TẠP
A-HÀM QUYỂN 7
KINH
139. ƯU NÃO SANH KHỞI[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, mà nếu ưu, bi, khổ, não
chưa khởi, thì khiến cho nó khởi; ưu, bi, khổ, não đã khởi,
thì khiến cho nó càng tăng trưởng rộng lớn thêm?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Cúi
xin Thế Tôn nói rộng ra; các Tỳ-kheo sau khi nghe xong sẽ vâng
lời thực hành.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Do
có sắc, sanh khởi sắc, hệ lụy, đắm đuối sắc, nơi sắc
thấy ngã, cho nên, ưu, bi, khổ, não chưa khởi thì khiến cho
khởi; ưu, bi, khổ, não đã khởi, thì khiến tăng trưởng
rộng thêm. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như
vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô
thường?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là vô thường.”
Lại
hỏi:
“Vô
thường có phải là khổ chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là khổ.”
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, nếu vô thường là khổ. Vì có khổ
này nên sanh khởi sự ấy[2], hệ lụy, đắm đuối, thấy
ngã, cho nên, ưu, bi, khổ, não chưa khởi thì khiến khởi;
ưu, bi, khổ, não đã khởi thì khiến cho tăng trưởng rộng
lớn thêm. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như
vậy.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc
vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô,
hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất
cả chúng chẳng phải là ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng
ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ. Đối với thọ, tưởng,
hành, thức lại cũng như vậy.
“Cũng
vậy, cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết, cái sở cầu,
cái sở đắc[3], cái được nhớ nghĩ, cái được tùy giác,
cái được tùy quán; tất cả đều chẳng phải ngã, chẳng
phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.
“Nếu
có kiến chấp cho rằng có ngã, có thế gian, có đời này,
có đời khác, là pháp thường hằng, không biến dịch, thì
tất cả đều chẳng phải ngã, chẳng phải khác ngã, chẳng
ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.
“Lại
nữa, nếu có kiến chấp cho rằng không phải cái tôi đời
này, không phải cái của tôi đời này[4], không phải là tôi
trong tương lai, không phải là cái của tôi trong tương lai;
thì tất cả chúng cũng đều chẳng phải ngã, chẳng phải
khác ngã, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.
“Nếu
đa văn Thánh đệ tử ở nơi sáu kiến xứ này mà quán sát
chẳng phải là ngã, chẳng phải ngã sở. Quán sát như vậy
rồi, thì dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Phật, dứt
hết mọi sự hồ nghi đối với Pháp và đối với Tăng. Đó
gọi là, Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không còn trở lại
tạo nghiệp thân, miệng, ý để đưa đến ba đường ác;
giả sử có buông lung, Thánh đệ tử cũng nhất định hướng
đến chánh giác[5], bảy lần qua lại trời người, rồi cứu
cánh biên tế khổ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
140
Kinh
tiếp theo cũng như vậy, nhưng có sự sai biệt ở chỗ: Dứt
hết mọi sự hồ nghi đối với Khổ-Tập-Diệt-Đạo.
KINH
141
Kinh
tiếp theo cũng như vậy, nhưng lại có sự sai biệt ở chỗ:
Dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Phật-Pháp-Tăng và Khổ-Tập-Diệt-Đạo.
KINH
142. NGÃ NGÃ SỞ[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, mà nếu ngã, ngã sở, ngã
mạn kết sử[7] chưa khởi, thì khiến cho nó khởi; mà nếu
ngã, ngã sở, ngã mạn kết sử đã khởi, thì khiến cho càng
tăng trưởng rộng lớn thêm?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Cúi
xin Thế Tôn nói rộng ra; các Tỳ-kheo sau khi nghe xong sẽ hoan
hỷ vâng lời thực hành.”
(...)
chi tiết như kinh trên (kinh 139), cho đến:
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
143 VÀ KINH 144
Hai
kinh này dạy cũng như kinh trên (kinh 139).
