TẠP
A-HÀM QUYỂN 8
KINH
188. LY HỶ THAM[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Hãy
quán sát chân chánh mắt là vô thường. Quán sát như vậy
gọi là chánh kiến. Do chánh quán nên sanh nhàm tởm. Do nhàm
tởm nên lìa hỷ, lìa tham. Do lìa hỷ, lìa tham, Ta nói là tâm
chánh giải thoát[2]. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý lìa
hỷ, lìa tham. Do lìa hỷ, lìa tham, Ta nói là tâm chánh giải
thoát. Tâm chánh giải thoát rồi, thì có thể tự tuyên bố:
‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần
làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
]
Như
kinh nói về “vô thường”, cũng vậy, nói về “khổ, không,
chẳng phải ngã”.
KINH
189. LY DỤC THAM[3]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với mắt, hãy tư duy chân chánh[4], quán sát là vô thường.
Vì sao? Đối với mắt mà tư duy chân chánh, quán sát là vô
thường thì ở nơi mắt dục tham được đoạn trừ. Do dục
tham được đoạn trừ, Ta nói là tâm chánh giải thoát. Cũng
vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, do tư duy chân chánh,
quán sát, nên dục tham được đoạn trừ. Do dục tham đã
được đoạn trừ, Ta nói là tâm chánh giải thoát. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, người nào được tâm chánh giải thoát thì
có thể ký thuyết: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
190. TRI (1)[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
đối với mắt mà không phân biệt, không biết rõ, không đoạn
trừ, không ly dục[6], thì không thể có khả năng hoàn toàn
diệt tận khổ. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại
như vậy. Này các Tỳ-kheo, đối với mắt hoặc phân biệt,
hoặc biết rõ, hoặc đoạn trừ, hoặc ly dục, thì có thể
chân chánh diệt tận khổ. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân,
ý hoặc phân biệt, hoặc biết rõ, hoặc đoạn trừ, hoặc
xa lìa dục, thì có thể có khả năng hoàn toàn diệt tận
khổ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
191. TRI (2)[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
đối với mắt mà không phân biệt, không biết rõ, không đoạn
trừ, không ly dục[8], thì không thể có khả năng vượt qua
khỏi cái khổ của sanh, già, bệnh, chết. Đối với tai, mũi,
lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Này các Tỳ-kheo, đối
với mắt hoặc phân biệt, hoặc biết rõ, hoặc đoạn trừ,
hoặc ly dục, thì có thể vượt qua khỏi cái khổ của sanh,
già, bệnh, chết. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý hoặc
phân biệt, hoặc biết rõ, hoặc đoạn trừ, hoặc xa lìa dục,
thì có thể có khả năng vượt qua khỏi cái khổ của sanh,
già, bệnh, chết.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
192. BẤT LY DỤC (1)[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với mắt mà không ly dục, tâm không giải thoát, thì không
thể có khả năng hoàn toàn diệt tận khổ. Đối với tai,
mũi, lưỡi, thân, ý mà không ly dục, tâm không giải thoát,
thì không thể có khả năng hoàn toàn diệt tận khổ. Này
các Tỳ-kheo, đối với mắt nếu ly dục, tâm giải thoát,
thì có khả năng hoàn toàn diệt tận khổ. Đối với tai,
mũi, lưỡi, thân, ý mà ly dục, tâm giải thoát, thì có thể
có khả năng hoàn toàn diệt tận khổ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
193. BẤT LY DỤC (2)[10]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với mắt và sắc mà không ly dục, tâm không giải thoát, thì
không thể có khả năng vượt qua cái khổ của sanh, già, bệnh,
chết. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà không ly dục,
tâm không giải thoát, thì không thể có khả vượt qua cái
khổ của sanh, già, bệnh, chết. Này các Tỳ-kheo, đối với
mắt và sắc nếu ly dục, tâm giải thoát, thì có khả năng
vượt qua cái khổ của sanh, già, bệnh, chết. Đối với tai,
mũi, lưỡi, thân, ý mà ly dục, tâm giải thoát, thì có thể
có khả năng vượt qua cái khổ của sanh, già, bệnh, chết.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
194. SANH HỶ[11]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Ai
ở nơi mắt mà sanh hỷ, thì đối với khổ cũng sanh hỷ[12].
Ai đối với khổ mà sanh hỷ, Ta nói người đó không thể
giải thoát khổ. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà sanh
hỷ, thì đối với khổ cũng sẽ sanh hỷ. Ai đối với khổ
mà sanh hỷ, Ta nói người đó không thể giải thoát khổ.
“Này
các Tỳ-kheo, ai đối với mắt mà không sanh hỷ, thì đối
với khổ cũng không sanh hỷ. Ai đối với khổ mà không sanh
hỷ, Ta nói người đó có thể giải thoát khổ. Đối với
tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà không sanh hỷ, thì đối với khổ
cũng không sanh hỷ. Ai đối với khổ mà không sanh hỷ, Ta
nói người đó có thể giải thoát khổ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
195. VÔ THƯỜNG (1)[13]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Tất
cả đều vô thường. Thế nào là tất cả đều vô thường?
Mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với
cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không
lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, tất cả chúng
đều là vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại
cũng như vậy.
