TẠP
A-HÀM QUYỂN 6
KINH
111. HỮU LƯU[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú ở tại núi Ma-câu-la[2]. Bấy giờ có Tỳ-kheo
thị giả tên là La-đà[3], vào buổi chiều, sau khi xuất thiền,
đến chỗ Phật, lạy sát chân Phật, rồi ngồi lui qua một
bên, bạch Phật:
“Như
Thế Tôn nói, ‘hữu lưu’[4]. Vậy, thế nào gọi là hữu
lưu? Và thế nào gọi là hữu lưu diệt[5]?”
Phật
bảo La-đà:
“Hay
thay câu hỏi của ông! Ta sẽ vì ông mà nói. Nói hữu lưu,
tức là, những kẻ phàm phu ngu si, không học, không biết như
thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của
sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về
sự xuất ly sắc. Vì không biết như thật nên, đối với
sắc lại ái lạc, tán thán, chấp chặt, đắm nhiễm. Do duyên
ái lạc sắc nên có thủ; duyên thủ nên có hữu; duyên hữu
nên có sanh; duyên sanh nên có già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ,
não tăng trưởng; như vậy là tập khởi của thuần một khối
khổ lớn. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như
vậy. Đó gọi là hữu lưu.
“Đa
văn Thánh đệ tử biết như thật về sự tập khởi của
sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc,
về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc. Do biết như
thật nên, đối với sắc kia không khởi ái lạc, tán thán,
chấp chặt, đắm nhiễm. Vì không ái lạc, tán thán, chấp
chặt, đắm nhiễm nên, sắc ái diệt; do ái diệt nên thủ
diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do hữu diệt nên sanh diệt;
do sanh diệt nên già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não thuần
một tụ khổ lớn như vậy diệt. Đối với thọ, tưởng,
hành, thức lại cũng như vậy. Đó gọi là những lời dạy
của Như Lai về hữu lưu và hữu lưu diệt.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
112. ĐOẠN TRI[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú ở tại núi Ma-câu-la[7]. Bấy giờ có Tỳ-kheo
thị giả tên là La-đà[8], vào buổi chiều, sau khi xuất thiền,
đến chỗ Phật, lạy sát chân Phật, rồi ngồi lui qua một
bên, bạch Phật:
“Bạch,
như Thế Tôn nói, ‘Biến tri[9] sắc; biến tri thọ, tưởng,
hành, thức.’ Bạch Thế Tôn, vậy thế nào là biến tri sắc;
biến tri thọ, tưởng, hành, thức?”
Phật
bảo La-đà:
“Hay
thay câu hỏi của ông! Ta sẽ vì ông mà nói. Đối với sắc
mà ưu, bi, khổ, não hết, ly dục, diệt, tịch tĩnh; thì đó
gọi là biến tri sắc. Đối với thọ, tưởng, hành, thức
mà ưu, bi, khổ, não hết, ly dục, diệt, tịch tĩnh; thì đó
gọi là biến tri thọ, tưởng, hành, thức.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
113. ĐOẠN SẮC KHỔ[10]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo
thị giả tên là La-đà.
Khi
ấy, có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo đến chỗ
Tôn giả, cùng thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua một bên, hỏi
Tôn giả La-đà:
“Vì
sao thầy theo Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm hạnh?”
Tôn
giả La-đà trả lời:
“Vì
tôi muốn đoạn trừ khổ, nên theo Thế Tôn xuất gia tu phạm
hạnh.”
Lại
hỏi:
“Thầy
vì muốn đoạn trừ những thứ khổ nào, nên phải theo Sa-môn
Cù-đàm xuất gia tu phạm hạnh?”
La-đà
trả lời:
“Vì
muốn đoạn trừ cái khổ về sắc, nên theo Thế Tôn xuất
gia tu phạm hạnh. Vì muốn đoạn trừ cái khổ về thọ, tưởng,
hành, thức nên theo Thế Tôn xuất gia tu phạm hạnh.”
Khi
các xuất gia ngoại đạo nghe Tôn giả nói những lời như
vậy, thì tâm họ không vui, liền từ chỗ ngồi đứng dậy
mắng chửi rồi bỏ đi.
Bấy
giờ, Tôn giả La-đà biết các xuất gia ngoại đã ra đi rồi,
liền tự nghĩ: ‘Vừa rồi, ta đã nói những lời như vậy,
há không hủy báng Thế Tôn chăng? Nói như đúng như thuyết
chăng? Nói đúng như pháp, hay là thuận thứ của pháp chăng?