KINH
145. HỮU LẬU CHƯỚNG NGẠI[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, mà nếu hữu lậu, chướng
ngại, thiêu đốt, ưu, bi, khổ, não chưa khởi thì sanh khởi;
hữu lậu, chướng ngại, thiêu đốt, ưu, bi, khổ, não, đã
sanh khởi thì khiến cho càng tăng trưởng rộng lớn thêm?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp (...).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
146. TAM THỌ [9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, mà khiến cho ba thọ chuyển
hiện ở thế gian?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp (...).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
147. TAM KHỔ[10]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, mà khiến cho ba khổ chuyển
hiện ở thế gian?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp (...).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
148. THẾ BÁT PHÁP
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, mà khiến cho tám thế pháp[11]
chuyển hiện ở thế gian?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp (...).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
149. NGÃ THẮNG[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Ta hơn, ta bằng, ta kém?’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là nơi nương tựa của pháp
(…).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
150. THA THẮNG[13]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Cóù người hơn ta, có người bằng
ta, có người thua ta?’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là nơi sở y của pháp
(...).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
151. VÔ THẮNG[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Không có người hơn ta, không có
người ngang ta, không có người thua ta?’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là nơi nương tựa của pháp
(…).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
152. HỮU NGÃ[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Có ta, có đời này, có đời khác,
là pháp thường hằng không biến đổi, an trụ như vậy?’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là nơi nương tựa của pháp
(…).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
153. BẤT NHỊ[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Như vậy, ta và cái kia[17], tất
cả không phải hai, không phải khác, bất diệt?’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp (…).”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
154. VÔ QUẢ[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Không có bố thí[19], không hội
tế[20], không có chú thuyết[21], không có nghiệp báo đường
lành, đường ác, không có đời này, không có đời khác,
không có cha mẹ, không có chúng sanh, không có thế gian, trong
thế gian không có A-la-hán, không có bậc chánh hành, chánh
hướng[22] để đời này hay đời sau, thấy pháp an trụ đầy
đủ với tự tri, tự tác chứng rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết
không còn tái sanh đời sau nữa[23]?’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
KINH
155. VÔ LỰC[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Không có lực, không có tinh tấn,
không có lực tinh tấn, không có phương tiện của con người,
không tinh cần của con người, không có phương tiện tinh cần
của con người, không có tự mình làm, không có người khác
làm, không có tự mình và người khác làm; hết thảy con người,
hết thảy chúng sanh, hết thảy thần, đều vô phương tiện,
bất lực, vô thế, vô tinh tấn, không khả năng, định phận,
tương tục, chuyển biến, chịu khổ vui trong sáu đường[25]?’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
156. TỬ HẬU ĐOẠN HOẠI[26]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy[27]: ‘Những chúng sanh sống trong đời
này, sau khi chết đoạn hoại không còn gì. Con người do bốn
đại hòa hợp, sau khi thân hoại mạng chung, thì đất trở
về đất, nước trở về nước, lửa trở về lửa, gió trở
về gió, thành người thứ năm nằm trên cáng, còn bốn người
kia khiêng thây người chết đưa đến bãi tha ma, cho đến
khi chưa thiêu đốt thì có thể nhận biết, nhưng khi đã thiêu