“Đa
văn Thánh đệ tử quán sát như vậy thì đối với mắt sẽ
sanh nhàm tởm. Đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ
với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ
không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, đối với
chúng cũng sanh nhàm tởm. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân,
ý và thanh, hương, vị, xúc, pháp, ý thức, ý xúc và thọ
với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ
không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc, đối với tất
cả chúng cũng sanh nhàm tởm. Do nhàm tởm nên không ái lạc,
do không ái lạc nên được giải thoát, giải thoát tri kiến,
biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
]
Như
kinh nói về “vô thường,” các kinh nói về “khổ, không,
phi ngã” cũng nói như trên vậy.
KINH
196. VÔ THƯỜNG (2)[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Tất
cả đều là vô thường[15]. Cái gì là tất cả? Mắt là vô
thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc[16] và thọ với cảm thọ
khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát
sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc[17], tất cả chúng đều là
vô thường. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, pháp, ý thức,
ý xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm
thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc,
thì chúng cũng vô thường.
“Đa
văn Thánh đệ tử quán sát như vậy, đối với mắt được
giải thoát. Đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với
cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không
lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, cũng được giải
thoát. Cũng vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, pháp,
ý thức, ý xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc,
hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên
là ý xúc, cũng được giải thoát. Ta nói, người này giải
thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Như
kinh nói “Tất cả là vô thường”, cũng vậy, các kinh nói:
-
Tất cả là khổ.[18]
-
Tất cả là không.[19]
-
Tất cả chẳng phải ngã.[20]
-
Tất cả là pháp nghiệp hư dối.[21]
-
Tất cả là pháp phá hoại.[22]
-
Tất cả pháp sanh.[23]
-
Tất cả pháp già.[24]
-
Tất cả pháp bệnh.[25]
-
Tất cả pháp chết.[26]
-
Tất cả pháp sầu lo.[27]
-
Tất cả pháp phiền não.[28]
-
Tất cả pháp tập khởi.[29]
-
Tất cả pháp diệt tận.[30]
-
Tất cả pháp biết.[31]
-
Tất cả pháp phân biệt.[32]
-
Tất cả pháp dứt trừ.[33]
-
Tất cả pháp giác.[34]
-
Tất cả pháp chứng.[35]
-
Tất cả ma.
-
Tất cả thế lực ma.
-
Tất cả khí cụ ma.
-
Tất cả đang cháy.
-
Tất cả cháy bùng.
-
Tất cả thiêu cháy.[36]
Cũng
đều nói chi tiết như hai kinh trên như vậy.
*
KINH
197. THỊ HIỆN[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong Chi-đề Thị-lợi-sa, tại Già-xà[38],
cùng với một ngàn vị Tỳ-kheo mà trước kia là những Bà-la-môn
bện tóc.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn vì một ngàn vị Tỳ-kheo thị hiện ba
sự giáo hóa[39]. Những gì là ba? Đó là, thị hiện thần
túc biến hóa, thị hiện tha tâm, thị hiện giáo giới.
Thị
hiện thần túc là, Đức Thế Tôn tùy theo sự thích hợpï
mà thị hiện nhập thiền định chánh thọ[40]; vượt qua hư
không đến phương Đông hiện bốn oai nghi đi, đứng, nằm,
ngồi; vào hỏa tam-muội[41], rồi cho ra ánh lửa màu xanh, vàng,
đỏ, trắng, hồng, pha lê; cả nước, lửa đều hiện; hoặc
dưới thân ra lửa, trên thân ra nước, hoặc trên thân ra lửa,
dưới thân ra nước, bốn phía chung quanh lại cũng như vậy.
Thế Tôn sau khi thị hiện thần biến rồi, trở lại ngồi
giữa đại chúng, đó gọi là thị hiện thần túc.
Thị
hiện tha tâm là, như tâm người kia, tự thân an trú và chứng
nghiệm, biết rằng ý của người kia như vậy, thức của
người kia như vậy, người kia đang nghĩ như vậy, hay không
đang nghĩ như vậy, đang xả như vậy. Đó gọi là thị hiện
tha tâm.
Thị
hiện giáo giới là, như Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ-kheo,
tất cả bị thiêu đốt[42]. Thế nào tất cả bị thiêu đốt?
Mắt bị thiêu đốt. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với
cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không
lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, tất cả đều
bị thiêu đốt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, bị thiêu
đốt; pháp, ý thức, ý xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm
thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi
nhân duyên là ý xúc tất cả cũng bị thiêu đốt. Bị cái
gì thiêu đốt? Bị lửa tham thiêu đốt, lửa nhuế thiêu đốt,
lửa si thiêu đốt, lửa sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ,
não thiêu đốt.”
Bấy
giờ, một ngàn vị Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật đã dạy,
không còn khởi lên các lậu hoặc, tâm được giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
198. LA-HẦU-LA (1)[43]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trên núi Kỳ-xà-quật, thành Vương xá.
Bấy
giờ Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Biết
như thế nào, thấy như thế nào, để nơi nội thức thân
của con[44] cùng ở nơi tất cả những tướng bên ngoài không
sanh ngã, ngã mạn, ngã sở và ngã mạn kết sử[45]?”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo La-hầu-la:
“Lành
thay, La-hầu-la! Ông đã có thể hỏi Như Lai về ý nghĩa sâu
xa này.”
Phật
bảo La-hầu-la tiếp:
“Mắt
hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong,
hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc
xa, hoặc gần; tất cả chẳng phải ngã, chẳng phải khác
ngã, chẳng phải ở trong nhau, hãy biết như thật như vậy.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
“Này
La-hầu-la, biết như vậy, thấy như vậy thì nơi nội thức
thân của ta cùng ở nơi tất cả những tướng bên ngoài không
sanh ngã, ngã mạn, ngã sở và ngã mạn kết sử.
