TẠP
A-HÀM QUYỂN 13
KINH
304. LỤC LỤC[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại xóm Điều ngưu[2], Câu-lưu-sấu. Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hôm
nay, Ta sẽ vì các ông nói pháp, khoảng đầu, khoảng giữa
và khoảng cuối đều thiện, thiện nghĩa, thiện vị, thuần
nhất thanh tịnh, phạm hạnh trong sạch. Hãy lắng nghe, suy
nghĩ kỹ. Có sáu pháp sáu[3]. Những gì là sáu? Đó là, sáu
nội nhập xứ, sáu ngoại nhập xứ, sáu thức thân, sáu xúc
thân, sáu thọ thân, sáu ái thân.
“Sáu
nội nhập xứ[4] là những gì? Đó là, nhãn nhập xứ, nhĩ
nhập xứ, tỷ nhập xứ, thiệt nhập xứ, thân nhập xứ,
ý nhập xứ.
“Sáu
ngoại nhập xứ[5] là những gì? Đó là, sắc nhập xứ, thanh
nhập xứ, hương nhập xứ, vị nhập xứ, xúc nhập xứ, pháp
nhập xứ. Sáu thức thân[6] là những gì? Đó là, nhãn thức
thân, nhĩ thức thân, tỷ thức thân, thiệt thức thân, thân
thức thân, ý thức thân. Sáu xúc thân[7] là những gì? Đó
là, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc
thân. Sáu thọ thân[8] là những gì? Đó là, nhãn xúc sanh thọ,
nhĩ xúc sanh thọ, tỷ xúc sanh thọ, thiệt xúc sanh thọ, thân
xúc sanh thọ, ý xúc sanh thọ. Sáu ái thân[9] là những gì?
Đó là, mắt tiếp xúc sanh ái, tai tiếp xúc sanh ái, mũi tiếp
xúc sanh ái, lưỡi tiếp xúc sanh ái, thân tiếp xúc sanh ái,
ý tiếp xúc sanh ái.
“Nếu
có người nói rằng ‘mắt là ta’[10], điều này chẳng đúng.
Vì sao? Vì mắt là sanh diệt. Nếu mắt là ta thì ta này phải
chịu sanh tử[11]. Cho nên nói mắt là ta, điều này chẳng
đúng. Cũng vậy, hoặc là sắc, hoặc nhãn thức, hoặc nhãn
xúc, hoặc cảm thọ sanh bởi nhãn xúc, nếu là ta, thì điều
này cũng chẳng đúng. Vì sao? Vì thọ do mắt tiếp xúc sanh
ra, nó là pháp sanh diệt; nếu thọ do mắt tiếp xúc sanh ra
là ta, thì ta này phải chịu sanh tử. Cho nên nói thọ do nhãn
xúc sanh ra là ta, thì điều này không đúng. Vì vậy, thọ
do mắt tiếp xúc sanh ra chẳng phải là ta. Cũng vậy, thọ
do nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý tiếp xúc sanh ra chẳng phải ta.
Vì sao? Vì thọ do ý tiếp xúc sanh ra, nó là pháp sanh diệt;
nếu là ta thì ta này phải chịu sanh tử, cho nên nói thọ
do ý tiếp xúc sanh ra là ta, thì điều này chẳng đúng. Cho
nên thọ do ý tiếp xúc sanh ra chẳng phải là ta.
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, nên biết như thật cái được tác
thành bởi trí, cái được tác thành bởi mắt, cái được
tác thành bởi tịch diệt, khai phát thần thông, chánh hướng
Niết-bàn. Thế nào là thấy biết như thật về cái được
tác thành bởi do mắt, cho đến hướng đúng Niết-bàn?”
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, mắt chẳng phải ta. Nếu sắc, nhãn
thức, nhãn xúc, hoặc cảm thọ với cảm giác bên trong khổ,
lạc, phi khổ lạc sanh bởi nhãn xúc[12]; kia cũng quán sát
là chẳng phải ta. Đối với nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng
nói như vậy. Đó gọi là biết thấy như thật về sự tác
thành do mắt, cho đến chánh hướng Niết-bàn. Đó gọi là
kinh nói về Sáu pháp sáu.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật đã
dạy, vui mừng thực hành theo.
*
KINH
305. LỤC NHẬP XỨ[13]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại xóm Điều ngưu[14], Câu-lưu-sấu, bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hôm
nay, Ta sẽ vì các ông mà nói pháp, khoảng đầu, khoảng giữa
và khoảng cuối đều thiện, thiện nghĩa, thiện vị, thuần
nhất thanh tịnh, phạm hạnh trong sạch. Đó là kinh Sáu phân
biệt sáu nhập xứ. Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì
các ông mà nói.