đốt rồi thì xương cốt trắng tinh như màu chim bồ câu.
Người kiêu mạn biết bố thí, người có một chút trí tuệ
biết nhận lãnh: ai nói có sự việc ấy thì tất cả những
gì họ nói ra đó chỉ là những lời nói dối không thật[28];
hoặc dù ngu hay trí mà sau khi chết qua đời khác, thì tất
cả đều đoạn hoại không còn gì?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
157. VÔ NHÂN VÔ DUYÊN (1)[29]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Chúng sanh phiền não, không nhân,
không duyên[30]’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
158. VÔ NHÂN VÔ DUYÊN (2)[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Chúng sanh thanh tịnh, không nhân,
không duyên[32]’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
159. VÔ NHÂN VÔ DUYÊN (3)[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Chúng sanh không tri không kiến, không
nhân, không duyên’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp.(…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
160. VÔ NHÂN VÔ DUYÊN (4)[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp.(…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
161. THẤT THÂN[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Có bảy thân, chẳng phải tạo tác,
chẳng phải là được tạo tác; chẳng phải biến hóa, chẳng
phải là được biến hóa, là chắc thật, không dao động,
không giết. Những gì là bảy? Đó là: thân đất, thân nước,
thân lửa, thân gió, khổ, lạc, mạng. Bảy loại thân này
chẳng phải tạo tác, chẳng phải là được tạo tác; chẳng
phải biến hóa, chẳng phải là được biến hóa, là chắc
thật, không dao động, không giết, không chuyển, không biến,
không bức bách nhau; hoặc phước, hoặc ác, hoặc phước ác;
hoặc khổ, hoặc vui, hoặc khổ vui; hoặc người bị bêu đầu,
hoặc người chém đầu, cũng không bức bách thế gian; hoặc
mạng, hoặc thân, trong khoảng bảy thân, chịu đựng đao đâm
qua lại cũng không hại mạng; ở đây không giết, không người
giết; không trói buộc, không người trói buộc; không nhớ
nghĩ, không người nhớ nghĩ; không dạy dỗ, không người
dạy dỗ[36]?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
162. TÁC GIÁO[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Làm, bảo làm, đoạn mạng, bảo
đoạn mạng, nấu, bảo nấu; giết, bảo giết, sát hại chúng
sanh; trộm của người; hành tà dâm; biết mà nói dối; uống
rượu; khoét tường, bẻ khóa, cướp đoạt; đón đường,
phá làng xóm, hại thành ấp, dùng kiếm cực bén chém, chặt,
cắt chất thành đống thịt lớn; học tập như vậy, làm
như vậy, chẳng phải là nhân duyên ác, cũng chẳng phải chiêu
mời quả báo ác. Đi về phía Nam sông Hằng, sát hại. Đi
đến phía Bắc sông Hằng mở đại hội cúng tế; làm như
vậy, chẳng phải là nhân duyên phước hay là ác và cũng chẳng
phải là chiêu mời quả báo phước hay là ác; bố thí, tự
chế ngự, hộ trì, hành lợi, đồng lợi, những việc làm
ở đây cũng chẳng phải là làm phước[38]’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp.(…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
163. SANH TỬ ĐỊNH LƯỢNG[39]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Ở đây có mười bốn trăm ngàn
cửa sanh[40], sáu mươi ngàn, sáu trăm[41]; có năm nghiệp[42],
ba nghiệp, hai nghiệp, một nghiệp, nửa nghiệp; sáu mươi
hai đạo tích[43], sáu mươi hai nội kiếp[44], một trăm hai
mươi Nê-lê[45], một trăm ba mươi căn[46], ba mươi sáu tham
giới[47], bốn mươi chín ngàn loại rồng, bốn mươi chín
ngàn loại kim sí điểu, bốn mươi chín ngàn loại ngoại đạo
tà mạng[48], bốn mươi chín ngàn loại ngoại đạo xuất gia,
bảy kiếp tưởng, bảy kiếp vô tưởng[49], bảy A-tu-la, bảy
Tỳ-xá-giá, bảy trời, bảy người, bảy trăm biển[50], bảy
mộng, bảy trăm mộng, bảy vực thẳm, bảy trăm vực thẳm,
bảy giác, bảy trăm giác, sáu sanh[51], mười tăng tiến, tám
đại sĩ địa. Ở trong tám vạn bốn ngàn đại kiếp này,
hoặc ngu si, hoặc trí tuệ, qua lại từng trải, rồi mới
cùng tận mé khổ[52]. Ở đó không có Sa-môn, Bà-la-môn có
thể nói như vầy: ‘Tôi luôn luôn giữ giới, nhận các khổ
hạnh, tu các phạm hạnh; để nghiệp chưa chín mùi khiến
được chín mùi, nghiệp đã chín mùi rồi thì buông bỏ.’