“Này
La-hầu-la, như vậy, ngã, ngã sở, ngã mạn kết sử không
sanh, thì này La-hầu-la, đó gọi là đoạn trừ kiến chấp
ái trược, đắc chánh vô gián đẳng[46], cứu cánh biên tế
của khổ.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả La-hầu-la nghe những gì Đức Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
Cũng
như nói về “nội nhập xứ,” cũng vậy, “ngoại nhập
xứ: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; nhãn thức, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý thức; nhãn xúc, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc;
thọ phát sanh bởi nhãn xúc, thọ phát sanh bởi nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý xúc; tưởng phát sanh bởi nhãn xúc, tưởng phát sanh
bởi nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc; tư phát sanh bởi nhãn xúc,
tư phát sanh bởi nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc; ái phát sanh
bởi nhãn xúc, ái phát sanh bởi nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc”
đều nói như trên.[47]
KINH
199. LA-HẦU-LA (2)[48]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương
xá.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo La-hầu-la:
“Biết
như thế nào, thấy như thế nào, để nơi nội thức thân
này cùng ở nơi tất cả những tướng bên ngoài không sanh
ngã, ngã mạn, ngã sở và ngã mạn kết sử?”
La-hầu-la
bạch Phật:
“Thế
Tôn là căn bản của pháp, là con mắt của pháp, là sở y
của pháp. Lành thay, Thế Tôn! Xin vì các Tỳ-kheo mà dạy đầy
đủ nghĩa này. Các Tỳ-kheo sau khi nghe xong sẽ vâng lời thực
hành.”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Lành
thay! Hãy lắng nghe cho kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Những
gì thuộc về mắt, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều chẳng
phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau, hãy quán
sát chân chánh như vậy.
“Này
La-hầu-la, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như
vậy.
“Này
La-hầu-la, biết như vậy, thấy như vậy, nơi nội thức thân
này cùng ở nơi tất cả những tướng bên ngoài không sanh
ngã, ngã mạn, ngã sở và ngã mạn kết sử.”
“Này
La-hầu-la, Tỳ-kheo như vậy vượt cả hai[49], xa lìa các tướng,
tịch diệt, giải thoát.
“Này
La-hầu-la, Tỳ-kheo như vậy đoạn trừ các ái dục, chuyển
kết sử, cứu cánh biên tế khổ.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả La-hầu-la nghe những gì Đức Phật
đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
Cũng
như nói về “nội nhập,” cũng vậy, “ngoại nhập,” cho
đến “ái[50] phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc,” cũng nói
chi tiết như vậy.
KINH
200. LA-HẦU-LA (3)[51]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Lành
thay, Thế Tôn! Xin vì con mà nói pháp. Sau khi con nghe pháp, một
mình con ở nơi thanh vắng, chuyên tinh tư duy, không buông lung.
Sau khi sống một mình ở nơi thanh vắng, chuyên tinh tư duy,
sống không buông lung, con sẽ tư duy về mục đích mà một
thiện gia nam tử[52] cạo bỏ râu tóc, chánh tín xuất gia học
đạo, sống không gia đình, tu trì phạm hạnh, ngay trong đời
này, tự tri tự tác chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải
thoát chưa thuần thục, chưa có thể nhận lãnh pháp tăng thượng
được[53], nên hỏi La-hầu-la:
“Ngươi
đã từng truyền dạy năm thọ ấm cho người chưa?”
La-hầu-la
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chưa.”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Ngươi
nên vì người khác mà diễn nói năm thọ ấm.”
Khi
La-hầu-la nghe lời dạy của Phật rồi, sau đó vì người
khác diễn nói về năm thọ ấm. Nói xong trở lại chỗ Phật,
đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Thế Tôn con đã vì người khác nói về năm thọ ấm rồi,
xin Thế Tôn vì con mà nói pháp. Sau khi con nghe pháp xong rồi
sẽ ở một mình chuyên tinh suy nghĩ, sống không buông lung
và… cho đến ‘tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn lại xét thấy tâm của La-hầu-la Tuệ
giải thoát chưa thuần thục, chưa có thể nhận lãnh pháp
tăng thượng được, nên hỏi La-hầu-la:
“Ngươi
đã vì người khác nói về sáu nhập xứ chưa?”
La-hầu-la
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chưa.”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Ngươi
nên vì người khác diễn nói về sáu nhập xứ.”
Rồi,
vào một lúc khác, La-hầu-la lại diễn nói sáu nhập xứ cho
người khác nghe. Sau khi nói sáu nhập xứ xong, đi đến chỗ
Đức Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi đứng lui qua một
bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đã vì người khác mà diễn nói sáu nhập xứ
rồi. Xin Đức Thế Tôn vì con mà nói pháp. Sau khi con nghe pháp
xong sẽ ở một mình nơi vắng vẻ, chuyên tinh suy nghĩ, sống
không buông lung, … cho đến ‘tự biết không còn tái sanh
đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải
thoát chưa thuần thục, chưa có thể nhận lãnh pháp tăng thượng
được, nên hỏi La-hầu-la:
“Ngươi
đã vì người khác nói pháp Ni-đà-na[54] chưa?”
