nên không cung kính; vì không cung kính
nên quen theo bạn xấu; vì quen theo bạn xấu nên không muốn
thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, hay ưa tìm điều dở
của người; vì ưa tìm điều dở của người nên không tin,
khó dạy, nói năng ngang trái, lười biếng; vì lười biếng
nên dao động, không luật nghi, không học giới; vì không học
giới nên thất niệm, không chánh tri, loạn tâm; vì loạn tâm
nên không chánh tư duy, thân cận tà đạo, tâm biếng nhác;
vì tâm biếng nhác nên thân kiến, giới thủ, nghi; vì nghi
nên không lìa tham, nhuế, si; vì không lìa tham, nhuế, si nên
không thể lìa được già, bệnh, chết.
“Nếu
dứt được ba pháp này thì mới có thể lìa được già, bệnh,
chết. Ba pháp đó là tham, nhuế, si. Ba pháp này dứt rồi mới
có thể lìa già, bệnh, chết.
“Lại
vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tham, nhuế, si. Ba pháp
đó là thân kiến, giới thủ, nghi. Vì dứt được ba pháp
này nên có thể lìa được tham, sân, si.
“Lại
vì dứt ba pháp nên có thể lìa thân kiến, giới thủ, nghi.
Ba pháp đó là không chánh tư duy, thân cận tà đạo, khởi
tâm biếng nhác. Vì dứt ba pháp này nên lìa thân kiến, giới
thủ, nghi.
“Lại
vì dứt ba pháp nên có lìa không chánh tư duy, thân cận tà
đạo và tâm biếng nhác. Ba pháp đó là thất niệm, không
chánh tri, loạn tâm. Vì dứt ba pháp này nên lìa được không
chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác.
“Lại
vì dứt được ba pháp này nên lìa được thất niệm, tâm
không chánh tri, loạn tâm. Ba pháp đó là dao động, không luật
nghi, phạm giới. Vì dứt ba pháp này nên lìa được thất
niệm, tâm không chánh tri, loạn tâm.
“Lại
vì dứt ba pháp nên lìa được dao động, chẳng luật nghi,
phạm giới. Ba pháp đó là không tin, khó dạy, biếng nhác.
Vì dứt được ba pháp này nên lìa được dao động, không
luật nghi, phạm giới.
“Lại
vì dứt được ba pháp nên lìa được chẳng tin, khó dạy,
biếng nhác. Ba pháp đó là không muốn thấy bậc Thánh, không
ưa nghe pháp, ưa tìm điều dở của người. Vì dứt ba pháp
này nên có thể lìa được không tin, khó dạy, biếng nhác.
“Lại
vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tâm không muốn thấy
bậc Thánh, không ưa nghe pháp, ưa tìm điều dở của người.
Ba pháp đó là không cung kính, nói năng ngang trái, quen theo
bạn xấu. Vì dứt được ba pháp này nên lìa sự không muốn
thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, ưa tìm điều dở của
người.
“Lại
vì dứt ba pháp nên có thể lìa chẳng cung kính, nói năng ngang
ngược, tập theo bạn xấu. Ba pháp đó là không tàm, không
quí, buông lung. Vì sao? Vì do tàm quí nên không buông lung. Vì
không buông lung nên tâm cung kính, nói năng hòa nhã, làm thiện
tri thức. Vì là thiện tri thức nên ưa thấy Hiền thánh, ưa
nghe Chánh pháp, chẳng tìm điều dở của người. Vì chẳng
ưa tìm điều dở của người nên sanh lòng tin, nói năng hòa
nhã và tinh tấn. Vì tinh tấn nên không dao động, an trú trong
luật nghi, học giới. Nhờ học giới nên không thất niệm,
an trú chánh tri, chẳng loạn tâm. Nhờ không loạn tâm nên
chánh tư duy, gần gũi chánh đạo, tâm không biếng nhác. Nhờ
tâm không biếng nhác nên không chấp trước thân kiến, không
chấp trước giới thủ, vượt khỏi nghi hoặc. Nhờ chẳng
nghi nên chẳng khởi tham, nhuế, si. Nhờ lìa tham, nhuế, si
nên có thể dứt già, bệnh, chết.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
347. TU-THÂM[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ có các quốc vương, đại thần, gia chủ, Bà-la-môn,
cư sĩ và những người khác ở thế gian, cung kính tôn trọng,
cúng dường; Phật và chúng Thanh văn được nhiều lợi dưỡng:
y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men. Còn đối với các
ngoại đạo tà giáo, họ hoàn toàn chẳng cung kính, tôn trọng,
cúng dường các thứ y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men.