Tiến thoái, không thể biết. Ở đây, khổ và lạc là thường
trụ, sống và chết có giới hạn nhất định. Giống như
ống chỉ, ném vào giữa hư không từ từ rơi xuống dần,
cho tới đất rồi dừng lại; việc sống chết có giới hạn
nhất định, trong tám vạn bốn ngàn đại kiếp cũng như vậy[53].’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
164. PHONG[54]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Gió không thổi, lửa không cháy,
nước không chảy, tên không bắn, mang thai không sanh, sữa
không vắt, mặt trời mặt trăng mọc mà như lặn[55], hoặc
sáng hoặc tối, không thể biết’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
165. ĐẠI PHẠM[56]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Đại Phạm này là đấng tự tại,
đấng sáng tạo, là cha của chúng sanh?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (...)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
166. SẮC THỊ NGÃ (1)[57]
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Sắc là ngã[58], ngoài ra chỉ là
hư danh; không sắc là ngã, ngoài ra chỉ là hư danh; sắc phi
sắc là ngã, ngoài ra chỉ là hư danh; phi sắc phi phi sắc là
ngã, ngoài ra chỉ là hư danh; ngã là hữu biên, ngoài ra chỉ
là hư danh; ngã là vô biên, ngoài ra chỉ là hư danh; ngã là
hữu biên và vô biên, ngoài ra chỉ là hư danh; ngã chẳng phải
là hữu biên và chẳng phải là vô biên, ngoài ra chỉ là hư
danh; một tưởng, đa dạng thứ tưởng, nhiều tưởng, vô
lượng tưởng; ngã chỉ một mực là lạc, chỉ một mực
là khổ, hoặc vừa khổ vừa lạc, không khổ không lạc ngoài
ra chỉ là hư danh’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
167. SẮC THỊ NGÃ (2)[59]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Sắc là ngã[60], ngoài ra chỉ là
vọng tưởng; phi sắc phi phi sắc là ngã, ngoài ra chỉ là
vọng tưởng; ngã là hữu biên, ngoài ra chỉ là vọng tưởng;
ngã là vô biên, ngoài ra chỉ là vọng tưởng; ngã chẳng phải
là hữu biên và chẳng phải là vô biên, ngoài ra chỉ là vọng
tưởng; một tưởng, đa dạng thứ tưởng, nhiều tưởng,
vô lượng tưởng; ngã chỉ một mực là lạc, chỉ một mực
là khổ, hoặc vừa khổ vừa lạc, không khổ-không lạc ngoài
ra chỉ là hư danh’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
168. THẾ GIAN THƯỜNG[61]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Thế gian là thường; thế gian là
vô thường; thế gian là thường – vô thường; thế gian là
chẳng phải thường, chẳng phải vô thường[62]. Thế gian
là hữu biên, thế gian là vô biên; thế gian là hữu biên –
vô biên; thế gian là chẳng phải hữu biên, chẳng phải vô
biên[63]. Mạng tức là thân, mạng khác thân khác[64]. Sau khi
Như Lai mất là có, sau khi Như Lai mất là không; sau khi Như
Lai mất là vừa có vừa không; sau khi Như Lai mất là vừa
chẳng phải có vừa chẳng phải chăng[65]’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
169. THẾ GIAN NGÃ THƯỜNG[66]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Thế gian, ngã là thường; thế gian,
ngã là vô thường; thế gian, ngã là thường – vô thường;
thế gian, ngã là chẳng phải thường chẳng phải vô thường;
ngã khổ là thường; ngã khổ là vô thường; ngã khổ là
thường – vô thường; ngã khổ là chẳng phải thường chẳng
phải vô thường; thế gian, ngã là tự tạo; thế gian, ngã
là cái khác tạo; thế gian, ngã là tự tạo và cái khác tạo;
thế gian, ngãø chẳng phải là tự tạo, chẳng phải là cái
khác tạo, chẳng phải tự cũng chẳng phải cái khác, không
nhân tạo tác; thế gian, ngã khổ là tự tạo; thế gian, ngã
khổ là cái khác tạo; thế gian, ngã khổ vừa tự vừa cái
khác tạo; thế gian, ngã khổ chẳng phải tự cũng chẳng phải
cái khác, không nhân tạo tác’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (...)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
170. NGỘ LẠC NIẾT-BÀN[67]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Nếu không khoái lạc ngũ dục, thì
sẽ Bát-niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Nếu ly dục, lìa
pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có lạc phát sanh do
ly dục, nhập vào Sơ thiền, cho đến, đệ Tứ thiền. Đó
là đệ nhất nghĩa Bát-niết-bàn’?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (...)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
171. NGÃ CHÁNH ĐOẠN[68]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do khởi cái gì, do hệ lụy cái gì, do đắm đuối
cái gì, do thấy ngã nơi cái gì, khiến cho chúng sanh thấy
như vầy, nói như vầy: ‘Nếu sắc bốn đại thô đoạn hoại,
không còn gì, thì đó gọi là ngã bị đoạn diệt thật sự.
Nếu ngã ở dục giới đoạn hoại, sau khi chết sẽ không
còn gì nữa, thì đó gọi là ngã bị đoạn diệt thật sự.
Nếu ngã ở sắc giới, sau khi chết không còn gì nữa, thì
đó gọi là ngã bị đoạn diệt thật sự. Nếu đạt được
không nhập xứ, vô sở hữu nhập xứ, phi tưởng phi phi tưởng
nhập xứ, sau khi chết ngã bị đoạn hoại không còn gì nữa,
thì đó gọi là ngã bị đoạn hoại thật sự.’”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi
tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140,
141).
KINH
172. ĐƯƠNG ĐOẠN[69]
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
pháp là vô thường, thì nên đoạn trừ; khi đãø đoạn trừ
được pháp này rồi, thì sẽ được nhiều lợi ích và luôn
luôn được an lạc. Pháp nào là vô thường? Sắc là vô thường;
thọ, tưởng, hành, thức là vô thường.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
KINH
173. QUÁ KHỨ ĐƯƠNG ĐOẠN[70]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
pháp quá khứ là vô thường, thì nên đoạn trừ; khi đã đoạn
trừ pháp này rồi, thì sẽ được nhiều lợi ích và luôn
luôn được an lạc. Pháp quá khứ nào là vô thường? Sắc
quá khứ là pháp vô thường, dục quá khứ là pháp vô thường,
nên pháp này phải đoạn trừ; khi đã đoạn trừ pháp này
rồi, thì sẽ được nhiều lợi ích và luôn luôn được an
lạc; đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Cũng
vậy, các kinh: Vị lai, Hiện tại, Quá khứ; Hiện tại-vị
lai; Hiện tại-quá khứ; Vị lai-quá khứ; Vị lai-hiện tại;
chi tiết như kinh trên.
KINH
174. CẦU ĐẠI SƯ (2)[71]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Vì
muốn đoạn trừ pháp vô thường, nên phải cầu Đại sư.
Sao gọi là pháp vô thường? Sắc là pháp vô thường, vì muốn
đoạn trừ pháp này nên phải cầu Đại sư; đối với thọ,
tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Cũng
vậy, tám kinh sau đây:
-
Quá khứ,
-
Vị lai,
-
Hiện tại
-
Hiện tại-vị lai;
-
Hiện tại-quá khứ;
-
Vị lai-quá khứ;
-
Vị lai-hiện tại;
-
Nên cầu Đại sư như thế.
Các
kinh sau đây[72], mỗi kinh thêm các chi tiết như tám kinh trên:
-
Chủng chủng giáo tùy thuận,
-
An,
-
Quảng an,
-
Châu phổ an,
-
Đạo (dẫn đường),
-
Quảng đạo (dẫn đường rộng rãi),
-
Cứu cánh đạo (dẫn đường rốt ráo),
-
Thuyết,
-
Quảng thuyết,
-
Tùy thuận thuyết,
-
Đệ nhị bạn,
-
Chân tri thức,
-
Đồng ý,
-
Mẫn,
-
Bi,
-
Sùng nghĩa,
-
Sùng an uỷ,
-
Lạc,
-
Sùng xúc,
-
Sùng an ổn,
-
Dục,
-
Tinh tấn,
-
Phương tiện,
-
Quảng phương tiện,
-
Kham năng phương tiện,
-
Kiên cố,
-
Cường,
-
Kiện,
-
Dũng mãnh,
-
Thân tâm dũng mãnh,
-
Nan phục nhiếp thọ,
-
Thường học,
-
Bất phóng dật,
-
Tu,
-
Tư duy,
-
Niệm,
-
Giác,
-
Tri,
-
Minh,
-
Tuệ,
-
Biện,
-
Tư lương,
-
Phạm hạnh
-
Như ý,
-
Chánh cần,
-
Căn,
-
Lực,
-
Giác,
-
Đạo,
-
Chỉ,
-
Quán,
-
Niệm thân,
-
Chánh ức niệm.