La-hầu-la
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chưa.”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Ngươi
nên vì người khác mà diễn nói pháp Ni-đà-na đi.”
Rồi,
vào môt lúc khác, La-hầu-la lại vì người khác nói đầy
đủ pháp Ni-đà-na xong, đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân, rồi đứng lui sang một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn vì con mà nói pháp, sau khi con nghe pháp xong, sẽ ở
một mình nơi chỗ vắng chuyên tinh suy nghĩ, sống không buông
lung, … cho đến ‘tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải
thoát vẫn chưa thuần thục, … cho đến bảo La-hầu-la:
“Ngươi
nên đối với những pháp đã nói ở trên, ở một mình nơi
vắng vẻ chuyên tinh suy nghĩ, mà quán sát nghĩa lý của chúng.”
Bấy
giờ, La-hầu-la vâng lời Phật dạy, như pháp đã nói, như
pháp đã được nghe, suy nghĩ cân nhắc, quán sát nghĩa lý
của chúng, tự nghĩ: “Các pháp này, tất cả đều thuận
hướng Niết-bàn, lưu nhập Niết-bàn, cuối cùng an trụ[55]
Niết-bàn.
Rồi,
một lúc khác, La-hầu-la đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ
dưới chân, rồi lui đứng sang một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đối với pháp đã được nói, pháp con đã được
nghe như trên, con đã ở một mình nơi vắng vẻ, tư duy cân
nhắc và quán sát nghĩa lý của chúng, thì biết những pháp
này tất cả đều thuận hướng Niết-bàn, lưu nhập Niết-bàn,
cuối cùng an trụ Niết-bàn.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn xét thấy tâm của La-hầu-la tuệ giải
thoát đã được thuần thục, có thể nhận lãnh được pháp
tăng thượng, nên bảo La-hầu-la[56]:
“Tất
cả đều vô thường. Những pháp nào là vô thường? Mắt
là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc v.v… đều vô thường
(chi tiết như các kinh trước).”
Tôn
giả La-hầu-la sau khi nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, làm
lễ mà lui.
Sau
khi La-hầu-la đã vâng theo lời Phật dạy rồi, một mình ở
nơi vắng vẻ, sống không buông lung, chuyên tinh tư duy về
mục đích mà một thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc
áo ca-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không gia đình,
chuyên tu phạm hạnh cho đến… ngay trong đời này, tự tri
tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập,
những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh
đời sau nữa.’ Thành bậc A-la-hán, tâm khéo giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, La-hầu-la nghe những gì Đức Phật đã dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
201. LẬU TẬN[57]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật,
làm lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Thế Tôn, biết thế nào, thấy thế nào, để lần lượt nhanh
chóng chứng đắc lậu tận?”[58]
Đức
Thế Tôn bảo Tỳ-kheo kia:
“Hãy
quán sát chân chánh về vô thường. Những pháp nào là vô
thường? Mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm
thọ với khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ,
phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, hãy quán sát là vô thường.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý hãy quán sát là vô thường.
Pháp, ý thức, ý xúc, cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ,
không khổ không lạc thọ, phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc,
tất cả chúng cũng đều là vô thường. Này Tỳ-kheo, biết
như vậy, thấy như vậy thì để lần lượt nhanh chóng chứng
đắc lậu tận.”
Khi
Tỳ-kheo kia đã nghe những gì Đức Phật đã dạy, vui mừng
làm lễ mà lui.
Như
kinh Đức Phật đã dạy cho Tỳ-kheo trên, nhưng có điểm sai
biệt ở chỗ:
-
Biết thế nào, thấy thế nào, để lần lượt dứt sạch
các kết sử[59],
-
Đoạn trừ tất cả những hệ phược[60],
-
Đoạn trừ tất cả những sử[61],
-
Đoạn trừ tất cả những tùy phiền não[62],
-
Đoạn trừ tất cả những kết[63],
-
Đoạn trừ những lưu[64],
-
Đoạn trừ những ách[65],
-
Đoạn trừ những thủ[66],
-
Đoạn trừ những xúc,
-
Những ngăn che (cái) được đoạn trừ,
-
Đoạn trừ các triền phược,
-
Đoạn trừ những cấu uế,
-
Đoạn trừ những ái,
-
Đoạn trừ những ý,
-
Đoạn trừ những tà kiến, sanh chánh kiến,
-
Đoạn trừ vô minh sanh minh. (… )
“Này
Tỳ-kheo, quán sát mắt là vô thường như vậy, cho đến…
biết như vậy, thấy như vậy lần lượt vô minh được đoạn
trừ để sanh ra minh.”
Khi
Tỳ-kheo kia nghe những gì Đức Phật đã dạy rồi vui mừng,
làm lễ mà lui.
*
KINH
202. NGÃ KIẾN ĐOẠN[67]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, rồi bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, biết thế nào, thấy thế nào để lần lượt ngã
kiến được đoạn trừ, vô ngã kiến phát sanh?”
Phật
bảo Tỳ-kheo kia:
“Đối
với mắt mà chánh quán vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn
xúc, cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc
thọ, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, kia cũng chánh quán
là vô ngã. Cũng vậy, cho đến, cảm thọ với khổ thọ, lạc
thọ, không khổ không lạc thọ, phát sanh bởi nhân duyên là
ý xúc, kia cũng chánh quán là vô ngã.