“Thế
nào là kinh Sáu phân biệt sáu nhập xứ? Ở nơi nhãn nhập
xứ mà không thấy biết như thật; sắc, nhãn thức, nhãn xúc,
cảm thọ với cảm giác bên trong khổ, lạc, phi khổ lạc
sanh bởi nhãn xúc, không thấy biết như thật. Vì không thấy
biết như thật nên đắm nhiễm nơi mắt; đắm nhiễm nơi
sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với cảm giác bên trong
khổ, lạc, phi khổ lạc sanh bởi nhãn xúc. Cũng vậy, đối
với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, pháp, ý thức, ý xúc, cảm thọ
với cảm giác bên trong khổ, lạc, phi khổ lạc sanh bởi ý
xúc. Như vậy, sự niệm tưởng, sự ngu tối, tương ưng, luyến
tiếc, kết buộc tâm, năm thọ ấm được tăng trưởng[15];
và tham ái hữu đương lai[16] câu hữu với hỷ tham cũng đều
được tăng trưởng; do đó, thân tâm mệt nhọc[17], thân tâm
thiêu đốt, thân tâm hẫy hừng, thân tâm cuồng loạn, thân
sanh ra cảm giác khổ. Vì thân sanh ra cảm giác khổ nên sanh,
già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não trong đời vị lai sẽ tăng
trưởng. Đó gọi là thuần một khối khổ lớn.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu đối với mắt thấy biết như thật; đối
với sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với cảm giác bên
trong khổ, lạc, phi khổ lạc sanh bởi nhãn xúc, thấy biết
như thật; vì thấy rồi, nên đối với mắt không đắm nhiễm;
đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với cảm giác
bên trong khổ, lạc, phi khổ lạc sanh bởi nhãn xúc, không
đắm nhiễm. Cũng vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý…
pháp thấy biết như thật; đối với pháp, ý thức, ý xúc,
cảm thọ với cảm giác bên trong khổ, lạc, phi khổ lạc
sanh bởi ý xúc, thấy biết như thật. Do thấy biết như thật
nên đối với ý không đắm nhiễm; đối với pháp, ý thức,
ý xúc, cảm thọ với cảm giác bên trong khổ, lạc, phi khổ
lạc sanh bởi ý xúc, mà không đắm nhiễm. Do không đắm nhiễm
nên không tương tạp[18], không ngu tối, không niệm tưởng,
không hệ lụy, tổn giảm năm thọ ấm và tham ái hữu tương
lai câu hữu tham, hỷ, nhiễm trước nơi này hay nơi kia, tất
cả đều bị tiêu diệt; do đó, thân không khổ nhọc, tâm
không khổ nhọc, thân không cháy, tâm không bị thiêu đốt,
thân không hẫy hừng, tâm không hẫy hừng, thân cảm thấy
khoái lạc, tâm cảm thấy an vui. Vì thân tâm cảm thấy an
vui nên sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não trong đời
vị lai đều bị tiêu diệt và thuần một khối khổ ấm lớn
cũng bị diệt.
“Biết
như vậy, thấy như vậy, gọi là đã tu tập đầy đủ chánh
kiến, chánh chí, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định,
chánh ngữ đã nói trước, chánh nghiệp, chánh mạng, tu tập
thanh tịnh đầy đủ, thì đó gọi là tu tập tám Thánh đạo
thanh tịnh đầy đủ. Khi tu tập tám Thánh đạo đã đầy
đủ rồi, thì bốn Niệm xứ cũng tu tập đầy đủ và bốn
Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Bồ-đề
phần cũng tu tập đầy đủ. Đối với pháp nên biết, nên
thấu rõ, tất sẽ biết, sẽ thấu rõ; pháp nên biết, nên
đoạn trừ, tất sẽ biết, sẽ đoạn trừ; pháp nên biết,
nên chứng, tất sẽ biết, sẽ chứng; pháp nên biết, nên
tu tập, sẽ tu tập[19].
“Những
pháp nào nên biết, nên thấu rõ? Đó là danh sắc. Những pháp
nào cần phải biết, cần phải dứt trừ? Đó là vô minh,
hữu ái. Những pháp nào nên biết, nên chứng? Đó là minh,
giải thoát. Những pháp nào nên biết, nên tu? Đó là chánh
quán.
“Nếu
Tỳ-kheo nào đối với pháp nên biết, nên thấu rõ này, mà
tất biết, tất thấu rõ; pháp nên biết, nên đoạn trừ,
mà tất biết, tất đoạn trừ; pháp nên biết, nên chứng,
mà tất biết, tất chứng; pháp nên biết, nên tu, mà tất
biết, tất tu; thì đó gọi là Tỳ-kheo đoạn trừ mọi ràng
buộc của ái, thật sự chứng đắc vô gián đẳng[20], đạt
đến cứu cánh của mé khổ.
“Này
các Tỳ-kheo, đó gọi là kinh Sáu phân biệt sáu nhập xứ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
306. NHÂN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo một mình ở chỗ vắng
vẻ, chuyên tinh tư duy, nghĩ thầm: “Tỳ-kheo nên biết thế
nào, thấy thế nào để được thấy pháp?” Suy nghĩ như
vậy rồi, từ chỗ ngồi thiền đứng dậy đi đến chỗ Phật,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, một mình con ở nơi vắng, chuyên cần tinh tấn tư
duy, nghĩ rằng: ‘Tỳ-kheo nên biết thế nào, nên thấy thế
nào để được thấy pháp?’”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo kia:
“Ngươi
hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Có
hai pháp. Hai pháp gì? Mắt và sắc là hai. (Nói chi tiết như
trên[21] cho đến)... những thứ chẳng phải là cảnh giới.
Vì sao? Vì mắt và sắc làm duyên sanh ra nhãn thức. Ba sự
hòa hợp sanh ra xúc, thọ, tưởng, tư câu sanh với xúc, bốn
vô sắc ấm này, mắt và sắc, những pháp này gọi là con
người. Ở nơi những pháp này mà khởi ý tưởng là con người,
là chúng sanh, na-la, ma-nậu-xà, ma-na-bà, sĩ phu[22], phước-già-la,
kỳ-bà, thiền-đầu[23].
“Lại
nói như vầy: ‘Mắt tôi thấy sắc, tai tôi nghe tiếng, mũi
tôi ngửi mùi, lưỡi tôi nếm vị, thân tôi chạm biết, ý
tôi phân biệt pháp.’ Kia giả lập rồi nói như vầy: ‘Vị
Tôn giả này tên như vậy, sanh như vậy, họ như vậy, ăn
uống như vậy, cảm khổ vui như vậy, sống lâu như vậy,
trụ lâu như vậy, thọ mạng như vậy.’ Này Tỳ-kheo, đó
là tưởng, là ghi nhớ, là ngôn thuyết[24]; tất cả các pháp
này đều là hữu vi, vô thường, do suy nghĩ mong cầu mà sanh
ra. Nếu là pháp hữu vi, vô thường, do suy nghĩ mong cầu mà
sanh ra, thì chúng là khổ. Khổ này phát sanh, rồi khổ đình
trụ, rồi khổ diệt; và rồi khổ này tái diễn xuất sanh
nhiều lần; tất cả đều khổ. Nếu cái khổ này dứt đi,
không còn dư tàn, nhả ra hết, ly dục, tịch diệt, tịch tĩnh
mà các khổ khác không tiếp nối, không phát sanh nữa; thì
đây là tịch diệt, đây là thắng diệu, tức là xả tất
cả hữu dư, tất cả ái tận, vô dục, diệt tận, Niết-bàn.