Sẽ không bị người khác đến nạn vấn, chỉ trích, làm
cho bế tắc chăng?”
Vào
buổi chiều, sau khi xuất thiền, Tôn giả La-đà đến chỗ
Phật, làm lễ dưới chân Phật, rồi ngồi sang một bên, đem
sự việc trên đó, bạch Phật đầy đủ:
“Bạch
Thế Tôn, những gì con đã nói không lỗi lầm chăng? Không
hủy báng Thế Tôn chăng? Nói như đúng như thuyết chăng? Nói
đúng như pháp, hay là thuận thứ của pháp chăng? Sẽ không
bị người khác đến nạn vấn, chỉ trích, làm cho bế tắc
chăng?”
Phật
bảo La-đà:
“Những
gì thầy nói đều là lời thật, không hủy báng Như Lai, nói
như lời dạy của Ta, nói như pháp, nói pháp và thứ pháp.
Vì sao? Này La-đà, vì sắc là khổ, vì muốn dứt cái khổ
này nên xuất gia tu phạm hạnh; và đối với thọ, tưởng,
hành, thức là khổ, vì muốn dứt những cái khổ này nên
xuất gia tu phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
114. TRI KHỔ[11]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà.
Khi
ấy, có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo, đến chỗ
Tôn giả La-đà, cùng nhau thăm hỏi rồi ngồi lui qua một bên,
hỏi La-đà:
“Vì
những lý do gì mà thầy theo Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm
hạnh?”
La-đà
trả lời:
[12]Khi
các ngoại đạo nghe La-đà nói những lời như vậy, tâm không
vui, liền từ chỗ ngồi đứng dậy trách mắng rồi ra đi.
Bấy
giờ vào buổi chiều, sau khi xuất thiền, La-đà đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi lui qua một bên,
đem sự việc trên đó, bạch Phật đầy đủ:
“Bạch
Thế Tôn, con đã nói những lời như trên, không hủy báng
Thế Tôn chăng? Sẽ không khiến cho người khác đến nạn
vấn, chỉ trích dồn vào chỗ bế tắc chăng? Nói không như
thuyết, nói không như pháp, nói không theo thuận thứ của
pháp chăng?”
Phật
bảo La-đà:
“Những
lời ngươi nói là chân thật, không hủy báng Như Lai, không
khiến cho người khác đến nạn vấn, chỉ trích dồn vào
chỗ bế tắc, nói như thuyết, nói như pháp, nói theo thuận
thứ của pháp. Vì sao? Sắc là khổ. Vì để biết nó là khổ
nên theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh. Thọ, tưởng, hành,
thức là khổ. Vì để biết thức là khổ nên theo Như Lai
xuất gia tu phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
115. ĐOẠN ƯU KHỔ[13]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà.
Khi
ấy, có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo, đến chỗ
Tôn giả La-đà, cùng nhau thăm hỏi rồi ngồi lui qua một bên,
hỏi La-đà:
“Vì
những lý do gì mà thầy theo Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm
hạnh?”
La-đà
trả lời:
“Vì
đối với sắc muốn dứt hết ưu, bi, khổ, não, ly dục, diệt,
tịch tĩnh nên theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh. Vì đối
với thọ, tưởng, hành, thức muốn dứt hết ưu, bi, khổ,
não, ly dục, diệt, tịch tĩnh nên theo Như Lai xuất gia tu phạm
hạnh.”
Khi
các xuất gia ngoại đạo nghe như vậy rồi tâm không vui, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy quở mắng rồi ra đi.
Bấy
giờ là buổi chiều, sau khi xuất thiền, La-đà đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, đem
sự việc trên đó, bạch Phật đầy đủ:
“Bạch
Thế Tôn, con đã nói những lời như trên, không hủy báng
Thế Tôn chăng? Sẽ không khiến cho người khác đến nạn
vấn, chỉ trích dồn vào chỗ bế tắc chăng? Nói không như
thuyết, nói không như pháp, nói không theo thuận thứ của
pháp chăng?”
Phật
bảo La-đà:
“Những
lời ngươi nói là chân thật, không hủy báng Như Lai, không
khiến cho người khác đến nạn vấn, chỉ trích dồn vào
chỗ bế tắc, nói như thuyết, nói như pháp, nói theo thuận
thứ của pháp. Vì sao? Này La-đà, sắc là ưu, bi, khổ, não.
Vì muốn dứt hết nó nên theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh.