Bấy
giờ, các ngoại đạo tụ tập tại giảng đường Vị tằng,
bàn luận như vầy: ‘Chúng ta từ trước đến nay, thường
được nhà vua, đại thần, gia chủ, cư sĩ và tất cả những
người khác phụng sự, cung kính, cúng dường, y phục, ẩm
thực, ngọa cụ, thuốc men mà ngày nay lại bị dứt tuyệt.
Họ chỉ cung kính, cúng dường Sa-môn Cù-đàm và đại chúng
Thanh văn. Nay trong chúng này, ai là người có trí tuệ, là
bậc đại sĩ, có thể lén đến trong chúng Sa-môn Cù-đàm,
xuất gia, nghe pháp Sa-môn Cù-đàm, rồi trở về nói lại đầy
đủ. Chúng ta sẽ dùng pháp được nghe đó để giáo hóa quốc
vương, đại thần, gia chủ, cư sĩ khiến cho họ tin ưa, có
thể họ sẽ trở lại cúng dường chúng ta như trước?’
Lúc ấy có người lên tiếng:
“Có
một thiếu niên tên là Tu-thâm[26], thông minh, có trí tuệ,
có thể lén vào trong chúng Sa-môn Cù-đàm xuất gia, nghe pháp
Cù-đàm xong rồi trở về trình bày lại.”
Bấy
giờ, các ngoại đạo đi đến chỗ Tu-thâm bảo rằng:
“Hôm
nay chúng tôi tập hợp đại chúng tại giảng đường Vị
tằng bàn luận như vầy: ‘Từ trước đến nay chúng ta được
nhà vua, đại thần, gia chủ, cư sĩ và những người khác
cung kính, phụng sự, cúng dường, y phục, ẩm thực, ngọa
cụ, thuốc men, nhưng ngày nay bỗng bị dứt tuyệt. Nhà vua,
đại thần, gia chủ, cư sĩ và mọi người đều đua nhau phụng
sự Cù-đàm và đại chúng Thanh văn. Trong đại chúng này ai
là người thông minh, trí tuệ có thể lén đến trong chúng
Sa-môn Cù-đàm xuất gia, học đạo, nghe pháp Sa-môn Cù-đàm
rồi trở về nói lại và đem ra giáo hóa quốc vương, các
đại thần, gia chủ, cư sĩ để chúng của ta trở lại được
cung kính, tôn trọng cúng dường?’ Trong chúng có người nói
rằng: ‘Chỉ có Tu-thâm thông minh trí tuệ, có thể lén đến
trong pháp của Cù-đàm xuất gia học đạo, nghe Cù-đàm thuyết
pháp chắc chắn có thể lãnh hội được để trở về nói
lại.’ Cho nên chúng tôi cùng nhau đến đây mời Nhân giả
nên nhận lời đi.”
Bấy
giờ, Tu-thâm im lặng nhận lời, đi đến trong vườn Trúc,
khu Ca-lan-đà tại thành Vương xá. Lúc ấy có nhiều Tỳ-kheo
ra khỏi phòng, đi kinh hành ngoài đất trống. Tu-thâm liền
đi đến chỗ các Tỳ-kheo bạch rằng:
“Bạch
các Tôn giả, nay con có thể được ở trong Chánh pháp xuất
gia, thọ giới Cụ túc, tu phạm hạnh không?”