Tai, mũi, lưỡi, thân,… thân, xúc làm duyên sanh thức thân,
cả ba hòa hợp sanh ra xúc; thọ câu sanh với xúc, tưởng,
tư; bốn vô sắc ấm này, với thân căn là sắc ấm, gọi
đó là con người. Chi tiết như trên cho đến diệt tận Niết-bàn.
“Duyên
ý và pháp sanh ra ý thức. Ba sự hòa hợp sanh ra xúc, thọ
câu sanh với xúc, tưởng, tư; bốn vô sắc ấm này, vàø bốn
đại, là sở y của con người; những pháp này gọi là con
người. Chi tiết đầy đủ như trên, cho đến diệt tận Niết-bàn.
“Nếu
có người nào, đối với các pháp này, tâm tùy nhập, an trú,
giải thoát, không thoái chuyển, đối với người ấy những
hệ lụy khởi lên đều không có ngã. Tỳ-kheo biết như vậy,
thấy như vậy, thì đó là thấy pháp.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
307. KIẾN PHÁP
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo ở một mình nơi vắng
vẻ, chuyên cần tinh tấn tư duy, nghĩ rằng: “Biết thế nào,
thấy thế nào, để được gọi là thấy pháp?” Suy nghĩ
xong, từ nơi thiền tọa đứng dậy, đi đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con một mình ở nơi vắng vẻ, chuyên cần tinh tấn
tư duy, nghĩ rằng: ‘Tỳ-kheo biết thế nào, thấy thế nào,
gọi là thấy pháp?’ Hôm nay con xin hỏi Thế Tôn, cúi mong
Ngài giải thích cho.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói. Có hai pháp:
Mắt và sắc làm duyên sanh ra nhãn thức… Nói đầy đủ như
trên.”
Tỳ-kheo
này như lời Phật dạy, trình bài kệ:
“Mắt,
sắc, hai thứ duyên,
Sanh
tâm và tâm pháp,
Thức,
xúc cùng câu sanh,
Thọ,
tưởng… đều có nhân.
Chẳng
ngã, chẳng của ngã,
Chẳng
phải phước-già-la,
Chẳng
phải ma-nậu-xà,
Cũng
chẳng ma-na-bà.
Đây
là pháp sanh diệt,
Khổ
ấm, pháp biến dịch,
Nơi
pháp này giả tưởng,
Giả
lập là chúng sanh.
Na-la,
ma-nậu-xà,
Cùng
với ma-na-bà,
Cũng
còn nhiều tưởng khác,
Đều
từ khổ ấm sanh.
Các
nghiệp ái vô minh,
Ấm
tích lũy đời khác.
Sa-môn
các đạo khác,
Nói
về hai pháp khác.
Nếu
họ nói như vậy,
Nghe
rồi càng nghi hoặc.
Tham
ái dứt không còn,
Vô
minh lặng, diệt hẳn,
Ái
sạch, các khổ dứt,
Vô
thượng, Phật nói rõ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
308. BẤT NHIỄM TRƯỚC
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Chư
Thiên, người thế gian, đối với sắc thì yêu thích, đắm
nhiễm, bám trụ. Sắc này nếu vô thường, biến đổi, hoặc
diệt mất, thì trời và người sẽ cảm thấy rất khổ đau.
Đối với âm thanh, mùi, vị, xúc, pháp cũng yêu thích, đắm
nhiễm, bám trụ; nếu các pháp này vô thường, biến đổi,
hoặc diệt mất, thì trời, người sẽ sống trong đau khổ.
Đối với sự hiện hữu của sắc, sự tập khởi của sắc,
sự diệt tận của sắc, vị ngọt của sắc, sự tai hại
của sắc, sự xuất ly sắc, Như Lai biết như thật. Vì đã
biết như thật, nên đối với sắc không còn yêu thích, đắm
nhiễm, bám vào. Cho dù nếu sắc này là vô thường, biến
đổi, diệt tận đi nữa, thì vẫn sống an vui. Đối với
sự hiện hữu, sự tập khởi, sự diệt tận, vị ngọt, tai
hại, xuất ly của thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên biết như
thật. Khi đã biết như thật thì không còn ưa thích, đắn
nhiễm, bám vào. Cho dù sắc này là vô thường, biến đổi,
diệt tận đi nữa, thì vẫn sống an vui. Vì sao? Vì mắt và
sắc làm duyên sanh ra nhãn thức, ba sự hòa hợp sanh ra nhãn
xúc; xúc làm duyên sanh ra cảm thọ, hoặc khổ hoặc vui, hoặc
không khổ không vui, nên sự tập khởi của thọ này, sự
diệt tận của thọ này, vị ngọt của thọ này, sự tai hại
của thọ này, xuất ly thọ này, nên biết như thật. Do nhân
duyên sắc kia sự ách ngại phát sanh. Ách ngại bị diệt tận,
đó gọi là vô thượng an ổn, Niết-bàn. Đối với sự hiện
hữu của tai, mũi, lưỡi, thân, ý và… pháp làm duyên sanh
ra ý thức, ba sự hòa hợp này sanh ra xúc. Xúc duyên thọ,
hoặc khổ hoặc vui, hoặc không khổ không vui như vậy, đối
với sự tập khởi của thọ, sự diệt tận của thọ, vị
ngọt của thọ, sự tai hại của thọ, sự xuất ly thọ này
cũng phải biết như thật. Khi đã biết như thật rồi, pháp
này làm nhân duyên sanh ra trở ngại và khi đã hết trở ngại
rồi thì gọi là vô thượng an ổn, Niết-bàn.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ:
“Nơi
sắc, thanh, hương, vị,
Xúc,
pháp, sáu cảnh giới,
Một
hướng sanh vui thích,
Ái
nhiễm, vui đắm sâu.