Thọ, tưởng, hành, thức là ưu, bi, khổ, não vì muốn dứt
hết chúng nên theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
116. NGÃ TẬN
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà[14].
Khi
ấy, có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo, đến chỗ
Tôn giả La-đà, cùng nhau thăm hỏi rồi ngồi lui qua một bên,
hỏi La-đà:
“Vì
những lý do gì mà thầy theo Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm
hạnh?”
La-đà
trả lời:
“Ở
nơi sắc thấy là ngã, ngã sở, ngã mạn, các kết sử trói
buộc[15], muốn dứt bỏ chúng, ly dục, diệt, tịch tĩnh. Ở
nơi thọ, tưởng, hành, thức thấy là ngã, ngã sở, ngã mạn,
các kết sử trói buộc, muốn dứt bỏ chúng, ly dục, diệt,
tịch tĩnh, nên theo Thế Tôn xuất gia tu phạm hạnh.”
Khi
các xuất gia ngoại đạo nghe như vậy rồi tâm không vui, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy quở mắng rồi ra đi.
Bấy
giờ là buổi chiều, sau khi xuất thiền, La-đà đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, đem
sự việc trên đó, bạch Phật đầy đủ:
“Bạch
Thế Tôn, con đã nói những lời như trên, không hủy báng
Thế Tôn chăng? Sẽ không khiến cho người khác đến nạn
vấn, chỉ trích dồn vào chỗ bế tắc chăng? Nói không như
thuyết, nói không như pháp, nói không theo thuận thứ của
pháp chăng?”
Phật
bảo La-đà:
“Những
lời ngươi nói là chân thật, không hủy báng Như Lai, không
khiến cho người khác đến nạn vấn, chỉ trích dồn vào
chỗ bế tắc, nói như thuyết, nói như pháp, nói theo thuận
thứ của pháp. Vì sao? Ở nơi sắc thấy là ngã, ngã sở,
ngã mạn, các kết sử trói buộc, vì muốn dứt bỏ chúng,
ly dục, diệt, tịch tĩnh. Ở nơi thọ, tưởng, hành, thức
thấy là ngã, ngã sở, ngã mạn, các kết sử trói buộc, muốn
dứt bỏ chúng, ly dục, diệt, tịch tĩnh, nên theo Thế Tôn
xuất gia tu phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
117. ĐOẠN HỮU LẬU
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà[16].
Khi
ấy, có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo, đến chỗ
Tôn giả La-đà, cùng nhau thăm hỏi rồi ngồi lui qua một bên,
hỏi La-đà:
“Vì
những lý do gì mà thầy theo Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm
hạnh?”
La-đà
trả lời:
“Sắc
hữu lậu, chướng ngại, bức xúc, sầu lo; vì để dứt bỏ
chúng, ly dục, diệt, tịch tĩnh; thọ, tưởng, hành, thức
hữu lậu, chướng ngại, bức xúc, sầu lo; vì để dứt bỏ
chúng, ly dục, diệt, tịch tĩnh nên theo Như Lai xuất gia tu
phạm hạnh.”
Khi
các xuất gia ngoại đạo nghe như vậy rồi tâm không vui, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy quở mắng rồi ra đi.
Bấy
giờ là buổi chiều, sau khi xuất thiền, La-đà đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, đem
sự việc trên đó, bạch Phật đầy đủ:
“Bạch
Thế Tôn, con đã nói những lời như trên, không hủy báng
Thế Tôn chăng? Sẽ không khiến cho người khác đến nạn
vấn, chỉ trích dồn vào chỗ bế tắc chăng? Nói không như
thuyết, nói không như pháp, nói không theo thuận thứ của
pháp chăng?”
Phật
bảo La-đà:
“Những
lời ngươi nói là chân thật, không hủy báng Như Lai, không
khiến cho người khác đến nạn vấn, chỉ trích dồn vào
chỗ bế tắc, nói như thuyết, nói như pháp, nói theo thuận
thứ của pháp. Vì sao? Vì sắc hữu lậu, chướng ngại, bức
xúc, sầu lo; vì để dứt bỏ chúng, ly dục, diệt, tịch tĩnh;
thọ, tưởng, hành, thức hữu lậu, chướng ngại bức xúc,
sầu lo; vì để dứt bỏ chúng, ly dục, diệt, tịch tĩnh nên
theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
118. THAM NHUẾ SI
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà[17].