Bấy
giờ các Tỳ-kheo đưa Tu-thâm đi đến chỗ Đức Thế Tôn,
thành kính đảnh lễ dưới chân Phật, rồi lui ngồi một
bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay ngoại đạo Tu-thâm muốn cầu xin được
ở trong Chánh pháp xuất gia, thọ giới Cụ túc, tu phạm hạnh.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn biết rõ tâm niệm của Tu-thâm, nên bảo
các Tỳ-kheo:
“Các
ông nên độ cho ngoại đạo Tu-thâm này được xuất gia.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo giúp cho Tu-thâm xuất gia, trải qua được
nửa tháng. Một hôm có vị Tỳ-kheo nói với Tu-thâm[27]:
“Tu-thâm
nên biết, chúng tôi đã chấm dứt sanh tử, phạm hạnh đã
lập, việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh
đời sau nữa.”
Tu-thâm
bạch Tỳ-kheo:
“Bạch
Tôn giả, thế nào, có phải học ly dục, ly pháp ác bất thiện,
có giác, có quán, có hỷ lạc phát sanh do viễn ly, thành tựu
Sơ thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Không
phải vậy, Tu-thâm!”
Lại
hỏi:
“Thế
nào, có phải lìa có giác, lìa có quán, nội tịnh nhất tâm,
không giác, không quán, có hỷ lạc do định sanh, thành tựu
Nhị thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Không
phải vậy, Tu-thâm!”
Lại
hỏi:
“Thế
nào, có phải lìa hỷ, an trụ tâm xả, có chánh niệm, chánh
tri, thân tâm thọ lạc, điều mà Thánh nói đến là xả[28],
thành tựu Tam thiền, là không khởi lên các lậu, tâm khéo
giải thoát?”
Đáp:
“Không
phải vậy, Tu-thâm!”
Lại
hỏi:
“Bạch
Tôn giả, thế nào, có phải là lìa khổ dứt lạc, đoạn
trừ ưu, hỷ từ trước, không khổ, không lạc, xả tịnh,
niệm nhất tâm[29], thành tựu đệ Tứ thiền, là không khởi
lên các lậu, tâm khéo giải thoát?”
Đáp:
“Không
phải vậy, Tu-thâm!”
Lại
hỏi:
“Chứng
tịch tĩnh giải thoát[30], vượt sắc, vô sắc, tự thân tác
chứng và thành tựu, phải chăng là không còn khởi lên các
lậu, tâm khéo giải thoát chăng?”
Đáp:
“Không
phải vậy, Tu-thâm!”
Lại
hỏi:
“Thế
nào, bạch Tôn giả, lời nói của Tôn giả chẳng đồng nhất,
trước sau mâu thuẫn. Tại sao không đắc thiền định nhưng
lại tuyên bố như vậy[31]?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Tôi
được tuệ giải thoát[32].”