Như
kinh “Đoạn nghĩa” các kinh sau đây cũng có nội dung như
vậy:
-
Tri nghĩa,
-
Tận nghĩa,
-
Thổ nghĩa,
-
Chỉ nghĩa,
-
Xả nghĩa.[73]
KINH
175. CỨU ĐẦU NHIÊN THÍ[74]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Như
có người bị lửa đốt đầu và áo, phải làm sao để cứu?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, phải gấp rút, nhanh chóng, nỗ lực tìm cách để
dập tắt nó.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Đầu
và áo bị đốt cháy còn có thể tạm quên đi được, còn
lửa vô thường mà hừng hực thì cần phải đoạn trừ tận
diệt. Vì muốn đoạn trừ lửa vô thường, thì nên cần cầu
bậc Đại sư. Vì muốn đoạn trừ những pháp vô thường
nào nên cần cầu bậc Đại sư? Vì muốn đoạn trừ sắc
vô thường, nên cần cầu bậc Đại sư; vì muốn đoạn trừ
thọ, tưởng, hành, thức vô thường, nên cần cầu bậc Đại
sư.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Như
kinh “Đoạn trừ vô thường,” cũng vậy, các kinh sau đây[75]
tương tự:
-
Quá khứ vô thường,
-
Vị lai vô thường,
-
Hiện tại vô thường;
-
Quá khứ, vị lai vô thường;
-
Quá khứ hiện tại vô thường;
-
Vị lai, hiện tại vô thường;
-
Quá khứ, vị lai, hiện tại vô thường như vậy.
Như
tám kinh Thí dụ cứu lửa trên đầu đã nói chi tiết như
trên.
Cũng
như “Cầu bậc Đại sư”, các kinh “Chủng chủng giáo”,
“Tùy thuận giáo”, chi tiết như trên đã nói[76].
Cũng
ý nghĩa như “đoạn”, các kinh có nghĩa “tận, thổ, chỉ,
xả, diệt, một” cũng chi tiết như vậy.
KINH
176. THÂN QUÁN TRỤ (1)[77]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Vì
để đoạn trừ vô thường, hãy tùy thuận tu tập an trụ
quán thân trên nội thân[78]. Những gì là pháp vô thường?
Sắc là vô thường. Vì để đoạn trừ vô thường, hãy tùy
thuận tu tập an trụ quán thân trên nội thân. Cũng vậy, thọ
tưởng, hành, thức là vô thường. Vì muốn đoạn trừ chúng
nên hãy tùy thuận tu tập an trụ quán thân trên nội thân.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Cũng
như kinh “Vô thường,” cũng vậy, với nội dung tương tự:
-
Sắc quá khứ là vô thường;
-
Sắc vị lai;
-
Sắc hiện tại;
-
Sắc quá khứ, vị lai;
-
Sắc quá khứ, hiện tại;
-
Sắc vị lai, hiện tại;
-
Sắc quá khứ, vị lai, hiện tại là vô thường. Vì muốn
đoạn trừ chúng, nên tùy thuận tu quán trụ nội thân trên
thân. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
Cũng
như “Tùy thuận tu tập với sự quán trụ thân trên nội
thân,” có các kinh[79] với nội dung tương tự:
-
Quán thân trên ngoại thân,
-
Quán thân trên nội ngoại thân;
-
Quán thọ trên nội thọ,
-
Quán thọ trên ngoại thọ,
-
Quán thọ trên nội ngoại thọ;
-
Quán tâm trên nội tâm,
-
Quán tâm trên ngoại tâm,
-
Quán tâm trên nội ngoại tâm;
-
Quán pháp trên nội pháp,
-
Quán pháp trên ngoại pháp,
-
Quán pháp trên nội ngoại pháp.
Cũng
như kinh với nghĩa “Đoạn trừ vô thường, hãy tu bốn Niệm
xứ.” Cũng vậy các kinh: tri nghĩa, tận nghĩa, thổ nghĩa,
chỉ nghĩa, xả nghĩa, diệt nghĩa, một nghĩa nên tùy thuận
tu Tứ niệm xứ cũng dạy như trên.
KINH
177. THÂN QUÁN TRỤ (2)[80]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Như
có người bị lửa đốt đầu và áo, phải làm sao để cứu?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, phải gấp rút, nhanh chóng, nỗ lực tìm cách để
dập tắt nó.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Đầu
và áo bị đốt cháy còn có thể tạm quên đi được, còn
lửa vô thường mà hừng hực thì cần phải đoạn trừ tận
diệt. Vì để đoạn trừ lửa vô thường, nên tùy thuận
tu tập an trụ quán thân trên nội thân. Thế nào là để đoạn
trừ lửa vô thường mà tùy thuận tu tập an trụ quán thân
trên nội thân? Sắc là vô thường, vì muốn đoạn trừ nó,
nên phải tùy thuận tu quán trụ thân trên nội thân. Đối
với thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, vì muốn đoạn