Chư
Thiên và Người thế,
Chỉ
vì cái vui này,
Khi
biến đổi, diệt mất,
Họ
sanh ra khổ đau.
Chỉ
có bậc Hiền thánh,
Thấy
chúng diệt, an vui,
Cái
vui của thế gian,
Quán
sát đều là oán.
Hiền
thánh thấy là khổ,
Thế
gian cho là vui,
Cái
khổ của thế gian,
Đối
với Thánh là vui.
Pháp
sâu xa khó hiểu,
Thế
gian sanh nghi hoặc,
Chìm
đắm trong tối tăm,
Mờ
mịt chẳng thấy gì.
Chỉ
có người trí tuệ,
Mở
bày sự sáng tỏ,
Lời
sâu xa như vậy,
Phi
Thánh nào ai biết?
Không
lại thọ thân sau,
Đạt
xa lẽ chân thật.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
309. LỘC NỮU (1)[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở bên cạnh bờ hồ Yết-già[26] tại nước Chiêm-bà.
Bấy giờ Tôn giả Lộc Nữu[27], đi đến chỗ Phật, cúi đầu
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Thế Tôn, như Đức Thế Tôn đã dạy, “Có người sống với
người thứ hai; có người sống đơn độc một mình[28].”
Vậy thế nào là sống với người thứ hai? Sống đơn độc
một mình?”
Phật
bảo Lộc Nữu:
“Lành
thay! Lành thay! Ông đã hỏi Như Lai nghĩa này.”
Phật
bảo Lộc Nữu:
“Nếu
sắc được biết bởi mắt mà vừa ý, đáng yêu, đáng vui,
đáng nhớ, trưởng dưỡng dục[29]. Nếu Tỳ-kheo kia thấy
rồi, sanh ra hỷ lạc, tán thán, hệ lụy; do hỷ lạc, tán
thán, hệ lụy, tâm càng hoan hỷ; do hoan hỷ,ï càng đắm sâu
hoan lạc; đắm sâu hoan lạc mà tham ái sanh; do tham ái sanh,
mà bị ách ngại[30]. Ở đây, hoan hỷ, đắm sâu hoan lạc,
tham ái, ách ngại; chúng được gọi là sống với người
thứ hai [31]. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như
vậy.
“Này
Lộc Nữu, nếu có Tỳ-kheo nào giống như vậy, thì dù ngay
lúc ở một mình nơi vắng vẻ, cũng gọi là sống với người
thứ hai. Vì sao? Vì hỷ ái không đoạn, không diệt. Ái dục
không được đoạn trừ, không được biến tri, chư Phật
Như Lai gọi là sống với người thứ hai.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào đối với sắc vừa ý, đáng yêu, đáng vui,
đáng nhớ, trưởng dưỡng dục vọng, Tỳ-kheo này thấy rồi,
không hỷ lạc, không tán thán, không hệ lụy. Do không hỷ
lạc, không tán thán, không hệ lụy, nên không hoan hỷ. Do
không hoan hỷ, không đắm sâu hoan lạc; không đắm sâu hoan
lạc nên không tham ái; do không tham ái, nên không bị ách ngại.
Ở đây, không hoan hỷ, không đắm sâu hoan lạc, không tham
ái, không ách ngại; được gọi là sống đơn độc một mình.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy.
“Này
Lộc Nữu, nếu có Tỳ-kheo nào giống như vậy, thì dù ở
nơi lầu các, gác cao, cũng vẫn là sống đơn độc một mình.
Vì sao? Vì tham ái đã diệt tận, đã biến tri. Người mà
tham ái diệt tận, đã biến tri, chư Phật Như Lai gọi là
người sống đơn độc một mình.”
Bấy
giờ Tôn giả Lộc Nữu nghe Phật dạy xong, hoan hỷ, đảnh
lễ mà đi.
*
KINH
310. LỘC NỮU (2)[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở bên cạnh bờ hồ Yết-già[33] tại nước Chiêm-bà.
Bấy giờ Tôn giả Lộc Nữu, đi đến chỗ Phật, cúi đầu
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch
Phật:
“Lành
thay, bạch Thế Tôn! Cúi xin vì con mà nói pháp. Con nghe pháp
rồi, sẽ một mình ở chỗ vắng, chuyên cần tinh tấn tư
duy, sống không buông lung,… cho đến: tự biết không còn
tái sanh đời sau nữa.”
Phật
bảo:
“Lành
thay! Lành thay! Lộc Nữu có thể hỏi Như Lai nghĩa như vậy.
Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.”
Phật
bảo Lộc Nữu:
“Nếu
có Tỳ-kheo mắt thấy sắc vừa ý, đáng yêu, đáng vui, đáng
nhớ, trưởng dưỡng dục vọng, Tỳ-kheo này thấy rồi, hỷ
lạc, tán thán, hệ lụy. Do hỷ lạc, tán thán, hệ lụy, nên
hoan hỷ tập khởi. Do hoan hỷ tập khởi nên khổ tập khởi.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy.
“Này
Lộc Nữu, nếu có Tỳ-kheo nào, mắt thấy sắc vừa ý, đáng
yêu, đáng vui, đáng nhớ, trưởng dưỡng dục vọng, Tỳ-kheo
này thấy rồi, không hỷ lạc, không tán thán, không hệ lụy.