Khi
nói vậy rồi, các Tỳ-kheo đều từ chỗ ngồi đứng dậy
mà đi. Sau khi các Tỳ-kheo đi rồi, Tu-thâm suy nghĩ: ‘Những
gì các Tôn giả này nói không đồng nhất, trước sau mâu
thuẫn, đã nói không chứng đắc chánh thọ[33], mà lại tuyên
bố là tự thân tác chứng.’ Suy nghĩ xong, đi đến chỗ Phật,
cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi lui ngồi qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, các Tỳ-kheo kia ở trước mặt con đã tuyên bố:
‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần
làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’
Con liền hỏi Tôn giả kia: ‘Có phải được ly dục và pháp
ác bất thiện… cho đến tự tri tự tác chứng, thì không
còn khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát chăng?’ Vị ấy
trả lời con: ‘Không phải vậy, Tu-thâm.’ Con liền hỏi:
‘Những gì Tôn giả nói là bất đồng, trước sau mâu thuẫn,
đã nói không nhập chánh thọ mà lại tuyên bố là tự tri
tự tác chứng?’ Vị ấy đáp với con rằng: ‘Tôi được
tuệ giải thoát.’ Nói như vậy xong, mỗi người đều từ
chỗ ngồi đứng dậy mà đi. Hôm nay, con xin hỏi Thế Tôn,
vì sao những lời nói của họ không đồng nhất, trước sau
mâu thuẫn, không đắc chánh định mà lại nói tự biết tác
chứng?”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Trước
hết họ biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn[34]. Các
thiện nam ấy một mình ở nơi thanh vắng, chuyên cần tinh
tấn tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến, không khởi
lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Nay
con không hiểu, trước hết phải biết pháp trụ, sau đến
biết Niết-bàn. Các thiện nam tử kia, một mình ở nơi thanh
vắng, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung, xa
lìa ngã kiến, không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Không
luận là ngươi biết hay không biết, mà trước hết phải
tự biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn, như các thiện
nam tử kia một mình ở nơi thanh vắng, chuyên cần tinh tấn
tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến, tâm khéo giải
thoát đã.”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Xin
Đức Thế Tôn vì con mà nói pháp khiến cho con biết được
trí pháp trụ, thấy được trí pháp trụ.”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Nay
Ta hỏi ngươi, tùy ý mà đáp cho Ta. Tu-thâm nghĩ thế nào?
Có phải vì có sanh nên có già, chết; không phải lìa sanh
mà có già, chết chăng?”
Tu-thâm
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy. Vì có sanh nên có già, chết; không thể
lìa sanh mà có già, chết được.”
Phật
bảo:
“Đối
với sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, lục nhập xứ, danh sắc,
thức, hành, vô minh cũng vậy. Có phải vì có vô minh nên có
hành; không phải lìa vô minh mà có hành chăng?”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy. Vì có vô minh nên có hành; không thể
lìa vô minh mà có hành được.”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Có
phải vì không sanh nên không có già, chết; không thể lìa
cái diệt của sanh, mà già, chết diệt chăng?”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy. Vì không sanh nên không già chết và không
thể lìa cái diệt của sanh mà già chết diệt được.”
“Như
vậy cho đến không có vô minh, nên không có hành và không
thể lìa cái diệt của vô minh mà hành diệt chăng?”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy. Vì không có vô minh nên không có hành
và không thể lìa cái diệt của vô minh mà hành diệt được.”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Người
biết như vậy, thấy như vậy, có phải là ly dục và pháp
ác bất thiện, cho đến tự thân tác chứng an trụ đầy đủ
chăng?”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, không phải vậy.”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Đó
gọi là trước hết biết pháp trụ, sau đến biết Niết-bàn,
mà các thiện nam tử kia, một mình ở nơi thanh vắng, chuyên
cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung, xa lìa ngã kiến,
không khởi lên các lậu, tâm khéo giải thoát.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả Tu-thâm xa lìa trần cấu, được
mắt pháp thanh tịnh.
Bấy
giờ, Tu-thâm thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ pháp, thoát khỏi
nghi, được niềm tin không do ai khác, được độ không do
người khác, ở trong Chánh pháp tâm được vô sở úy, cúi
đầu lễ dưới chân Phật và bạch:
“Bạch
Thế Tôn, nay con xin sám hối. Con đã ở trong Chánh pháp trộm
lén xuất gia, cho nên con xin sám hối.”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Thế
nào là ở trong Chánh pháp trộm lén xuất gia?”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có nhiều người ngoại đạo đến chỗ con nói với
con: ‘Tu-thâm nên biết, chúng ta trước đây được quốc
vương, đại thần, gia chủ, cư sĩ và người thế gian đều
cung kính, cúng dường, mà nay bị đoạn tuyệt. Bởi vì họ
đều cúng dường Sa-môn Cù-đàm và đại chúng Thanh văn. Ngày
nay ông hãy lén đến trong chúng Thanh văn của Sa-môn Cù-đàm
xuất gia, thọ giới pháp; khi đã thông đạt pháp của họ
rồi, trở về nói cho chúng tôi nghe và đem giáo pháp đã nghe
đó giáo hóa thế gian khiến họ trở lại cung kính, cúng dường
như trước.’ Bạch Thế Tôn vì vậy nên con đã ở trong Chánh
pháp luật trộm lén xuất gia, hôm nay con xin sám hối. Xin Thế
Tôn thương xót cho phép con được sám hối.”