Khi
ấy, có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo, đến chỗ
Tôn giả La-đà, cùng nhau thăm hỏi rồi ngồi lui qua một bên,
hỏi La-đà:
“Vì
những lý do gì mà thầy theo Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm
hạnh?”
La-đà
trả lời:
“Vì
mục đích ở nơi sắc mà đoạn tận, ly dục, diệt, tịch
tĩnh đối với tham, nhuế, si; ở nơi thọ tưởng, hành, thức
mà đoạn tận, ly dục, diệt, tịch tĩnh đối với tham, nhuế,
si nên theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh.”
Khi
các xuất gia ngoại đạo nghe như vậy rồi tâm không vui, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy quở mắng rồi ra đi.
Bấy
giờ là buổi chiều, sau khi xuất thiền, La-đà đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, đem
sự việc trên đó, bạch Phật đầy đủ:
“Bạch
Thế Tôn, con đã nói những lời như trên, không hủy báng
Thế Tôn chăng? Sẽ không khiến cho người khác đến nạn
vấn, chỉ trích dồn vào chỗ bế tắc chăng? Nói không như
thuyết, nói không như pháp, nói không theo thuận thứ của
pháp chăng?”
Phật
bảo La-đà:
“Những
lời ngươi nói là chân thật, không hủy báng Như Lai, không
khiến cho người khác đến nạn vấn, chỉ trích dồn vào
chỗ bế tắc, nói như thuyết, nói như pháp, nói theo thuận
thứ của pháp. Vì sao? Vì mục đích ở nơi sắc mà đoạn
tận, ly dục, diệt, tịch tĩnh đối với tham, nhuế, si; ở
nơi thọ tưởng, hành, thức mà đoạn tận, ly dục, diệt,
tịch tĩnh đối với tham, nhuế, si nên theo Như Lai xuất gia
tu phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
119. TẬN DỤC ÁI HỶ
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà[18].
Khi
ấy, có một số đông chúng xuất gia ngoại đạo, đến chỗ
Tôn giả La-đà, cùng nhau thăm hỏi rồi ngồi lui qua một bên,
hỏi La-đà:
“Vì
những lý do gì mà thầy theo Sa-môn Cù-đàm xuất gia tu phạm
hạnh?”
La-đà
trả lời:
“Ở
nơi sắc mà có dục, ái, hỷ, vì để đoạn tận, ly dục,
diệt, tịch tĩnh; ở nơi thọ, tưởng, hành, thức mà có dục,
ái, hỷ, vì để đoạn tận, ly dục, diệt, tịch tĩnh nên
theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh.”
Khi
các xuất gia ngoại đạo nghe như vậy rồi tâm không vui, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy quở mắng rồi ra đi.
Bấy
giờ là buổi chiều, sau khi xuất thiền, La-đà đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, đem
sự việc trên đó, bạch Phật đầy đủ:
“Bạch
Thế Tôn, con đã nói những lời như trên, không hủy báng
Thế Tôn chăng? Sẽ không khiến cho người khác đến nạn
vấn, chỉ trích dồn vào chỗ bế tắc chăng? Nói không như
thuyết, nói không như pháp, nói không theo thuận thứ của
pháp chăng?”
Phật
bảo La-đà:
“Những
lời ngươi nói là chân thật, không hủy báng Như Lai, không
khiến cho người khác đến nạn vấn, chỉ trích dồn vào
chỗ bế tắc, nói như thuyết, nói như pháp, nói theo thuận
thứ của pháp. Vì sao? Ở nơi sắc mà có ái, hỷ, vì để
đoạn tận, ly dục, diệt, tịch tĩnh; ở nơi thọ, tưởng,
hành, thức mà có ái, hỷ, vì để đoạn tận, ly dục, diệt,
tịch tĩnh nên theo Như Lai xuất gia tu phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
120. MA (1)[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với La-đà:
“Những
gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, hãy quán sát tất cả chúng
do ma tạo ra; và những gì thuộc về thọ, tưởng, hành, thức,
hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong,
hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc
xa, hoặc gần, hãy quán sát tất cả chúng đều do ma tạo
ra.”
Phật
bảo La-đà:
“Sắc
là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là vô thường.”
Lại
hỏi:
“Nếu
là vô thường, thì khổ chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là khổ.”
Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
Lại
hỏi:
“Này
La-đà, nếu vô thường, khổ là pháp biến dịch, đa văn Thánh
đệ tử ở trong đó có thấy sắc là ngã, khác ngã, hay ở
trong nhau chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Phật
bảo La-đà:
“Nếu
đa văn Thánh đệ tử đối với năm thọ ấm này không thấy
là ngã, là ngã sở nên đối với các pháp thế gian không
chấp giữ. Vì không có gì chấp giữ nên không có gì để
dính mắc. Vì không có gì để dính mắc nên tự giác ngộ
Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
121. TỬ DIỆT[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Bấy giờ có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà.
Bấy
giớ Thế Tôn nói với La-đà:
“Những
gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều là pháp
chết; những gì thuộc về thọ, tưởng, hành, thức, hoặc
quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc
ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa,
hoặc gần; tất cả chúng đều là pháp chết[21].”
Phật
bảo La-đà:
“Sắc
là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là vô thường.”
Lại
hỏi:
“Nếu
là vô thường, thì khổ chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là khổ.”
Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
Lại
hỏi:
“Này
La-đà, nếu vô thường, khổ là pháp biến dịch, đa văn Thánh
đệ tử ở trong đó có thấy sắc là ngã, khác ngã, hay ở
trong nhau chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
Phật
bảo La-đà:
“Nếu
đa văn Thánh đệ tử đối với năm thọ ấm này không thấy
là ngã, là ngã sở nên đối với các pháp thế gian không
chấp giữ. Vì không có gì chấp giữ nên không có gì để
dính mắc. Vì không có gì để dính mắc nên tự giác ngộ
Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
122. CHÚNG SANH[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la.
Bấy
giờ có Tỳ-kheo thị giả tên là La-đà, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nói: ‘chúng sanh’. Vậy thế nào là chúng sanh?”
Phật
bảo La-đà:
“Ở
nơi sắc mà nhiễm đắm triền miên, do đó gọi là chúng sanh[23].
Ở nơi thọ, tưởng, hành, thức mà nhiễm đắm triền miên,
nên gọi là chúng sanh.”
Phật
bảo La-đà:
“Ta
nói, ở nơi cảnh giới của sắc, hãy phá sập, tiêu diệt.
Ở nơi cảnh giới của thọ, tưởng, hành, thức phá sập,
tiêu diệt; đoạn tận ái dục. Ái tận thì khổ tận. Khổ
tận, Ta nói đó là tận cùng biên tế của khổ[24].
“Giống
như trong làng xóm, những trẻ con trai gái chơi đùa, nhóm đất
lại tạo thành nhà cửa, thành quách. Tâm chúng yêu thích,
say đắm. Khi tâm yêu thích chưa hết, ước muốn chưa tan,
nhớ nghĩ chưa dứt, thèm khát chưa tiêu, thì tâm chúng luôn
luôn có sự yêu thích, giữ gìn và bảo là thành quách của
ta, nhà cửa ta. Đối với những đống đất kia mà lòng yêu
thích hết đi, ước muốn không còn, nhớ nghĩ đã dẹp, thèm
khát đã tan, thì tay xô, chân đạp, khiến cho tiêu tán. Cũng
vậy, này La-đà, đối với sắc mà phá sập, tiêu diệt; đoạn
tận ái dục. Ái tận thì khổ tận. Khổ tận, Ta nói đó
là tận cùng biên tế của khổ.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
123. HỮU THÂN[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la.
Bấy
giờ có Tỳ-kheo thị giả tên là La-đà đi đến chỗ Phật,
đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Lành
thay, Thế Tôn! Vì con mà nói tóm lược pháp yếu. Sau khi nghe
pháp rồi, con sẽ ở một mình nơi vắng vẻ, sống không buông
lung, chuyên tâm suy nghĩ về mục đích mà người con trai của
tông tộc[26] cạo bỏ râu tóc, mình mặc nhiễm y[27], chánh
tín xuất gia học đạo, sống không gia đình, nỗ lực siêng
năng tu các phạm hạnh, ngay trong đời này, tự tri, tự tác
chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Phật bảo La-đà:
“Lành
thay! La-đà có thể ở trước Phật hỏi ý nghĩa này! Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“La-đà,
nên biết, hữu thân, sự tập khởi của hữu thân, về sự
diệt tận của hữu thân, về con đường đưa đến sự diệt
tận của hữu thân. Những gì là hữu thân? Đó là cho năm
thọ ấm: sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm.
“Thế
nào là sự tập khởi của hữu thân? Đó là đương lai hữu
ái[28], câu hữu với tham và hỷ, ái lạc nơi này nơi kia[29].
Đó gọi là sự tập khởi của hữu thân.