Do không hỷ lạc, không tán thán, không hệ lụy, nên hoan hỷ
không tập khởi. Do hoan hỷ không tập khởi nên diệt tận
khổ. Các pháp tai, mũi, lưỡi, thân, ý… pháp lại cũng nói
như vậy.”
Tôn
giả Lộc Nữu sau khi nghe Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, làm
lễ lui ra.
Bấy
giờ, Tôn giả Lộc Nữu nghe Phật giáo giới xong, một mình
ở chỗ vắng, chuyên tinh tư duy, sống không buông lung, cho
đến đắc quả A-la-hán, tâm khéo giải thoát.
*
KINH
311. PHÚ-LAN-NA[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tôn giả Phú-lan-na đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua
một bên, bạch Phật:
“Lành
thay, Thế Tôn! Cúi xin vì con mà thuyết pháp. Con ở nơi vắng
vẻ một mình, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông
lung,... cho đến: tự biết không tái sanh đời sau nữa.”
Phật
bảo Phú-lan-na:
“Lành
thay! Lành thay! Ông có thể hỏi Như Lai nghĩa như vậy. Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào, mắt thấy sắc vừa ý, đáng yêu, đáng vui,
đáng nhớ, trưởng dưỡng dục; Tỳ-kheo kia thấy rồi, sanh
ra hỷ lạc, tán thán, hệ lụy; do hỷ lạc, tán thán, hệ
lụy, tâm càng hoan hỷ; do hoan hỷ,ï càng đắm sâu hoan lạc;
đắm sâu hoan lạc mà tham ái sanh; do tham ái sanh, mà bị ách
ngại. Do đó cách xa Niết-bàn. Đối với tai, mũi, lưỡi,
thân, ý cũng nói như vậy.
“Này
Phú-lan-na, nếu Tỳ-kheo nào, mắt thấy sắc vừa ý, đáng
yêu, đáng vui, đáng nhớ, trưởng dưỡng dục; Tỳ-kheo kia
thấy rồi, không hỷ lạc, không tán thán, không hệ lụy;
do không hỷ lạc, không tán thán, không hệ lụy, nên không
hoan hỷ; do không hoan hỷ,ï nên không hoan lạc; không hoan lạc
nên không tham; do không tham, mà không bị ách ngại; cho nên
dần dần tiếp cận Niết-bàn. Đối với tai, mũi, lưỡi,
thân, ý, cũng nói như vậy.”
Phật
bảo Phú-lan-na:
“Ta
đã tóm lược giáo pháp, vậy Phú-lan-na muốn an trú chỗ nào?”
Tôn
giả Phú-lan-na bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đã được Thế Tôn tóm lược giáo giới, nay
con muốn du hành trong nhân gian đi về xứ Thâu-lô-na ở phương
Tây[35].”
Phật
bảo Phú-lan-na:
“Người
ở Thâu-lô-na phương Tây hung dữ, nóng nảy, thô bạo, ưa
chưởi bới. Phú-lan-na, nếu ngươi nghe những lời hung ác,
nóng nảy, thô bạo, ưa mắng rủa, hủy nhục, thì ngươi sẽ
như thế nào?”
Phú-lan-na
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu người nước Thâu-lô-na phương Tây kia mà trước
mặt con có những lời hung ác, mắng chửi, hủy nhục, thì
con nghĩ rằng: ‘Những người Thâu-lô-na ở phương Tây này
vẫn tốt lành, có trí tuệ. Tuy họï ở trước mặt ta tỏ
ra hung ác, thô bạo, mắng chưởi hay hủy nhục, ta vẫn chưa
bị họ dùng tay để đánh hoặc ném đá.’”
Phật
bảo Phú-lan-na:
“Người
Thâu-lô-na ở phương Tây này tuy hung ác, nóng nảy, thô bạo,
mắng chưởi, hủy nhục đối với ngươi, ngươi có thể tránh
được. Nhưng nếu họ lại còn dùng tay đánh, đá ném nữa,
thì ngươi như thế nào?”
Phú-lan-na
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu người Thâu-lô-na ở phương Tây dùng tay đánh,
hay dùng đá ném con đi nữa, thì con nghĩ rằng: ‘Những người
Thâu-lô-na vẫn còn tốt lành, có trí tuệ. Tuy họ dùng tay
đánh, đá ném nhưng họ chẳng dùng dao gậy.’”
Phật
bảo Phú-lan-na:
“Nếu
những người này dùng dao gậy để hại ngươi, thì sẽ như
thế nào?”
Phú-lan-na
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu những người này, lại dùng dao gậy để hại
con, thì con nghĩ rằng: ‘Những người Thâu-lô-na này vẫn
còn tốt lành, có trí tuệ. Tuy họ dùng dao gậy hại ta, nhưng
chưa giết ta.’”
Phật
bảo Phú-lan-na:
“Giả
sử những người này giết ngươi, thì sẽ như thế nào?”
Phú-lan-na
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu những người Thâu-lô-na phương Tây giết con,
thì con nghĩ rằng: ‘Các đệ tử của Thế Tôn có người
nhàm chán thân này, hoặc dùng dao tự sát, hoặc uống thuốc
độc, hoặc dùng dây tự thắt cổ, hoặc gieo mình xuống hố
sâu. Người Thâu-lô-na phương Tây này vẫn còn tốt lành,
có trí tuệ. Đối với cái thân hủ bại của ta, chỉ tạo
chút phương tiện khiến ta được giải thoát.’”
Phật
bảo:
“Lành
thay! Phú-lan-na! Ông khéo học hạnh nhẫn nhục. Nay ngươi có
thể đến ở lại Thâu-lô-na. Ngươi nên đến độ cho người
chưa được độ, an cho người chưa được an, người chưa
được Niết-bàn khiến cho được Niết-bàn.”
Bấy
giờ, Tôn giả Phú-lan-na, sau khi nghe Phật dạy, hoan hỷ phấn
khởi, làm lễ rồi đi.
Sáng
hôm sau Tôn giả Phú-lan-na đắp y mang bát vào thành Xá-vệ
khất thực. Thọ thực xong, trở ra, giao lại ngọa cụ, đem
y bát du hành đến nước Thâu-lô-na phương Tây và an cư tại
đó. Tôn giả thuyết pháp cho năm trăm vị Ưu-bà-tắc và kiến
lập năm trăm Tăng-già-lam, cúng dường các thứ giường nằm,
chăn, mền đều đầy đủ. Trải qua ba tháng hạ, đầy đủ
Tam minh, liền ở nơi ấy nhập Vô dư Niết-bàn.
*
KINH
312. MA-LA-CA-CỮU[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Ma-la-ca-cữu[37] đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua
một bên, bạch Phật:
“Lành
thay! Bạch Thế Tôn, xin vì con mà nói pháp. Khi nghe pháp xong,
một mình con ở chỗ vắng vẻ, chuyên cần tinh tấn tư duy,
sống không buông lung,… cho đến: không còn tái sanh đời
sau nữa.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Ma-la-ca-cữu:
“Những
người trẻ tuổi, thông minh, lanh lợi, xuất gia chưa bao lâu,
đối với pháp luật của Ta còn không biếng nhác; huống chi
là ngày nay tuổi của ngươi đã già, các căn đã suy yếu,
mà đối với pháp luật của Ta lại muốn nghe Ta giáo giới
vắn tắt.”
Ma-la-ca-cữu
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con tuy tuổi già, các căn suy yếu, nhưng con vẫn
còn muốn nghe Thế Tôn sơ lược chỉ dạy, nhắc nhở. Xin
Thế Tôn vì con mà chỉ dạy sơ lược, nhắc nhở. Sau khi nghe
pháp xong, một mình con sẽ ở chỗ vắng vẻ, chuyên cần tinh
tấn tư duy,… cho đến: tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.”
Ma-la-ca-cữu
bạch như vậy ba lần.
Phật
bảo Ma-la-ca-cữu:
“Hãy
thôi đi!”
Ba
lần nói như vậy.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Ma-la-ca-cữu:
“Bây
giờ, Ta hỏi ngươi, cứ tùy ý mà đáp lời của Ta.”
Phật
bảo Ma-la-ca-cữu:
“Nếu
đối với sắc mà mắt chưa từng thấy, ngươi sẽ muốn thấy.
Ở nơi sắc này ngươi có khởi lên dục, khởi lên ái, khởi
niệm, khởi nhiễm trước không?”
Ma-la-ca-cữu
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
“Tai
đối với âm thanh, mũi đối với hương, lưỡi đối với
vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp cũng nói như vậy.”
Phật
bảo Ma-la-ca-cữu:
“Lành
thay! Này Ma-la-ca-cữu, thấy, do thấy giới hạn; nghe, do nghe
giới hạn[38]; cảm giác, do cảm giác giới hạn; nhận thức,
do nhận thức giới hạn.”
Và
Phật nói bài kệ:
Nếu
ngươi chẳng phải kia,
Kia
cũng chẳng phải đây,
Cũng
chẳng giữa hai bên,
Thì
đây là mé khổ[39].
Ma-la-ca-cữu
bạch Phật:
“Con
đã hiểu, bạch Thế Tôn. Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.”
Phật
bảo Ma-la-ca-cữu:
“Ngươi
hiểu thế nào về cái nghĩa rộng rãi của pháp mà Ta đã
nói lược?”
Ma-la-ca-cữu
trình lên Phật bài kệ:
“Nếu
mắt đã thấy sắc,
Mà
mất đi chánh niệm,
Thì
đối sắc được thấy,
Giữ
lấy tướng yêu nhớ.
Người
giữ tướng yêu thích,
Tâm
thường bị vướng mắc,
Khởi
lên các thứ ái,
Vô
lượng sắc tập sanh.
Tham
dục, nhuế, hại, giác,
Khiến
tâm mình sụt giảm,
Nuôi
lớn thêm các khổ,
Vĩnh
viễn lìa Niết-bàn.
Thấy
sắc chẳng chấp tướng,
Tâm
mình theo chánh niệm,
Không
nhiễm ái, ác tâm,
Cũng
chẳng sanh hệ lụy.
Không
khởi lên các ái,
Vô
lượng sắc tập sinh,
Tham
dục, nhuế, hại, giác,
Chẳng
thể hại tâm mình.
Ít
nuôi lớn các khổ,
Lần
lượt gần Niết-bàn.
Đấng
Nhật Tôn đã nói,
Lìa
ái, đạt Niết-bàn.
Nếu
tai nghe các tiếng,
Tâm
mất đi chánh niệm,
Cứ
giữ tướng âm thanh,
Giữ
chặt mà không xả.
Mũi,
hương, lưỡi thưởng vị,
Thân,
xúc, ý nhớ pháp,
Quên
mất đi chánh niệm,
Giữ
tướng cũng như vậy;
Tâm
mình sanh yêu thích,
Buộc
đắm bám vững chắc,
Khởi
lên các thứ ái,
Vô
lượng pháp tập sanh,
Tham
dục, nhuế, hại, giác,
Sụt
giảm hại tâm mình,
Nuôi
lớn các tụ khổ,
Vĩnh
viễn lìa Niết-bàn.
Chẳng
nhiễm nơi các pháp,
Chánh
trí, trụ chánh niệm,
Tâm
mình chẳng nhiễm ô,
Lại
cũng không thích đắm,
Chẳng
khởi lên các ái,
Vô
lượng pháp tập sanh,
Tham,
sân, nhuế, hại, giác,
Chẳng
lui giảm tâm mình,
Các
khổ theo đó giảm,
Dần
dần gần Niết-bàn.
Ái
tận, Bát-niết-bàn,
Thế
Tôn đã nói thế.
“Đó
gọi là giải rộng nghĩa của pháp Phật đã lược nói.”