Vì
lòng từ bi nên Phật bảo Tu-thâm:
“Ta
nhận sự sám hối của ngươi. Ngươi nên nói đầy đủ: ‘Ngày
xưa vì con ngu si, bất thiện, vô trí nên ở trong Chánh pháp
luật trộm lén xuất gia. Ngày nay ăn năn lỗi lầm, tự thấy
tội, tự biết tội, trong đời sau sẽ thành tựu luật nghi,
công đức tăng trưởng, cuối cùng không thoái giảm.’ Vì
sao? Vì người có tội tự thấy, tự biết và ăn năn lỗi
lầm nên ở đời sau luật nghi sẽ thành tựu, công đức tăng
trưởng, cuối cùng không thoái giảm.”
Phật
lại bảo Tu-thâm:
“Hôm
nay Ta sẽ nói thí dụ, người trí tuệ nhờ thí dụ sẽ được
hiểu. Ví như nhà vua có người tuần canh, bắt được giặc
cướp trói lại, đưa đến chỗ nhà vua tâu rằng: ‘Bạch
Đại vương, người này là trộm cướp, xin Đại vương xử
tội.’ Vua ra lệnh: ‘Đem tội nhân đi, trói ngược hai tay
và hãy công bố tiếng xấu khắp nước; sau đó đem tội nhân
đến chỗ hành phạt ở ngoài kinh thành, dùng trăm mũi giáo
đâm khắp thân thể tội nhân.’ Người đứng ra hành hình
theo lệnh vua, bắt tội nhân này trói ngược hai tay, loan tin
xấu khắp thành ấp; sau đó đem tội nhân đến chỗ thọ
hình ở ngoài thành và dùng trăm mũi giáo nhọn đâm khắp
thân thể tội nhân. Đến trưa vua hỏi: ‘Tội nhân còn sống
không?’ Các quan đáp: ‘Còn sống.’ Vua lại ra lệnh các
quan đâm thêm một trăm mũi giáo nữa; đến chiều lại đâm
thêm trăm mũi giáo nữa, mà người kia vẫn không chết.”
Phật
hỏi Tu-thâm:
“Nhà
vua trị tội dùng ba trăm mũi giáo đâm vào thân người tội
này, vậy có còn chỗ nào toàn vẹn bằng lòng bàn tay chăng?”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Lại
hỏi Tu-thâm:
“Khi
tội nhân này vì nhân duyên bị ba trăm mũi giáo đâm vào thân,
người ấy phải chịu khổ cùng cực phải không?”
Tu-thâm
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, khổ tột cùng! Nếu bị một mũi giáo đâm vào cũng
đã là đau đớn, không chịu nổi, huống chi là ba trăm mũi
giáo mà có thể cam chịu được sao!”
Phật
bảo Tu-thâm:
“Việc
này còn có thể chịu đựng được, nhưng nếu như ở nơi
Chánh pháp luật mà có kẻ trộm lén xuất gia, trộm thọ trì
giới pháp rồi đem nói lại cho người, sẽ phải chịu thống
khổ gấp bội hơn cả người kia.”