“Thế
nào là sự diệt tận của hữu thân? Đương lai hữu ái[30],
câu hữu với tham và hỷ, ái lạc nơi này nơi kia, hoàn toàn
bị đoạn trừ, vất bỏ, nhổ sạch, ly dục, tịch diệt,
tĩnh chỉ[31]. Đó gọi là sự diệt tận của hữu thân.
“Thế
nào là con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân?
Là chỉ cho Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định. Đó gọi là con đường đưa đến sự diệt tận
của hữu thân. Hữu thân, nên biết: sự tập khởi của hữu
thân nên đoạn; sự diệt tận của hữu thân nên chứng; con
đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân nên tu.
“Này
La-đà, nếu đa văn Thánh đệ tử, đối với hữu thân hoặc
biết, hoặc đoạn; đối với sự tập khởi của hữu thân
hoặc biết, hoặc đoạn; đối với sự diệt tận của hữu
thân hoặc biết, hoặc chứng; đối với con đường đưa đến
sự diệt tận của hữu thân hoặc biết, hoặc tu rồi, thì
này La-đà, đó gọi là đoạn trừ ái, xả ly ái, chuyển đổi
kết sử, đình chỉ mạn, chứng đắc vô gián đẳng[32], cứu
cánh biên tế khổ.”
Tỳ-kheo
La-đà nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành,
từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ rồi cáo lui.
Sau
khi Đức Thế Tôn đã dạy như vậy rồi, thì Tỳ-kheo La-đà
một mình ở chỗ vắng, chuyên tinh suy nghĩ về mục đích
mà thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh
tín, xuất gia, học đạo, sống không gia đình, nỗ lực siêng
năng tu các phạm hạnh, ngay trong đời này, tự tri, tự tác
chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa.’ Thành bậc A-la-hán, tâm khéo giải thoát.
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
124. MA (2)[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy, có thị giả là
Tỳ-kheo La-đà.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo La-đà:
“Tỳ-kheo,
những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; hãy quán sát tất cả chúng
đều là ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức, hoặc quá
khứ, hoặc là vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài;
hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc
gần; hãy quán sát tất cả chúng đều là ma.
“Này
La-đà, ý ngươi nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là vô thường.”
Lại
hỏi:
“Vô
thường có phải là khổ chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là khổ.”
Lại
hỏi:
“Nếu
vô thường, khổ là pháp biến dịch, đa văn Thánh đệ tử
ở trong đó có thấy ngã chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
“Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Cho
nên này La-đà, đa văn Thánh đệ tử, đối với sắc sanh
tâm nhàm chán; và đối với thọ, tưởng, hành, thức sanh
tâm nhàm chán. Vì đã nhàm chán nên không thích, vì đã không
thích nên giải thoát và giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm
xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
125. MA PHÁP[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy, có thị giả là
Tỳ-kheo La-đà.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo La-đà:
“Tỳ-kheo,
những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần tất cả chúng đều là ma,
tạo tác của ma. Và đối với thọ, tưởng, hành, thức lại
cũng như vậy.”
Phật
bảo La-đà:
“Này
La-đà, ý ngươi nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là vô thường.”
Lại
hỏi:
“Vô
thường có phải là khổ chăng?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là khổ.”
Lại
hỏi:
“Nếu
vô thường, khổ là pháp biến dịch, đa văn Thánh đệ tử
ở trong đó có thấy ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không.”
“Vì
vậy, này La-đà, đa văn Thánh đệ tử, đối với sắc nên
sanh tâm nhàm chán. Vì đã nhàm chán nên không thích, vì đã
không thích nên giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã
làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
thứ ba cũng như vậy, nhưng có chỗ khác là:
Phật
bảo La-đà: Đa văn Thánh đệ tử ở nơi năm thọ ấm này
mà quán sát là chẳng phải ngã, chẳng phải ngã sở. Khi đã
quán sát, thì đối với các pháp trên thế gian đều không
có gì để mà chấp giữ. Vì không có gì để chấp giữ nên
không dính mắc, vì không dính mắc nên tự giác ngộ Niết-bàn:
“Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần
làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
126. TỬ PHÁP[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy, có thị giả là
Tỳ-kheo La-đà.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo La-đà:
“Tỳ-kheo,
những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; hãy quán sát tất cả chúng
đều là pháp chết. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại
cũng như vậy.”
Ngoài
ra như đã nói kinh trên.