“Này
Tỳ-kheo, biết như vậy, thấy như vậy, thì sẽ lần lượt
ngã kiến được đoạn trừ, vô ngã kiến phát sanh. Khi Tỳ-kheo
kia nghe những gì Đức Phật đã dạy, vui mừng làm lễ mà
lui.
*
KINH
203. NĂNG ĐOẠN NHẤT PHÁP[68]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la[69]
tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào, đoạn trừ được một pháp, thì sẽ đạt
được chánh trí[70] và có thể tự tuyên bố: ‘Ta, sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm
xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là căn bản của pháp, là con mắt của pháp, là sở y
của pháp. Cúi xin diễn nói. Các Tỳ-kheo sau khi nghe xong sẽ
vâng theo lời chỉ dạy mà thực hành.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Này
các Tỳ-kheo, thế nào là đoạn trừ một pháp cho đến…
không còn tái sanh đời sau nữa? Đó là vô minh, ly dục, minh
phát sanh, đạt được chánh trí và có thể tự tuyên bố:
‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần
làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa’.”
Lúc
ấy có Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục,
trịch áo vai hữu, đảnh lễ Phật, gối phải quỳ sát đất,
chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, biết thế nào, thấy thế nào để vô minh ly dục,
minh phát sanh?”[71]
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
quán sát chân chánh mắt là vô thường. Sắc, nhãn thức, nhãn
xúc, cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc
thọ, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, hãy quán sát là
vô thường. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng như vậy.
Tỳ-kheo nào biết như vậy, thấy như vậy đối với vô minh
ly dục, minh phát sanh.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
204. NHƯ THẬT TRI KIẾN[72]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la[73]
tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
“Đối
với mắt, hãy biết như thật, thấy như thật. Hoặc sắc,
nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ, không
khổ không lạc thọ, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc,
hãy biết như thật, thấy như thật. Đối với tai, mũi, lưỡi,
thân, ý cũng lại như vậy. Khi đã biết như thật về chúng,
đã thấy như thật về chúng rồi, đối với mắt sanh ra nhàm
tởm. Đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với
khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ, phát sanh bởi
nhân duyên là nhãn xúc, cũng sanh ra nhàm tởm. Đối với tai,
mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Do nhàm tởm mà không
ái lạc. Do không ái lạc mà được giải thoát, giải thoát
tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
205. ƯU-ĐÀ-NA[74]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la[75]
tại Tỳ-xá-ly. Bấy giờ Đức Thế Tôn nói những bài kệ
Ưu-đà-na rồi, bảo Tôn giả A-nan:
“Mắt
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch, dễ phân[76]; sắc,
nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ, không
khổ không lạc thọ, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc;
chúng cũng vô thường, khổ, là pháp biến dịch, dễ phân.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy. Đa
văn Thánh đệ tử nên quán sát như vậy, đối với mắt sẽ
được giải thoát; đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm
thọ với khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ,
phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc cũng được giải thoát.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý, pháp, ý, ý thức, ý xúc,
cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ,
phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc, cũng sẽ được giải thoát.
Ta bảo người này sẽ giải thoát được sanh, già, bệnh,
chết, ưu, bi, khổ, não.”
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
206. NHƯ THẬT TRI[77]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la
tại Tỳ-xá-ly[78]. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
chuyên cần phương tiện thiền tư[79] để được nội tâm
tịch tĩnh.Vì sao? Này các Tỳ-kheo, do phương tiện thiền tư,
được nội tâm tịch tĩnh, nên tri kiến như thật, như vậy
được hiển hiện[80]. Hiển hiện như thật tri về cái gì?
Hiển hiện như thật tri đối với mắt. Hiển hiện như thật
tri đối với sắc, nhãn thức, nhãn xúc, cảm thọ với khổ
thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ, phát sanh bởi nhân
duyên là nhãn xúc. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại
cũng như vậy. Các pháp này là vô thường, hữu vi cũng được
hiển hiện như thật tri như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
207. TAM-MA-ĐỀ[81]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la
tại Tỳ-xá-ly[82]. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
tu tập vô lượng Tam-ma-đề, chuyên cần tập trung ý nghĩ.
Vì sao? Vì do tu tập vô lượng Tam-ma-đề, chuyên cần tập
trung ý nghĩ mà được như thật hiển hiện[83]. Như thật
hiển hiện cái gì? Như thật hiển hiện đối với mắt.”
Chi
tiết như trên... cho đến:
“Các
pháp này là vô thường, hữu vi, cũng được hiển hiện như
thật như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
208. VÔ THƯỜNG[84]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la
tại Tỳ-xá-ly[85]. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Mắt
quá khứ, vị lai là vô thường, huống chi là mắt hiện tại.
Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy, sẽ không hoài niệm
mắt quá khứ, không ham cầu mắt vị lai và đối với mắt
hiện tại thì nhàm tởm, không ham muốn, ly dục, hướng đến
chán bỏ[86]. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại
như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
]
Như
vô thường, đối với khổ, không, vô ngã cũng thuyết như
vậy[87].
Như
bốn kinh nội nhập xứ, thì bốn kinh ngoại nhập xứ, sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp và bốn kinh nội ngoại nhập xứ
cũng thuyết như vậy[88].
KINH
209. LỤC XÚC NHẬP XỨ[89]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la
tại Tỳ-xá-ly[90]. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
sáu xúc nhập xứ. Những gì là sáu? Đó là, nhãn xúc nhập
xứ nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc nhập xứ. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn
nào đối với sáu xúc nhập xứ này mà không biết như thật
về sự tập khởi, sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại
và sự xuất ly, thì biết rằng Sa-môn, Bà-la-môn này cách
xa pháp, luật của Ta như trời và đất.”
Lúc
ấy, có Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục
đảnh lễ Phật, rồi chắp tay bạch Phật:
“Con
có đầy đủ tri kiến như thật về sự tập khởi, sự diệt
tận, vị ngọt, sự tai hại và sự xuất ly của sáu nhập
xứ này.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Bây
giờ, Ta hỏi ngươi, hãy theo câu hỏi của Ta mà trả lời.
Này Tỳ-kheo, ngươi có thấy nhãn xúc nhập xứ là ngã, khác
ngã, hay ở trong nhau không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Đối với nhãn xúc nhập xứ này là chẳng
phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong nhau, người
nào thấy, biết như thật, thì sẽ không khởi lên các lậu
hoặc, tâm sẽ không nhiễm đắm, tâm được giải thoát. Đó
gọi là xúc nhập xứ đầu tiên đã đoạn trừ, đã biết
rõ, đã đoạn trừ cội gốc của nó như chặt ngọn cây đa-la,
đối với pháp vị lai, nhãn thức và sắc vĩnh viễn không
khởi lên lại.
“Ngươi
có thấy tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc nhập xứ là ngã, khác
ngã, ở trong nhau không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc nhập
xứ, chẳng phải là ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng ở trong
nhau, người nào biết, thấy như thật như vậy, thì sẽ không
khởi lên các lậu hoặc, tâm không đắm nhiễm, tâm đạt
được giải thoát. Đó gọi là Tỳ-kheo đối với sáu xúc
nhập xứ, đã đoạn trừ được, đã biết rõ, đã đoạn
trừ được cội gốc này như chặt ngọn cây đa-la, ý thức
và pháp sẽ không còn sanh trở lại ở đời vị lai nữa.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
210. ĐỊA NGỤC[91]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la
tại Tỳ-xá-ly[92]. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chớ
lạc, chớ khổ[93]. Vì sao? Có địa ngục gọi là Sáu xúc
nhập xứ[94]. Chúng sanh sanh ở trong địa ngục này, mắt chỉ
thấy sắc không đáng ưa, chứ không thấy sắc đáng ưa; chỉ
thấy sắc không đáng tưởng nhớ, chứ không thấy sắc đáng
được tưởng nhớ; chỉ thấy sắc không lành, chứ không
thấy sắc lành. Vì những nhân duyên này nên chỉ một mực
nhận lãnh buồn khổ mà thôi. Tai đối với âm thanh, mũi đối
với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, ý thức
đối pháp cũng chỉ thấy không đáng yêu, chứ không thấy
đáng yêu; chỉ thấy việc không đáng nhớ, chứ không thấy
đáng nhớ; chỉ thấy pháp không lành, chứ không thấy pháp
lành. Vì những nguyên nhân này nên luôn luôn phải chịu buồn
khổ.
“Này
các Tỳ-kheo, có cõi trời gọi là Sáu xúc nhập xứ[95]. Chúng
sanh sanh vào nơi này, mắt chỉ thấy sắc đáng yêu, chứ không
thấy sắc không đáng yêu; chỉ thấy sắc đáng nhớ, chứ
không thấy sắc không đáng nhớ; chỉ thấy sắc lành, chứ
không thấy sắc không lành. Vì những nguyên nhân này, nên
luôn luôn chỉ cảm nhận vui thích mà thôi. Và tai đối với
âm thanh, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối
với xúc, ý thức đối với pháp là đáng yêu, chứ không
phải không đáng yêu; là đáng nhớ, chứ không phải không
đáng nhớ; là lành, chứ không phải là không lành.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
211. THẾ GIAN NGŨ DỤC[96]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở trong vườn Am-la của thầy thuốc Kỳ-bà Câu-ma-la
tại Tỳ-xá-ly[97]. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Xưa
kia, khi Ta chưa thành Chánh giác, ở một mình nơi thanh vắng,
thiền định tư duy, quán sát xem tự tâm phần nhiều hướng
đến nơi nào? Tự tâm phần nhiều chạy theo năm công đức
của dục quá khứ, phần ít chạy theo năm công đức của
dục hiện tại, lại càng rất ít chạy theo đời vị lai.
Khi Ta quán sát thấy tâm phần nhiều chạy theo năm dục quá
khứ, bèn nỗ lực tìm phương tiện, tinh cần tự giữ gìn,
không để chạy theo năm công đức của dục quá khứ nữa.
“Do
tinh cần tự giữ, nên Ta dần dần tiếp cận được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác[98].
“Này
các Tỳ-kheo, các ông cũng phần nhiều chạy theo năm công đức
của dục quá khứ, còn đối với hiện tại, vị lai thì lại
cũng rất ít. Hiện tại, các ông cũng nên vì tâm phần nhiều
chạy theo năm công đức của dục quá khứ đó, tăng cường
tự phòng hộ, không bao lâu cũng sẽ chứng đắc lậu tận,
vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này
tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh
đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn
tái sanh đời sau nữa.’
Vì
sao? Vì mắt thấy sắc làm nhân duyên sanh ra nội cảm thọ,
hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không khổ không vui; tai, mũi, lưỡi,
thân, ý tiếp xúc với pháp làm nhân duyên sanh ra nội cảm
thọ, hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không khổ không vui. Cho nên,
các Tỳ-kheo, đối với những nhập xứ này cần phải giác
tri[99], khi mắt kia diệt, sắc tưởng sẽ lìa[100]; tai, mũi,
lưỡi, thân, ý diệt thì pháp tưởng sẽ lìa.”
Phật
nói cần phải nhận biết sáu nhập xứ rồi, liền vào thất
tọa thiền.
Bấy
giờ, có số đông Tỳ-kheo, sau khi Đức Thế Tôn đi rồi,
bàn luận như vầy:
“Thế
Tôn đã vì chúng ta nói gọn pháp yếu, nhưng không phân tích
đầy đủ mà đã vào thất tọa thiền. Thế Tôn bảo rằng:
‘Sáu nhập xứ cần phải giác tri; khi mắt kia diệt thì sắc
tưởng sẽ lìa; tai, mũi, lưỡi, thân, ý diệt thì pháp tưởng
sẽ lìa.’
“Hiện
tại, đối với pháp do Đức Thế Tôn đã nói gọn, chúng
ta vẫn còn chưa hiểu. Nay ở trong chúng này, ai là người
có trí tuệ có thể vì chúng ta, đối với pháp đã được
Đức Thế Tôn nói gọn đó, mà vì chúng ta diễn nói đầy
đủ nghĩa của nó?
“Họ
lại nghĩ: ‘Chỉ có Tôn giả A-nan, luôn luôn hầu Đức Thế
Tôn, thường được Thế Tôn và các vị phạm hạnh có trí
khen ngợi. Chỉ có Tôn giả A-nan mới có thể vì chúng ta diễn
nói lại nghĩa pháp đã được Đức Thế Tôn nói gọn đó.
Nay, chúng ta cùng nhau đến chỗ Tôn giả A-nan hỏi về ý nghĩa
quan trọng của chúng và theo những gì Tôn giả A-nan nói tất
cả chúng ta sẽ phụng hành.’”
Bấy
giờ, số đông chúng Tỳ-kheo, đi đến chỗ Tôn giả A-nan,
cùng nhau thăm hỏi rồi ngồi qua một bên, bạch Tôn giả A-nan:
“Tôn
giả, nên biết cho, Đức Thế Tôn vì chúng tôi đã nói gọn
pháp yếu, (chi tiết như đã nói ở trên), xin Tôn giả vì
chúng tôi nói đầy đủ nghĩa của chúng.”
Tôn
giả A-nan nói với các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, tôi sẽ vì các thầy mà nói về
pháp đã được Đức Thế Tôn nói gọn một cách đầy đủ
nghĩa của chúng. Đức Thế Tôn đã nói tóm gọn chỉ cho việc
diệt sáu nhập xứ, còn những điều khác sẽ nói là nhãn
xứ diệt thì sắc tưởng sẽ lìa; và tai, mũi, lưỡi, thân,
ý nhập xứ diệt, thì pháp tưởng sẽ lìa. Đức Thế Tôn
nói gọn pháp này xong vào thất thiền định. Nay tôi đã vì
các ông phân tích nghĩa này.”
Tôn
giả A-nan nói nghĩa này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Tôn
giả đã nói, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
212. BẤT PHÓNG DẬT[101]
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Ta
không vì tất cả các Tỳ-kheo mà nói hành không buông lung[102],
cũng chẳng phải không vì tất cả các Tỳ-kheo mà nói hành
không buông lung.
“Ta
không nhắm đến những hạng Tỳ-kheo nào để nói hành không
buông lung? Nếu Tỳ-kheo đã chứng đắc A-la-hán, đã diệt
tận các lậu, đã rời bỏ các gánh nặng, đã đạt được
mục đích của mình, đã tận trừ các kết sử hữu[103],
tâm chánh giải thoát; đối với hạng Tỳ-kheo như vậy, Ta
không vì họ nói hạnh không buông lung. Vì sao? Vì các hàng
Tỳ-kheo này đã hành không buông lung, nên không thể nào hành
buông lung nữa. Nay Ta thấy các Tôn giả kia đã đạt được
quả không buông lung, cho nên không phải vì họ mà nói hành
không buông lung.
“Vì
những hạng Tỳ-kheo nào mà nói hành không buông lung? Đó là
hàng Tỳ-kheo còn ở học địa, tâm, ý chưa được tăng thượng
an ổn, hướng đến an trụ Niết-bàn. Đối với những hàng
Tỳ-kheo như vậy, Ta vì họ mà nói hành không buông lung. Vì
sao? Vì hàng Tỳ-kheo này đang tập học các căn, tâm còn ái
lạc theo các phương tiện sinh sống, gần gũi bạn lành, chẳng
bao lâu các lậu được đoạn trừ, được vô lậu tâm giải
thoát, tuệ giải thoát; ngay trong hiện tại tự tri tự tác
chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’
“Vì
sao? Vị kia, sau khi thấy sắc đáng được yêu thích và đắm
trước được nhận thức bởi mắt; Tỳ-kheo này thấy rồi,
không vui, không khen ngợi, không nhiễm, không trói đắm vào.
Vì không vui, không khen ngợi, không nhiễm, không bị trói đắm
vào, nên nỗ lực tinh tấn, thân tâm an chỉ, tịch tĩnh, tâm
tuyệt đối an trụ không quên, thường định nhất tâm, pháp
hỷ không lường, sớm được tam-muội Chánh thọ đệ nhất,
không bao giờ bị thoái thất theo nơi mắt và sắc. Đối với
tai, mũi, lưỡi, thân, ý và pháp cũng lại như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
213. PHÁP[104]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ vì các ông diễn nói hai pháp. Hãy lắng nghe và suy nghĩ
kỹ. Hai pháp đó là gì? Nhãn và sắc là hai: tai và âm thanh,
mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp là hai.
Đó gọi là hai pháp.
“Nếu
có Sa-môn, Bà-la-môn nào nói như vầy: ‘Đây chẳng phải
là hai. Hai pháp mà Sa-môn Cù-đàm nói, đó thật sự không
phải là hai[105].’ Người kia nói hai pháp theo ý của mình,
đấy chỉ có trên ngôn thuyết; khi hỏi đến thì sẽ không
biết, khiến sẽ tăng thêm nghi hoặc cho họ, vì đây chẳng
phải là cảnh giới của họ. Vì sao? Vì duyên vào mắt và
sắc sanh ra nhãn thức, cả ba hòa hợp duyên lại thành xúc,
duyên vào xúc sanh ra cảm thọ, hoặc khổ, hoặc vui, hoặc
không khổ không vui. Nếu không biết như thật về sự tập
khởi của cảm thọ, về sự diệt tận của cảm thọ, về
vị ngọt của cảm thọ, về sự tai hại của cảm thọ, về
sự xuất ly cảm thọ này, thì sẽ gieo trồng tham dục nơi
thân xúc, sẽ gieo trồng sân nhuế nơi thân xúc, sẽ gieo trồng
giới thủ về thân xúc, sẽ gieo trồng ngã kiến nơi thân
xúc; cũng gieo trồng và làm tăng trưởng các ác pháp bất
thiện. Thuần một tụ khổ lớn như vậy, đều từ sự tập
khởi mà sanh ra. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và pháp
làm nhân duyên sanh ra ý thức. Cả ba chúng hòa hợp sanh ra
xúc, nói chi tiết như trên.
“Lại
nữa, khi nhãn duyên vào sắc sanh ra nhãn thức, cả ba chúng
hòa hợp sanh ra xúc và xúc làm duyên sanh ra cảm thọ, hoặc
khổ, hoặc vui, hoặc không khổ không vui. Khi đã biết về
sự tập khởi của cảm thọ, về sự diệt tận của cảm
thọ, về vị ngọt của cảm thọ, về sự tai hại của cảm
thọ, về sự xuất ly của cảm thọ như vậy rồi, thì sẽ
không gieo trồng tham dục nơi thân xúc, sẽ không gieo trồng
sân nhuế nơi thân xúc, sẽ không gieo trồng giới thủ nơi
thân xúc, sẽ không gieo trồng ngã kiến về thân xúc, sẽ
không gieo trồng các pháp ác bất thiện. Như vậy các pháp
ác bất thiện sẽ bị tiêu diệt và thuần một tụ khổ lớn
cũng bị tiêu diệt. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý và
pháp lại cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
214. NHỊ PHÁP[106]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có
hai nhân duyên sanh ra thức. Những gì là hai? Đó là: mắt và
sắc; tai và mũi; lưỡi và vị; thân và xúc; ý và pháp. Nói
chi tiết như trên, cho đến… chẳng phải là cảnh giới của
thọ.
“Vì
sao? Vì mắt và sắc làm nhân duyên sanh ra nhãn thức, chúng
là pháp hữu vi, vô thường, tâm duyên mà sanh; ba pháp này
hòa hợp sanh ra xúc, xúc rồi sanh cảm thọ, cảm thọ rồi
sanh tư, tư rồi sanh tưởng. Tất cả những pháp này là pháp
hữu vi, vô thường, tâm duyên mà sanh, tức là: xúc, tưởng,
tư. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
215. PHÚ-LƯU-NA[107]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Phú-lưu-na cùng các Tỳ-kheo
đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng
lui qua một bên, bạch Phật:
“Thế
Tôn nói pháp hiện thấy, nói dập tắt sự rực cháy, nói
không đợi thời, nói hướng đạo chân chánh, nói chính nơi
đây mà thấy, nói duyên tự tâm mà giác ngộ[108]. Vậy, bạch
Thế Tôn thế nào là pháp hiện thấy, cho đến duyên tự tâm
mà giác ngộ?
Phật
bảo Phú-lưu-na:
“Lành
thay! Phú-lưu-na có thể hỏi những điều này. Này Phú-lưu-na,
hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Này
Phú-lưu-na, mắt thấy sắc rồi giác tri[109] sắc, giác tri
sắc tham. Nếu bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được
nhận thức bởi mắt, thì biết như thật rằng bên trong ta
có sự tham ái đối với sắc được nhận thức bởi mắt.
Này Phú-lưu-na, nếu mắt thấy sắc rồi giác tri sắc, giác
tri sắc tham, biết như thật rằng bên trong ta có sự tham ái
đối với sắc được nhận thức bởi mắt. Đó gọi là pháp
được hiện thấy[110].
“Thế
nào là dập tắt sự rực cháy? Thế nào là không đợi thời?
Thế nào là hướng đạo chân chánh? Thế nào là chính nơi
đây mà thấy? Thế nào là duyên tự tâm mà giác ngộ?