Phật
bảo Ma-la-ca-cữu:
“Thật
sự ngươi đã giải thích rộng nghĩa của nó đối với pháp
Ta đã nói lược. Vì sao? Vì như ngươi đã nói kệ:
Nếu
mắt thấy các sắc,
Quên
mất đi chánh niệm,
Thì
đối sắc được thấy,
Giữ
lấy tướng ái niệm.
Như
trên, nói đầy đủ chi tiết.
Tôn
giả Ma-la-ca-cữu, sau khi nghe những gì Đức Phật đã dạy,
hoan hỷ, làm lễ rồi đi.
Sau
khi, Tôn giả Ma-la-ca-cữu đã giải thích rộng nghĩa của nó,
đối với pháp Thế Tôn đã nói lược, rồi một mình ở
chỗ vắng, chuyên cần tinh tấn tư duy, sống không buông lung,…
cho đến thành A-la-hán, tâm được giải thoát.
*
KINH
313. KINH PHÁP[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
kinh pháp, mà các Tỳ-kheo sùng kính, hướng tới; tuy đối
với kinh pháp, khác tín tâm, khác sở thích, khác sở văn,
khác tư duy sở hành, khác kiến giải thẩm sát và nhẫn khả[41],
nhưng có thể bằng chánh trí mà nói rằng: ‘Ta, sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là căn bản của pháp, là con mắt của mắt pháp, là sở
y của pháp. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Ngài nói rộng thêm;
các Tỳ-kheo sau khi nghe sẽ y theo lời dạy mà thực hành.”
Đức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe kỹ và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Này
các Tỳ-kheo, khi mắt đã thấy sắc rồi, có nhận biết sắc
nhưng không cảm giác tham đối với sắc, vị ấy biết như
thật rằng: ‘Ta trước kia có tham đối với sắc được
nhận thức bởi mắt. Nhưng hiện tại không có tham đối với
sắc được nhận thức bởi mắt.’ Nếu Tỳ-kheo nào mắt
đã thấy sắc rồi, có nhận biết sắc nhưng không khởi tham
đối với sắc, vị ấy biết như thật rằng: ‘Ta trước
kia có tham đối với sắc được nhận thức bởi mắt. Nhưng
hiện tại không có tham đối với sắc được nhận thức
bởi mắt.’ Các ông nghĩ sao? Ở đây, người này có tín,
có sở thích, có sở văn, có tư duy sở hành, có kiến giải
thẩm sát và nhẫn khả không?[42]”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, có như vậy[43].”
“Quy
hướng trên pháp này, thì có biết như thật bằng chánh trí
những điều sở tri sở kiến ấy chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, đúng như vậy.”
“Đối
với tai, mũi, lưỡi, thân, ý… pháp cũng nói như vậy.”
“Này
các Tỳ-kheo, đó gọi là có kinh pháp, mà các Tỳ-kheo sùng
kính, hướng tới. Tuy đối với kinh pháp này, khác tín tâm,
khác sở thích, khác sở văn, khác tư duy sở hành, khác kiến
giải thẩm sát và nhẫn khả, nhưng có thể bằng chánh trí
mà nói rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập,
những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh
đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
314. ĐOẠN DỤC[44]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Hãy
đoạn dục. Sau khi đã đoạn trừ dục nơi mắt, mắt cũng
được đoạn tận, được biến tri, cắt đứt gốc rễ của
nó, như chặt đầu cây đa-la, ở đời vị lai vĩnh viễn không
tái sanh nữa. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại
như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
315. NHÃN SANH[45]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
mắt sanh khởi, đình trú, chuyển sanh, xuất hiện, thì khổ
sanh khởi, bệnh đình trú, già, chết xuất hiện. Đối với
tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy. Nếu mắt diệt
tận, thì khổ sanh cũng diệt, bệnh dứt, (già) chết biến
mất. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
316. NHÃN VÔ THƯỜNG
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Mắt
là vô thường. Nếu mắt là thường thì đáng lý không phải
chịu khổ bức bách và cũng có thể nói: ‘Đối với con
mắt ta muốn nó phải như thế này, hay không muốn nó phải
như thế này.’ Nhưng vì mắt là vô thường nên mắt phải
chịu khổ bức bách sanh ra và đối với mắt không thể muốn
nó như thế này, hay không muốn nó như thế này. Đối với
tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
317. NHÃN KHỔ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Mắt
là khổ. Nếu mắt là lạc, thì đáng lý không phải chịu
khổ bức bách; và đối với mắt có thể muốn nó phải được
như thế này, hay không muốn nó phải như thế này. Nhưng vì
mắt là khổ nên phải chịu khổ bức bách và đối với mắt
không thể muốn nó phải như thế này, hay không muốn nó phải
như thế này. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói
như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
318. NHÃN PHI NGÃ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Mắt
chẳng phải ngã. Nếu mắt là ngã thì đáng lý không phải
chịu khổ bức bách và đối với mắt có thể muốn nó phải
được như thế này, hay không muốn nó phải như thế này.
Nhưng vì mắt chẳng phải là ngã, nên phải chịu khổ bức
bách và đối với mắt không thể muốn nó phải như thế
này, hay không muốn nó phải như thế này. Đối với tai, mũi,
lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Như
ba kinh Nội lục nhập xứ, ba kinh Ngoại lục nhập xứ cũng
nói như vậy.
*
KINH
319. NHẤT THIẾT[46]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Bà-la-môn Sanh Văn đi đến chỗ
Phật, sau khi chào đón hỏi thăm nhau, ngồi một bên bạch
Phật:
“Bạch
Cù-đàm, nói rằng ‘tất cả’, vậy thế nào là tất cả?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Tất
cả, nghĩa là chỉ cho mười hai nhập xứ, mắt đối với
sắc, tai đối với âm thanh, mũi đối với mùi, lưỡi đối
với vị, thân đối với xúc chạm, ý đối với pháp, đó
gọi là tất cả. Nếu có người lại nói rằng: ‘Đó không
phải là tất cả, mà Sa-môn Cù-đàm nói là tất cả. Nay ta
bỏ tất cả này mà lập riêng tất cả khác,’ thì người
này chỉ nói trên ngôn thuyết. Nếu hỏi đến thì họ lại
không biết và chỉ tăng thêm nghi hoặc. Vì sao? Vì chẳng phải
là cảnh giới ấy.”
Bà-la-môn
Sanh Văn nghe Phật nói xong, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
320. NHẤT THIẾT HỮU[47]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Bà-la-môn Sanh Văn đi đến chỗ
Phật, sau khi cùng Phật chào hỏi xong, ngồi qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Cù-đàm, Ngài nói tất cả đều có[48], vậy thế nào là tất
cả đều có?”
Phật
bảo Bà-la-môn Sanh Văn:
“Nay
Ta hỏi, ông cứ tùy ý mà trả lời câu hỏi của Ta. Này Bà-la-môn,
ý ông thế nào, mắt là có chăng?”
Đáp:
“Bạch
Sa-môn Cù-đàm, có.”
“Sắc
là có chăng?”
Đáp:
“Bạch
Sa-môn Cù-đàm, có.”
“Này
Bà-la-môn, vì có sắc, có nhãn thức, có nhãn xúc, nên sanh
ra cảm thọ hoặc khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc
chăng?”
Bà-la-môn
Sanh Văn đáp:
“Bạch
Sa-môn Cù-đàm, có.”
“Đối
với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng nói như vậy. Nói rộng
ra như trên cho đến chẳng phải cảnh giới ấy.”
Phật
nói kinh này xong, Bà-la-môn Sanh Văn nghe lời Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành, đứng lên từ giã.
*
KINH
321. NHẤT THIẾT
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Bà-la-môn Sanh Văn đi đến chỗ
Phật, sau khi cùng Phật chào hỏi xong, ngồi qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Sa-môn Cù-đàm, nói là tất cả pháp, vậy thế nào là tất
cả pháp?”
Phật
bảo Bà-la-môn Sanh Văn:
“Mắt,
sắc, nhãn thức sanh ra nhãn xúc, nhãn xúc làm nhân duyên sanh
ra cảm thọ, hoặc khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không
lạc. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý… pháp, ý thức sanh ra ý xúc;
ý xúc làm hân duyên sanh ra cảm thọ, hoặc khổ, hoặc lạc,
hoặc không khổ không lạc, đó gọi là tất cả pháp. Nếu
có người lại nói: ‘Ở đây không phải là tất cả các
pháp, như Sa-môn Cù-đàm nói là tất cả pháp. Nay ta bỏ tất
cả pháp này mà lập riêng tất cả pháp khác,’ thì người
ấy chỉ nói trên ngôn thuyết, nếu hỏi đến thì lại không
biết, chỉ tăng thêm nghi hoặc. Vì sao? Vì chẳng phải là
cảnh giới ấy.”
Phật
nói kinh này xong, Bà-la-môn Sanh Văn nghe lời Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
Giống
như ba kinh Bà-la-môn Sanh Văn đã hỏi, ba kinh có Tỳ-kheo khác
hỏi và ba kinh Tôn giả A-nan hỏi, ba kinh Đức Thế Tôn nói
về pháp nhãn, pháp căn, pháp y cũng dạy như trên.
*
KINH
322. NHÃN NỘI NHẬP XỨ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo đến chỗ Phật, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, như lời Thế Tôn đã dạy, mắt là nội nhập xứ,
Thế Tôn chỉ nói lược, không phân biệt đầy đủ. Vậy
thế nào mắt là nội nhập xứ?”
Phật
bảo Tỳ-kheo này:
“Mắt
là nội nhập xứ, là tịnh sắc do bốn đại tạo, không thể
thấy, có đối ngại[49]. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân,
ý nội nhập xứ cũng nói như vậy.”
Lại
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, như lời Thế Tôn đã dạy, ý là nội nhập xứ,
nhưng không phân biệt rộng. Vậy thế nào ý là nội nhập
xứ?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ý
nội nhập xứ là tâm, ý, thức, phi sắc, không thể thấy,
không đối ngại, thì đó gọi là ý nội nhập xứ.”
Lại
hỏi:
“Như
lời Đức Thế Tôn đã dạy về sắc ngoại nhập xứ, Thế
Tôn nói lược, không phân biệt đầy đủ. Vậy bạch Thế
Tôn, thế nào là sắc ngoại nhập xứ?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Sắc
ngoại nhập xứ, là sắc do bốn đại tạo, có thể thấy,
có đối ngại. Đó gọi là sắc ngoại nhập xứ.”
Lại
hỏi Phật:
“Thế
Tôn nói thanh là ngoại nhập xứ, nhưng không phân biệt đầy
đủ. Vậy thế nào thanh là ngoại nhập xứ?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Nếu
thanh do bốn đại tạo, không thể thấy, nhưng có đối ngại.
Như thanh, mùi vị cũng như vậy.”
Lại
hỏi:
“Thế
Tôn đã nói về xúc ngoại nhập xứ, nhưng không phân biệt
đầy đủ, vậy thế nào là xúc ngoại nhập xứ?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Xúc
ngoại nhập xứ, là bốn đại và sắc do tứ đại tạo, không
thể thấy, nhưng có đối ngại. Đó gọi là xúc ngoại nhập
xứ.”
Lại
hỏi:
“Bạch
Thế Tôn, Ngài chỉ nói pháp ngoại nhập xứ, chứ không phân
biệt đầy đủ?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Pháp
ngoại nhập xứ là những pháp không gồm trong mười một
loại nhập xứ này, không thể thấy, không đối ngại. Đó
gọi là pháp ngoại nhập xứ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
323. LỤC NỘI NHẬP XỨ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“