KINH
127. PHI NGÃ PHI NGÃ SỞ[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy, có thị giả là
Tỳ-kheo La-đà.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo La-đà:
“Tỳ-kheo,
những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc là vị lai, hoặc hiện
tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; hãy quán sát tất cả chúng
đều là pháp đoạn tận[37]. Đối với thọ, tưởng, hành,
thức lại cũng như vậy.
“Đa
văn Thánh đệ tử quán sát như vậy đối với sắc mà sanh
nhàm chán; đối với thọ, tưởng, hành, thức mà sanh nhàm
chán. Vì đã nhàm chán nên không thích, vì không thích nên
giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Cũng
như kinh “Ta quán sát pháp đoạn tận”, các kinh tiếp theo
cũng vậy, gồm: [38]
1.
Quán sát diệt pháp,
2.
Quán sát khí xả pháp (vứt bỏ),
3.
Quán sát vô thường pháp,
4.
Quán sát khổ pháp,
5.
Quán sát không pháp,
6.
Quán sát phi ngã pháp,
7.
Quán sát vô thường-khổ-không-phi ngã pháp,
8.
Quán sát bệnh pháp,
9.
Quán sát ung pháp (ung nhọt),
10.
Quán sát thích pháp (gai nhọn),
11.
Quán sát sát pháp (giết hại),
12.
Quán sát sát căn bản pháp,
13.
Quán sát bệnh, ung (ung nhọt), thích pháp (gai nhọn), sát (giết
hại), sát căn bản.[39]
KINH
128. ĐOẠN PHÁP (1)[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo La-đà:
“Những
gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại;
hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô hoặc tế; hoặc tốt, hoặc
xấu; hoặc xa, hoặc gần; quán sát tất cả chúng đều là
pháp đoạn tận[41]. Đã quán sát như vậy rồi, thì đối
với sắc, dục tham được đoạn trừ. Dục tham đã được
đoạn trừ rồi, thì Ta nói đó là tâm khéo giải thoát. Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Cũng
vậy, có mười bốn kinh, nội dung như trên.
KINH
129. ĐOẠN PHÁP (2)[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy có Tỳ-kheo thị
giả tên là La-đà.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo La-đà:
“Những
gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại;
hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô hoặc tế; hoặc tốt, hoặc
xấu; hoặc xa, hoặc gần; quán sát tất cả chúng đều là
pháp đoạn tận[43]. Đã quán sát như vậy rồi, thì đối
với sắc, dục tham được đoạn trừ. Dục tham đã được
đoạn trừ rồi, thì Ta nói đó là tâm khéo giải thoát. Đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những gì Đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
130. CẦU ĐẠI SƯ (1)[44]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Muốn
đoạn trừ năm thọ ấm, thì phải cầu Đại sư. Những gì
là năm? Sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm.
Muốn đoạn trừ năm thọ ấm này, thì phải cầu Đại sư.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Cũng
như kinh “Đương đoạn”, các kinh tiếp theo cũng vậy, có
tên như sau:
-
Đương thổ (hãy nhả ra);
-
Đương tức (hãy đình chỉ);
-
Đương xả (hãy xả bỏ).
Cũng
như kinh “Cầu Đại sư”, các kinh sau đây có nội dung tương
đồng (có năm mươi chín kinh):
-
Cầu Thắng sư (bậc thầy cao cả),
-
Thuận thứ sư (bậc thầy thuận theo thứ lớp),
-
Giáo giới giả (người răn dạy),
-
Thắng giáo giới giả (người răn dạy hơn nhất),
-
Thuận thứ giáo giới giả (người răn dạy thuận theo thứ
lớp),
-
Thông giả (người thông suốt),
-
Quảng thông giả (người thông suốt rộng rãi),
-
Viên thông giả (người thông suốt tròn đầy),
-
Đạo giả (người dẫn đường),
-
Quảng đạo giả (người dẫn đường rộng rãi),
-
Cứu cánh đạo giả (người dẫn đường rốt ráo),
-
Thuyết giả (người thuyết giảng),
-
Quảng thuyết giả (người thuyết giảng rộng rãi),
-
Thuận thứ thuyết giả (người thuyết giảng theo thứ lớp),
-
Chánh giả (người chân chánh),
-
Bạn giả (người đồng hành),
-
Chân tri thức giả (bằng hữu chân thật),
-
Thân giả (người thân cận),
-
Mẫn giả (người thương xót),
-
Bi giả (người từ bi),
-
Sùng nghĩa giả (người sùng nghĩa),