Trong
lúc Phật nói pháp ấy rồi, ngoại đạo Tu-thâm nghe lời Phật
dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
348. THẬP LỰC[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như
Lai thành tựu mười lực, được bốn vô úy, biết trú xứ
của Phật trước kia[36], thường chuyển Phạm luân[37], ở
trong đại chúng phát lên tiếng gầm sư tử: ‘Cái này có
nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi, có nghĩa là
duyên vô minh nên có hành. Nói đầy đủ cho đến tập khởi
thuần một khối khổ lớn và thuần một khối khổ lớn bị
diệt.’ Này các Tỳ-kheo, đây là giáo pháp chân thật được
hiển hiện, cắt đứt dòng sanh tử; cho đến[38], người ấy
tất khéo hiển hiện. Giáo pháp chân thật được hiển hiện,
cắt đứt dòng sanh tử như vậy, đủ khiến cho người thiện
nam phát lòng tin, chân chánh xuất gia, phương tiện tu tập,
sống không buông lung. Ở trong Chánh pháp luật, tinh tấn chuyên
cần khổ hạnh, dù da bọc xương, máu thịt khô kiệt, nếu
chưa đạt được điều cần phải đạt, thì không xả bỏ
phương tiện ân cần tinh tấn, cứng rắn chịu đựng. Vì
sao? Vì biếng nhác thì an trụ với khổ, hay sanh ra các ác
pháp bất thiện, nên kết sử hữu tương lai[39] bừng bừng,
làm tăng trưởng sự sanh, già, bệnh, chết, ở trong đời
sau; nghĩa lớn bị thoái giảm[40]. Người tinh tấn vui đời
sống cô độc, không sanh các ác pháp bất thiện đưa đến
kết sử hữu tương lai, quả báo khổ bừøng bừng; không
làm tăng trưởng sự sanh, già, bệnh, chết, ở trong đời
sau; đây đủ nghĩa lớn, đạt thành trường giáo pháp bậc
nhất[41]. Đó là những người ở trước Đại sư, tự thân
được nghe nói pháp, tịch diệt, Niết-bàn, chánh hướng Bồ-đề,
chánh giác của Thiện Thệ[42]. Cho nên các Tỳ-kheo phải quán
sát tự lợi, lợi tha, tự tha đều lợi, nên siêng năng tu
học; rằng ‘Ta nay xuất gia không ngu, không mê, có quả có
lạc[43]; những ai cúng dường các thứ y phục, ẩm thực,
ngọa cụ, thuốc men, tất đều được quả báo lớn, phước
lợi lớn’. Các ông nên học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
349. THÁNH XỨ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thiện
lai Tỳ-kheo! Nếu khéo xuất gia, khéo được lợi mình, thì
trong thời gian lâu dài lúc nào cũng được sanh ra chỗ có
bậc Thánh, các căn đầy đủ, không ngu, không si, không câm
ngọng[44]; nói hay, nói dở đều có khả năng hiểu nghĩa.
“Ta
nay trong đời này là Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Giác,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, nói
pháp tịch diệt, Niết-bàn, chánh hướng đúng Bồ-đề, khéo
đến Đẳng chánh giác[45]. Tức là, ‘Cái này có nên cái
kia có, cái này khởi nên cái kia khởi, nghĩa là duyên vô minh
có hành, duyên hành có thức… cho đến tập khởi thành thuần
một khối khổ lớn; vô minh diệt thì hành diệt… cho đến
thuần một khối khổ lớn diệt.’
“Này
các Tỳ-kheo, các ông chỗ khó được đã được, sanh chỗ
có bậc Thánh, các căn đầy đủ… cho đến tập khởi thành
thuần một khối khổ lớn và thuần một khối khổ lớn diệt.
Cho nên các Tỳ-kheo phải học như vậy: Tự lợi, lợi tha,
tự tha đều lợi; sự xuất gia như vậy, không ngu, không si,
có quả, có lạc, có quả báo lạc. Và người cúng dường
y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men, chắc chắn sẽ được
quả báo tốt, phước lớn và lợi ích rộng lớn. Các Tỳ-kheo
nên học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
350. THÁNH ĐỆ TỬ[46]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương
xá. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Đa
văn Thánh đệ tử không nên nghĩ rằng: ‘Vì cái gì có nên
cái này có, vì cái gì khởi nên cái này khởi[47]; vì cái
gì không nên cái này không; vì cái gì diệt nên cái này diệt.’
Nhưng đa văn Thánh đệ tử nên biết rằng: ‘Vì cái này
có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi, tức là
duyên vô minh nên có hành… cho đến tập khởi thành thuần
một khối khổ lớn; vô minh diệt nên hành diệt… cho đến
thuần một khối khổ lớn diệt.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
351. MẬU-SƯ-LA[48]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Tôn giả Na-la, Tôn giả Mậu-sư-la, Tôn giả Thù Thắng
và Tôn giả A-nan[49] đang ở bên ao Tượng nhĩ tại nước
Xá-vệ[50]. Bấy giờ Tôn giả Na-la nói với Tôn giả Mậu-sư-la:
“Ngoại
trừ tín, ngoại trừ sở thích, ngoại trừ sở văn, ngoại
trừ giác tưởng hành tướng, ngoại trừ thẩm sát nhẫn thọ,
có tri kiến tự giác chân chánh nào như vậy phát sanh không,
tức là nói ‘Do sanh nên có già chết; không lìa sanh mà có
già chết[51]’?”
Tôn
giả Mậu-sư-la nói:
“Ngoại
trừ tín, ngoại trừ sở thích, ngoại trừ sở văn, ngoại
trừ giác tưởng hành tướng, ngoại trừ thẩm sát nhẫn thọ,
có tri kiến tự giác chân chánh như vậy phát sanh, tức là
nói: ‘Vì có sanh nên có già, chết, không thể ngoại trừ
sanh mà có già, chết.’ Có thuyết như vậy[52].”
“Bạch
Tôn giả Mậu-sư-la, có tin tưởng khác… cho đến, ngoại
trừ thẩm sát nhẫn thọ, có tri kiến tự giác chân chánh
nào như vậy phát sanh, tức là nói: ‘Hữu diệt là tịch
diệt, Niết-bàn[53]’ chăng?”
Tôn
giả Mậu-sư-la đáp:
“Ngoại
trừ tín,… cho đến, ngoại trừ thẩm sát nhẫn thọ, có
tri kiến tự giác chân chánh như vậy phát sanh, tức là nói:
‘Hữu diệt là tịch diệt, Niết-bàn.’”
Tôn
giả Na-la lại hỏi Tôn giả Mậu-sư-la:
“Nói
rằng ‘Hữu diệt là tịch diệt, Niết-bàn;’ vậy thì thầy
có phải là A-la-hán đã dứt các lậu chăng?’”
Tôn
giả Mậu-sư-la im lặng, không đáp. Hỏi lần thứ hai, lần
thứ ba, cũng không đáp. Khi ấy Tôn giả Thù Thắng nói với
Tôn giả Mậu-sư-la:
“Thôi,
Tôn giả cứ im lặng, tôi sẽ thay Tôn giả trả lời Tôn giả
Na-la.”
Tôn
giả Mậu-sư-la nói:
“Tôi
xin dừng nơi đây, Tôn giả hãy giải đáp giúp tôi.”
Khi
ấy Tôn giả Thù Thắng nói với Tôn giả Na-la:
“Ngoại
trừ tín,… cho đến, ngoại trừ thẩm sát nhẫn thọ, có
tri kiến tự giác chân chánh như vậy phát sanh, tức là nói:
‘Hữu diệt là tịch diệt, Niết-bàn.’”
Bấy
giờ, Tôn giả Na-la hỏi Tôn giả Thù Thắng:
“Ngoại
trừ tín,… cho đến, ngoại trừ thẩm sát nhẫn thọ, có
tri kiến tự giác chân chánh như vậy phát sanh, tức là nói:
‘Hữu diệt là tịch diệt, Niết-bàn; vậy nay Tôn giả là
A-la-hán lậu tận’ chăng?”
Tôn
giả Thù Thắng nói:
“Tôi
nói ‘Hữu diệt là tịch diệt, Niết-bàn,’ nhưng tôi chẳng
phải là A-la-hán sạch hết các lậu.”
Tôn
giả Na-la nói:
“Lời
nói của Tôn giả không đồng nhất, trước sau mâu thuẫn.
Như Tôn giả nói ‘Hữu diệt là tịch diệt, Niết-bàn;’
nhưng lại nói không phải là A-la-hán sạch hết các lậu,
như vậy là thế nào?”
Tôn
giả Thù Thắng nói với Tôn giả Na-la:
“Bây
giờ sẽ nói thí dụ, người trí nhờ thí dụ sẽ hiểu liền.
Như giữa cánh đồng vắng bên đường có giếng nước, nhưng
không có dây cũng không có gàu để lấy nước. Người đi
đường lúc ấy bị cơn khát bức bách, đi quanh giếng tìm
nhưng không có dây, cũng không có gàu. Người ấy xem xét kỹ
nước giếng thấy biết như thật mà chẳng chạm vào thân.
Cũng như thế tôi nói ‘Hữu diệt là tịch diệt, Niết-bàn,’
nhưng tự mình chưa được là bậc A-la-hán sạch hết các
lậu.”
Khi
ấy Tôn giả A-nan hỏi Tôn giả Na-la:
“Tôn
giả Na-la nghĩ thế nào về điều Tôn giả Thù Thắng nói.”
Tôn
giả Na-la trả lời Tôn giả A-nan:
“Tôn
giả Thù Thắng khéo nói và biết như thật, đâu còn gì để
nói nữa.”
Sau
khi đàm đạo xong, các vị Chánh sĩ rời chỗ ngồi đứng
lên, rồi ra đi.
*
KINH
352. SA-MÔN BÀ-LA-MÔN (1)[54]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
các Sa-môn, Bà-la-môn nào, ở nơi pháp mà không biết như thật
về pháp; không biết như thật về sự tập khởi của pháp,
về sự diệt tận của pháp, về con đường đưa đến sự
diệt tận của pháp, thì người này chẳng phải là Sa-môn,
chẳng được kể vào hàng Sa-môn, chẳng phải là Bà-la-môn,
chẳng được kể vào hàng Bà-la-môn. Người này chẳng đúng
với ý nghĩa Sa-môn hay Bà-la-môn[55], ngay trong đời này không
tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn
tái sanh đời sau nữa.’
“Thế
nào là chẳng biết như thật về pháp? Thế nào là chẳng
biết như thật về sự tập khởi của pháp? Thế nào là chẳng
biết như thật về sự diệt tận của pháp? Thế nào là chẳng
biết như thật về con đường đưa đến sự diệt tận của
pháp? Là đối với pháp già chết mà không biết như thật;
và không biết như thật về sự tập khởi đối với già
chết, về sự diệt tận của già chết, về con đường đưa
đến sự diệt tận của già chết. Cũng vậy, không biết
như thật đối với sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, lục nhập
xứ,… không biết như thật về sự tập khởi của lục nhập
xứ, về sự diệt tận của lục nhập xứ, về con đường
đưa đến sự diệt tận của lục nhập xứ. Như vậy là
không biết như thật về các pháp; không biết như thật về
sự tập khởi của pháp, về sự diệt tận của pháp, về
con đường đưa đến sự diệt tận của pháp.
“Nếu
Sa-môn, Bà-la-môn nào mà biết như thật về pháp; biết như
thật về sự tập khởi của pháp, về sự diệt tận của
pháp, về con đường đưa đến sự diệt tận của pháp, thì
Sa-môn, Bà-la-môn này được kể vào hàng Sa-môn, Bà-la-môn
chân chánh, đúng với nghĩa Sa-môn, Bà-la-môn, ngay trong đời
này mà tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.’
“Biết
như thật những pháp gì? Biết như thật những pháp gì, sự
tập khởi của pháp gì, sự diệt tận của pháp gì, con đường
đưa đến sự diệt tận của pháp gì? Đó l