-
An ủy giả (người an ủi),
-
Sùng lạc giả (người sùng lạc),
-
Sùng xúc giả (người sùng xúc),
-
Sùng an ủy giả (người sùng sự an ủi),
-
Dục giả (người muốn),
-
Tinh tấn giả (người tinh tấn),
-
Phương tiện giả (người phương tiện),
-
Cần giả (người chuyên cần),
-
Dũng mãnh giả (người dõng mãnh),
-
Cố giả (người kiên cố),
-
Cường giả (người mạnh mẽ),
-
Kham năng giả (người có khả năng),
-
Chuyên giả (người tinh chuyên),
-
Tâm bất thoái giả (người tâm không thoái lui),
-
Kiên chấp trì (người giữ gìn chắc chắn),
-
Thường tập giả (người thường tu tập),
-
Bất phóng dật giả (người không buông lung),
-
Hòa hiệp giả (người hòa hợp),
-
Tư lương giả (người suy xét),
-
Ức niệm giả (người nhớ nghĩ),
-
Giác giả (người tỉnh giác),
-
Tri giả (người biết),
-
Minh giả (người sáng suốt),
-
Tuệ giả (người trí tuệ),
-
Thọ giả (người lãnh thọ),
-
Tư duy giả (người tư duy),
-
Phạm hạnh giả (người phạm hạnh),
-
Niệm xứ giả (người có niệm xứ),
-
Chánh cần giả (người có chánh cần),
-
Như ý túc (người được như ý túc),
-
Căn giả (người được căn),
-
Lực giả (người được lực),
-
Giác phần giả (người được giác phần),
-
Đạo phần giả (người được đạo phần),
-
Chỉ giả (người được chỉ),
-
Quán giả (người được quán),
-
Niệm thân giả (người được niệm thân),
-
Chánh ức niệm (người được chánh ức niệm).
KINH
131. TẬP CẬN[45]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Sa-môn, Bà-la-môn nào tập cận với sắc, bị ma chi phối[46],
rơi vào tay ma, theo ước muốn của ma, bị ma trói buộc, không
thoát ra khỏi sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng,
hành, thức lại cũng như vậy. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào không
tập cận sắc, thì những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không không
bị ma chi phối, không rơi vào tay ma, không chạy theo ước
muốn của ma, sẽ không bị ma trói buộc, thoát sợi dây trói
của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như
vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
Cũng
như kinh “Tập cận”, các kinh sau đây có nội dung giống
vậy:
-
Tập trước giả (quen thói đam mê),
-
Vị giả (hảo vị ngọt),
-
Quyết định trước giả (đam mê thành tánh cố định),
-
Chỉ giả (dừng nghỉ),
-
Sử giả (sai sử),
-
Vãng giả (đi đến),
-
Tuyển trạch giả (lựa chọn),
-
Bất xả (không xả),
-
Bất thổ (không nhả ra),
“Những
Sa-môn, Bà-la-môn nào như vậy không bị ma chi phối” như
nói ở kinh trên. Như đã nói ở trên.
KINH
132. BẤT TẬP CẬN[47]
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
Sa-môn, Bà-la-môn nào không tập cận sắc, thì những Sa-môn,
Bà-la-môn ấy không bị ma chi phối, không rơi vào tay ma, không
chạy theo ước muốn của ma, sẽ không bị ma trói buộc, thoát
sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức
lại cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Cho
đến “Thổ sắc” lại cũng như vậy[48].
KINH
133. SANH TỬ LƯU CHUYỂN[49]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do
có cái gì, do sanh khởi cái gì, do hệ lụy cái gì mà có kiến
chấp ngã, khiến cho chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái
cột cổ, phải dong ruổi nơi đường dài, luân hồi theo sanh
tử, lưu chuyển trong sanh tử, không biết biên tế tối sơ
là gì[50]?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Lành
thay, Thế Tôn! Xin thương xót mà nói rộng nghĩa này. Sau khi
các Tỳ-kheo nghe xong sẽ vâng lời thực hành.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Này
các Tỳ-kheo, vì có sắc, sanh khởi sự của sắc, hệ lụy
sắc, nơi sắc mà thấy ngã, khiến cho chúng sanh bị vô minh
che lấp, bị ái cột cổ, phải dong ruổi nơi đường dài,
luân hồi theo sanh tử, lưu chuyển trong sanh tử. Đối với
thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, sắc là thường hay vô thường?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, là vô thường.”
Lại
hỏi: