TẠP
A-HÀM QUYỂN 3
Kinh
59. Sinh Diệt[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm. Những gì là năm? Sắc thọ ấm; thọ, tưởng,
hành, thức thọ ấm. Hãy quán sát năm thọ ấm này là pháp
sanh diệt. Nghĩa là, ‘Ðây là sắc; đây là sự tập khởi
của sắc; đây là sự diệt tận của sắc. Ðây là thọ,
tưởng, hành, thức; đây là sự tập khởi của …… thức
này, sự diệt tận của …… thức này.’
“Thế
nào là sự tập khởi của sắc? Thế nào là sự diệt tận
của sắc? Thế nào là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành,
thức? Thế nào là sự diệt tận của thọ, tưởng, hành,
thức?
“Sự
tập khởi của ái hỷ là sự tập khởi của sắc; sự diệt
tận của ái hỷ là sự diệt tận của sắc. Sự tập khởi
của xúc là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành; sự diệt
tận của xúc là sự diệt tận của thọ, tưởng, hành. Sự
tập khởi của danh sắc là sự tập khởi của thức; sự
diệt tận của danh sắc là sự diệt tận của thức.
“Này
Tỳ kheo, như vậy sự tập khởi của sắc, sự diệt tận
của sắc, đó là sự tập khởi của sắc, sự diệt tận
của sắc. Như vậy sự tập khởi của thọ, tưởng, hành,
thức, sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức; đó là
sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, sự diệt tận
của thọ, tưởng, hành, thức.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Kinh
60. Bất Lạc[2]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm. Những gì là năm? Sắc thọ ấm, thọ, tưởng,
hành, thức thọ ấm.
“Lành
thay! Tỳ kheo không ưa sắc, không khen ngợi sắc, không chấp
thủ sắc, không đắm trước sắc. Lành thay! Tỳ kheo không
ưa thọ, tưởng, hành, thức, không khen ngợi …… thức, không
chấp thủ …… thức, không đắm trước …… thức. Vì sao?
Vì nếu Tỳ kheo không ưa sắc, không khen ngợi sắc, không
chấp thủ sắc, không đắm trước sắc, thì đối với sắc
sẽ không ưa thích, tâm được giải thóat. Cũng vậy, đối
với thọ, tưởng, hành, thức mà không ưa thức, không khen
ngợi thức, khộng chấp thủ thức, không đắm rước thức,
thì đối với thức sẽ không ưa thích, tâm được giải thóat.
“Nếu
Tỳ kheo không ưa sắc, tâm được giải thóat. Cũng vậy, nếu
không ưa thọ, tưởng, hành, thức, tâm được giải thóat,
không sanh không diệt, bình đẳng an trú xả với chánh niệm
chánh trí.
“Tỳ
kheo này đã biết như vậy, thấy như vậy rồi, kiến chấp
liên hệ biên tế quá khứ[3] vĩnh viễn diệt tận không dư
tàn. Khi kiến chấp liên hệ biên tế quá khư vĩnh viễn diệt
tận không dư tàn, thì kiến chấp liên hệ biên tế vị lai
cũng vĩnh viễn diệt tận không dư tàn. Khi kiến chấp liên
hệ biên tế vị lai cũng vĩnh viễn diệt tận không dư tàn,
thì kiến chấp liện hệ biên tế quá khứ và biên tế vị
lai cũng diệt tận không dư tàn, không còn gì ngăn che. Khi
đa không còn gì ngăn che, thì đối với các thế gian đều
không có gì để chấp thủ. Không chấp thủ nên cũng không
có gì để mong cầu. Không có gì để mong cầu, nên tự mình
chứng ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã chấm dứt, phạm hạnh
đã lập, những điều cần làm đã làm xong, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Kinh
61. Phân Biệt (1)[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm. Những gì là năm? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức
thọ ấm.
“Thế
nào là sắc thọ ấm? Những gì là sắc, tất cả chúng đều
là bốn đại, và sắc do bốn đại tạo; đó gọi là sắc
thọ ấm. Lại nữa, sắc kia là vô thường, khổ, là pháp
biến dịch. Nếu sắc thọ ấm này vĩnh viễn bị đoạn trừ
không dư tàn, rốt ráo xả ly, diệt tận, ly dục, tịch diệt,
và các sắc thọ ấm khác không tương tục, không xuất hiện,
không khởi lên, thì đó gọi là vi diệu, cũng gọi là tịch
tĩnh, cũng gọi là xả ly tất cả hữu dư, ái tận, vô dục,
diệt tận, Niết-bàn.
“Thế
nào là thọ thọ ấm? Ðó là sáu thọ thân. Những gì là sáu?
Thọ phát sanh do xúc con mắt; thọ phát sanh do xúc của tai,
mũi, lưỡi, thân, ý. Ðó gọi là thọ thọ ấm. Lại nữa,
thọ thọ ấm này là vô thường, khổ, là pháp biến dịch,
cho đến, diệt tận, Niết-bàn.
“Thế
nào là tưởng thọ ấm? Ðó là sáu tưởng thân. Những gì
là sáu? Tưởng phát sanh do xúc con mắt; cho đến, tưởng phát
sanh do xúc của ý. Ðó gọi là tưởng thọ ấm. Lại nữa,
tưởng thọ ấm này là vô thường, khổ, là pháp biến dịch,
cho đến, diệt tận, Niết-bàn.
“Thế
nào là hành thọ ấm? Ðó là sáu tư thân. Những gì là sáu?
Tư phát sanh do xúc con mắt; cho đến, tư phát sanh do xúc của
ý. Ðó gọi là hành thọ ấm. Lại nữa, hành thọ ấm này
là vô thường, khổ, là pháp biến dịch, cho đến, diệt tận,
Niết-bàn.
Thế
nào là thức thọ ấm? Ðó là sáu thức thân. Những gì là
sáu? Thức thân con mắt; cho đến ý thức thân, đó gọi là
thức thọ ấm. Lại nữa, thức thọ ấm này là vô thường,
khổ, là pháp biến dịch, cho đến, diệt tận, Niết-bàn.
“Này
các Tỳ kheo, nếu đối với pháp này mà dùng trí tuệ tư
duy, quán sát, phân biệt, nhẫn thọ, đó gọi là tùy tín hành,
siêu thăng, ly sanh[5], vượt qua khỏi địa vị phàm phu. Nếu
chưa đạt được quả Tu-đà-hòan, mà nửa chừng không chết,
thì chắc chắn sẽ đạt được quả Tu-đà-hòan.
“Này
các Tỳ kheo, nếu đối với pháp này, mà bằng tăng thượng
trí tuệ, tư duy quán sát, nhẫn, thì đó gọi là tùy pháp
hành, siêu thăng, ly sanh, vượt qua khỏi địa vị phàm phu.
Nếu chưa đạt được quả Tu-đà-hòan, mà nửa chừng không
chết, thì chắc chắn sẽ đạt được quả Tư-đà-hòan.
“Này
Tỳ kheo, đối với pháp này nếu bằng trí tuệ chân chánh
mà quán sát[6] như thật, ba kết được biết là hoàn toàn
đoạn trừ [7]; đó là, thân kiến, giới thủ, nghi. Tỳ kheo,
đó gọi là quả Tu-đà-hòan, sẽ không rơi vào đường ác,
quyết định thẳng đến Chánh giác[8], bảy lần sanh qua lại
giữa Trời-người, cuối cùng sẽ cứu cánh biên tế của
khổ.
“Này
Tỳ kheo, đối với pháp này nếu dùng trí tuệ chân chánh
mà quán sát như thật, tâm sẽ không khởi lên lậu hoặc,
thì gọi là A-la-hán. Khi các lậu đã sạch rồi, thì những
gì cần làm đã làm xong, trút bỏ gánh nặng, đạt được
mục đích của mình[9], các kết sử hữu[10] dứt sạch, chánh
trí, tâm đạt được giải thóat.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Kinh
62. Phân Biệt (2)[11]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm. Ðó là, sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức
thọ ấm. Kẻ phàm phu ngu si không học, không trí tuệ, vô
minh, đối với năm thọ ấm sanh ra ngã kiến buộc vào, khiến
cho tâm bị buộc vào mà sanh ra tham dục.
“Này
Tỳ kheo, Ða văn Thánh đệ tử có trí tuệ, có minh, thì đối
với năm thọ ấm này không bị buộc chặt bỡi ngã kiến,
khiến tâm bị trói buộc dính mắc, mà khởi lên tham dục.
“Vì
sao kẻ phàm phu ngu si không học, không trí tuệ, không sáng
suốt, đối với năm thọ ấm, bị ngã kiến trói buộc, khiến
cho tâm bị trói buộc dính mắc mà sanh ra tham dục? Này Tỳ
kheo, kẻ phàm phu ngu si không học, không trí tuệ, không sáng
suốt, thấy rằng sắc là ngã, là khác ngã, hay ở trong nhau.
Cũng vậy, thấy thọ, tưởng, hành, thức là ngã, khác ngã,
hay ở trong nhau. Những kẻ phàm phu ngu si không học, không
trí tuệ, không sáng suốt như vậy, đối với năm thọ ấm
nói là ngã và bị trói buộc vào, làm cho tâm bị trói buộc
mà sanh ra tham dục.
“Vì
sao Thánh đệ tử, có trí tuệ, sáng suốt, không cho là ngã
trói buộc, khiến kết buộc tâm mà sanh tham dục? Vì không
thấy sắc là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau. Cũng vậy, đối
với thọ tưởng, hành, thức không thấy là ngã, khác ngã,
hay ở trong ngã. Như vậy, Thánh đệ tử, có trí tuệ, sáng
suốt, thì đối với năm thọ ấm không thấy ngã trói buộc,
để khiến trói buộc tâm mà sanh ra tham dục. Nếu những gì
thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị
lai; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt,
hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, thì nên quán sát đúng tất
cả chúng đều là vô thường. Cũng vậy, đối với thọ,
tưởng, hành, thức, hoặc là quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc
vị lai; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc
tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần, thì cũng nên quán sát
đúng tất cả chúng đều là vô thường.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Kinh
63. Phân biệt (3)[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm. Ðó là, sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức
thọ ấm. Này Tỳ kheo, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương
có ngã, thì tất cả y trên năm thọ ấm này mà chủ trương
có ngã. Những gì là năm? Các Sa-môn, Bà-la-môn, ở nơi sắc
thấy là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau. Cũng vậy, ở nơi
thọ, tưởng, hành, thức thấy là ngã, khác ngã, hay ở trong
nhau. Như vậy, kẻ phàm phu ngu si không học, chấp ngã, vô
minh, phân biệt mà quán sát như vậy, không lìa ngã sở[13]
Do không lìa nga sở, nhập vào các căn[14] Khi nhập vào các
căn rồi thì sẽ sanh ra xúc. Sáu xúc duyên vào những gì được
xúc? Phàm phu ngu si không học sanh ra khổ vui, từ đó phát
sanh ra cái này và những cái khác, đó là sáu xúc thân. Những
gì là sáu? Xúc nhập xứ của mắt; xúc nhập xứ của tai,
mũi, lưỡi, thân, ý.
“Này
Tỳ kheo, có ý giới, pháp giới, vô minh giới được chạm
bởi vô minh xúc, phàm phu ngu si không học nói là hữu, nói
là vô, nói là vừa hữu vừa vô, nói là chẳng phải hữu
chẳng phải vô, nói là ta hơn hết, nói là tương tợ, ta biết,
ta thấy.
“Lại
nữa, này Tỳ kheo, Ða văn Thánh đệ tử, khi trụ vào sáu
xúc nhập xứ mà có thể nhàm chán xa lìa vô minh, có thể
sanh ra minh. Người đó đối với vô minh mà ly dục, sanh ra
minh, chẳng hữu, chẳng vô, chẳng phải vừa hữu vừa vô,
chẳng phải chẳng hữu, chẳng vô, chẳng phải có ta hơn,
chẳng phải có ta kém, chẳng phải có ta bằng, ta biết, ta
thấy. Khi biết như vậy, thấy như vậy rồi thì vô minh xúc
khởi lên trước kia sẽ diệt, và minh xúc sau sẽ tập khởi.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Kinh
64. Ưu-Ðà-Na[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại giảng đường Lộc-tử-mẫu trong Ðông-viên,
nước Xá vệ.
Bấy
giờ, buổi chiều, sau giờ Thế Tôn từ thiền tịnh dậy,
đến giảng đường, vào trong nhà giảng, trải tòa ngồi trước
đại chúng. Rồi thì, Thế tôn nói kệ Ưu-đà-na:
Pháp
không có tôi ta,
Cũng
lại không của ta;
Cũng
sẽ không có ta,
Của
ta từ đâu sanh?
Tỳ
kheo giải thóat[16] đây,
Ðoạn
trừ hạ phần kết[17]
Bấy
giờ, có Tỳ kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai bên
phải, quỳ gối phải sát đất, chấp tay bạch Phật rằng:
“Thế
nào là không có tôi ta, cũng lại không của ta; cũng sẽ không
có ta, của ta từ đâu sanh? Tỳ kheo giải thóat đây, đoạn
trừ hạ phần kết?”
Phật
bảo Tỳ kheo:
“Phàm
phu ngu si không học, chấp sắc là ngã, khác ngã, hay ở trong
nhau; đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng cho là ngã, khác
ngã, hay ở trong nhau. Ða văn Thánh đệ tử, không thấy sắc
là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau; cũng như không thấy thọ,
tưởng, hành, thức là ngã, khác ngã, hay ở trong nhau; cũng
chẳng phải là người biết, cũng chẳng phải là người thấy.
Sắc này là vô thường. Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường.
Sắc là khổ. Thọ, tưởng, hành, thức là khổ. Sắc là vô
ngã. Thọ, tưởng, hành, thức là vô ngã. Sắc này sẽ không
tồn tại. Thọ, tưởng, hành, thức sẽ không tồn tại. Vì
sắc này sẽ hủy hoại[18] Thọ, tưởng, hành, thức hủy hoại.
Cho nên, chẳng có ngã, chẳng có ngã sở, ngã, và cũng sẽ
chẳng có ngã, ngã sở. Nếu người nào giải thóat như vậy,
thì sẽ đọan trừ được năm kết sử hạ phần.”
Bấy
giờ, Tỳ kheo kia bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, khi đã đọan trừ năm kết sử hạ phần rồi, làm
sao để ngay trong đời này tự biết, tự tác chứng, thành
tựu và an trú với sự diệt tận các lậu, vô lậu tâm giải
thóat, tuệ giải thóat, biết rằng: ‘ Ta, sự sanh đã chấm
dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’?”
Phật
bảo Tỳ kheo:
“Phàm
phu chúng sanh ngu si không học, nên ở chỗ không sợ hãi mà
sanh ra sợ hãi. Phàm phu chúng sanh ngu si không học sanh ra sự
sợ hãi rằng không ngã, không ngã sở; cả hai sẽ chẳng sanh.
“Do
vin bám[19] mà có bốn trú xứ của thức[20]Thức trụ nơi
sắc, vin bám sắc, ham muốn sắc, để tăng tiến, sanh trưởng
rộng lớn. Thức trụ nơi thọ, tưởng, hành, vin bám hành,
ham muốn hành, để tăng tiến, sanh trưởng rộng lớn. Tỳ
kheo, thức ở nơi này, hoặc đến, hoặc đi, hoặc ở, hoặc
khởi, hoặc diệt, tăng tiến, sanh trưởng rộng lớn. Nếu
nói rằng lại có pháp khác ,và ở đó thức hoặc đến, hoặc
đi, hoặc ở, hoặc khởi, hoặc diệt, tăng tiến, sanh trưởng
rộng lớn; thì đây chỉ có trên ngôn thuyết, chứ nếu hỏi
đến, thì sẽ không biết, chỉ tăng thêm ngu si, vì chúng chẳng
phải là cảnh giới. Vì sao? Vì Tỳ kheo, xa lìa tham dục của
sắc giơi, thì triền phược của ý sanh[21] đối với sắc
cũng sẽ bị đoạn trừ. Khi triền phược của ý sanh đối
với sắc bị đoạn trừ rồi, thì sự vin bám của thức cũng
sẽ bị đọan trừ. Khi ấy, thức không có chỗ trú, cũng
không tăng tiến, sanh trưởng rộng lớn trở lại. Khi triền
phược của ý sanh đối với thọ, tưởng, hành giới, nếu
đã lìa tham dục rồi, thì sự vin bám của thức cũng sẽ
bị đọan trừ. Khi ấy, thức không có chỗ trú, cũng không
tăng tiến, sanh trưởng rộng lớn trở lại. Vì thức không
chỗ trụ, nên không tăng trưởng. Vì không tăng trưởng nên
không có gì để tác hành[22] Vì không có gì để tác hành
cho nên được an trụ. Vì đã an trụ nên biết đủ. Vì đã
biết đủ nên được giải thóat.[23] Vì đã giải thóat nên
đối với các thế gian đều không có gì để chấp thủ.
Vì không có gì để chấp thủ nên không có gì để đắm
trước. Vì không có gì để đắm trước nên tự mình giác
ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã chấm dứt, phạm hạnh đã
lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa.’
“Này
Tỳ kheo, Ta nói thức không trụ[24] Ðông, Tây, Nam, Bắc, bốn
bên, trên, dưới, ngoại trừ ngay trong đời hiện tại sẽ
nhập Niết-bàn, diệt tận, tịch tĩnh, thanh lương.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Bài
kệ tóm tắt
Sanh
diệt và bất lạc,
Và
ba Kinh phân biệt,
Quán
sát về tham trước,
Ðó
là Ưu-đà-na.
Kinh
65. Thọ[26]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nên
luôn luôn tu tập phương tiện thiền tư[27], cho trong tâm mình
tĩnh lặng. Vì sao? Vì Tỳ kheo luôn tu tập phương tiện thiền
tư, thì trong tâm mình sẽ được tĩnh lặng, nên quán sát
như thật. Thế nào là quán sát như thật? Ðây là sắc, đây
là sự tập khởi của sắc, đây là sự diệt tận của sắc;
đây là thọ, tưởng, hành, thức, đây là sự tập khởi của
…… thức, đây là sự đoạn tận của …… thức.
“Thế
nào là sự tập khởi của sắc? sự tập khởi của thọ,
tưởng, hành, thức? Phàm phu ngu si vô học nên đối với các
thọ khổ, vui, không khổ-không vui, không quán sát như thật
rằng đây là sự tập khởi của thọ, sự diệt tận của
thọ, vị ngọt của thọ, sự tai hại của thọ, sự xuất
ly của thọ. Vì không biết quán sát như thật, nên đối với
thọ lại ưa thích tham đắm mà sanh ra chấp thủ, và thủ
duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, bệnh, tử, ưu, bi,
khổ, não; khối lớn đau khổ như vậy từ tập mà sanh. Ðó
gọi là sự tập khởi của sắc. Ðó là sự tập khởi của
thọ, tưởng, hành, thức.
“Thế
nào là sự diệt tận của sắc? Sự diệt tận của thọ,
tưởng, hành, thức? Ða văn Thánh đệ tử đối với các thọ
khổ, vui, không khổ-không vui, quán sát như thật rằng đây
là sự tập khởi của thọ, sự diệt tận của thọ, vị
ngọt của thọ, sự tai hại của thọ, sự xuất ly của thọ.
Vì quán sát như thật nên đối với thọ sự ưa thích đắm
trước bị đọan trừ. Vì sự đắm trước đã bị đọan
trừ, nên chấp thủ cũng bị diệt. Vì thủ đã bị diệt,
nên hữu cũng bị diệt. vì hữu đã bị diệt, nên sanh cũng
bị diệt. Vì sanh đã bị diệt, cho nên lão, bệnh, tử, ưu,
bi, khổ, não cũng bị diệt; khối lớn đau khổ như vậy tất
cả đều diệt. Ðó gọi là sắc diệt. Ðó gọi là thọ,
tưởng, hành, thức diệt. Cho nên này Tỳ kheo, hãy luôn luôn
tu tập phương tiện thiền tư, cho tâm mình luôn tĩnh lặng.
Tỳ kheo nào trụ vào thiền tư, thì bên trong tâm luôn tĩnh
lặng. Hãy nổ lực siêng năng phương tiện quán sát như thật.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Cũng
như Kinh quán sát, cũng vậy, có 12 kinh[28] tiếp theo là Phân
biệt, Chủng chủng phân biệt, Tri, Quảng tri, Chủng chủng
tri, Thân cận, Thân cận tu tập, Nhập, Xúc, và Chứng.
Kinh
66. Sanh[29]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nên
luôn luôn tu tập phương tiện thiền tư, cho trong tâm mình
tịch lặng. Vì sao? Vì nhờ tu tập phương tiện thiền tư,
trong tâm mình đã tịch lặng, để quán sát như thật. Thế
nào là quán sát như thật? Quán sát như thật rằng đây là
sắc ; đây là sự tập khởi của sắc, sự diệt tận của
sắc. Ðây là thọ, tưởng, hành, thức, sự tập khởi của
…… thức , sự diệt tận của …… thức.
“Thế
nào là sự tập khởi của sắc? sự tập khởi của thọ,
tưởng, hành, thức?
“Này
Tỳ kheo, phàm phu ngu si không học, không quán sát như thật
về sự tập khởi của sắc, về vị ngọt của sắc, về
sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc, nên ưa muốn
sắc kia, khen ngợi yêu đắm, nên sắc sẽ tái sanh lại vào
đời vị lai. Ðối với thọ, tưởng, hành, thức cũng nói
rộng như vậy. Khi sắc kia sanh; thọ, tưởng, hành, thức sanh,
mà đối với sắc không giải thóat; đối với thọ, tưởng,
hành, thức không giải thóat, Ta nói người đó sẽ không giải
thóat sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não; thuần khối lớn
đau khổ. Ðó gọi là sự tập khởi của sắc; là sự tập
khởi của thọ, tưởng, hành, thức.
“Thế
nào là sự diệt tận của sắc, và sự diệt tận của thọ,
tưởng, hành, thức?
“Ða
văn Thánh đệ tử quán sát như thật về sự tập khởi của
sắc, sự diệt tận của sắc, vị ngọt của sắc, sự tai
hại của sắc, sự xa lìa sắc, biết như thật. Do biết như
thật nên không thích sắc, không khen ngợi sắc, không ưa đắm
sắc, cũng không sanh ra sắc vị lai. Ðối với thọ, tưởng,
hành, thức cũng nói rộng như vậy. Sắc không sanh; thọ, tưởng,
hành, thức không sanh, do đó đối với sắc được giải thóat,
đối với thọ, tưởng, hành, thức được giải thóat. Ta
nói người này giải thóat sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ,
não, thuần khối lớn đau khổ. Ðó gọi là sự diệt tận
của sắc; là sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức.
“Cho
nên, Tỳ kheo, nên luôn luôn tu tập phương tiện thiền tư,
để bên trong tâm mình tịch lặng, và tinh tấn siệng năng
phương tiện quán sát như thật.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Cũng
như Kinh quán sát, cũng vậy, cho đến Kinh Tác chứng, gồm
12, cũng cần diễn rộng.
Kinh
67. Lạc[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Hãy
thường xuyên tu tập phương tiện thiền tư, cho nội tâm tĩnh
lặng. Vì sao? Vì Tỳ kheo tu tập phương tiện thiền tư, cho
nội tâm tĩnh lặng để quán sát như thật. Thế nào là quán
sát như thật? Biết như thật đây là sắc ; đây là sự tập
khởi của sắc, sự diệt tận của sắc ; đây là thọ, tưởng,
hành, thức, sự tập khởi của …… thức, sự diệt tận
của …… thức.
“Thế
nào là sự tập khởi của sắc, và sự tập khởi của thọ,
tưởng, hành, thức? Phàm phu ngu si không học, nên không biết
như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận
của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc,
về sự xuất ly sắc. Vì không biết như thật nên ưa thích
đắm trước vào sắc kia, khen ngợi sắc. Vì ưa thích đắm
trước sắc, khen ngợi sắc nên chấp thủ, thủ duyên hữu,
hữu duyên sanh, sanh duyên lão, tử, ưu, bi, não khổ; thuần
khối lớn đau khổ như vậy sanh ra. Ðó gọi là sự tập khởi
của sắc; là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức.
“Thế
nào là sự diệt tận của sắc? sự diệt tận của thọ,
tưởng, hành, thức? Ða văn Thánh đệ tử biết như thật
về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc,
về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự
xuất ly sắc. Vì biết như thật, nên không thích đắm sắc,
không khen ngợi sắc. Vì không thích đắm trước, khen ngợi
sắc cho nên ái lạc bị diệt trừ. Ái lạc diệt nên chấp
thủ cũng diệt. Thủ diệt nên hữu diệt. Hữu diệt nên sanh
diệt. Sanh đã bị diệt nên lão, bệnh, tử, ưu, bi, não, khổ
cũng bị diệt; và như vậy thuần khối lớn đau khổ diệt.
“Thế
nào là đa văn Thánh đệ tử biết như thật về thọ, tưởng,
hành, thức, và về sự tập khởi của …… thức, về sự
diệt tận của …… thức, về vị ngọt của …… thức,
về sự tai hại của …… thức, về sự xa lìa …… thức?
Vì đã biết như thật về chúng, nên không thích đắm ……
thức kia, không khen ngợi …… thức. Vì không thích đắm
…… thức nên ái lạc diệt . Ái diệt , nên thủ diệt. Thủ
diệt nên hữu diệt. Hữu diệt nên sanh cụng bị diệt. Sanh
diệt nên lão, bệnh, tử, ưu, bi, não, khổ diệt, như vậy
thuần khối lớn đau khổ tất cả đều diệt. Này Tỳ kheo,
đó gọi là sự diệt tận của sắc; là sự diệt tận của
thọ, tưởng, hành, thức. Tỳ kheo nên thường xuyên tu tập
phương tiện thiền tư để cho nội tâm được tĩnh lặng.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Cũng
như Kinh quán sát, cũng vậy, cho đến Kinh Tác chúng, gồm 12,
cũng cần diễn rộng.
Kinh.
68 Lục Nhập Xứ[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nên
thường xuyên tu tập phương tiện thiền tư, để cho nội
tâm được tĩnh lặng, thì mới quán sát như thật. Thế nào
là quán sát như thật? Biết như thật đây là sắc; đây là
sự tập khởi của sắc, sự diệt tận của sắc; và đây
là thọ, tưởng, hành, thức; đây là sự tập khởi của ……
thức, sự diệt tận của …… thức.
“Thế
nào là sự tập khởi của sắc? sự tập khởi của thọ,
tưởng, hành, thức? Do duyên mắt và sắc nên thức của mắt
sanh; ba sự hòa hợp sanh xúc; duyên xúc sanh thọ, duyên thọ
sanh ái, cho đến thuần khối lớn đau khổ sanh. Ðó gọi là
sự tập khởi của sắc. Duyên tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng
như vậy. Do duyên ý và pháp, thức của ý sanh; ba sự hòa
hiệp sanh xúc, duyên xúc sanh thọ, duyên thọ sanh ái. Như vậy,
cho đến thuần khối lớn đau khổ sanh. Ðó gọi là sự tập
khởi của sắc, là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành,
thức.
“Thế
nào là sự diệt tận của sắc? sự diệt tận của thọ,
tưởng, hành, thức? Do duyên mắt và sắc nên thức của mắt
sanh; ba sự hòa hợp sanh xúc. Khi xúc diệt thì thọ diệt,
cho đến thuần khối lớn đau khổ diệt. Duyên tai, mũi, lưỡi,
thân, ý cũng như vậy. Do duyên ý và pháp, thức của ý sanh;
ba sự hòa hợp sanh xúc. Khi xúc diệt thì thọ diệt, thọ
diệt …… cho đến thuần khối lớn đau khổ diệt. Ðó gọi
là sự diệt tận của sắc là sự diệt tận của thọ, tưởng,
hành, thức. Cho nên này các Tỳ kheo, nên thường xuyên tu tập
phương tiện thiền tư, để cho nội tâm được tĩnh lặng.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Cũng
như Kinh quán sát, cũng vậy, cho đến Kinh Tác chứng, gồm
12, cũng cần diễn rộng.
Bài
kệ tóm tắt
Thọ
và sanh và lạc,
Cũng
nói lục nhập xứ,
Mỗi
một mười hai thứ,
Kinh
thiền định tam muội.
Kinh
69. Kỳ đạo[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về con đường dẫn đến sự tập khởi của hữu
thân[33], và về con đường dẫn đến sự diệt tận của
hữu thân.
“Thế
nào là con đường dẫn đến sự tập khởi của hữu thân?
Phàm phu ngu si không học, nên không biết như thật về sự
tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị
ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly
sắc. Vì không biết như thật, nên ưa thích sắc, khen ngợi
sắc, đắm trước sắc, trụ vào sắc. Vì đã ưa thích sắc,
khen nợi sắc, đắm trước sắc, trụ vào sắc, nên yêu thích
chấp thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão,
bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não; thuần khối lớn đau khổ như
vậy được sanh ra. Ðối với thọ, tưởng, hành, thức cũng
nói rộng như vậy. Ðó gọi là con đường dẫn đến sự
tập khởi của hữu thân. Tỳ kheo, nên biết, con đường dẫn
đến sự tập khởi của hữu thân, chính là con đường dẫn
đến sự tập khởi của khổ.
“Thế
nào là con đường dẫn đến sự diệt tận của hữu thân?
Ða văn Thánh đệ tử biết như thật về sắc, về sự tập
khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt
của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc.
Vì đã biết như thật nên đối với sắc không ưa, không
khen, không đắm, không trụ. Vì không ưa, không khen, không
đắm, không trụ nên ái lạc sắc kia diệt. Ái lạc diệt,
thì thủ cũng diệt; thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì
sanh diệt, sanh diệt thì lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não,
thuần khối lớn đau khổ như vậy diệt. Cũng như sắc, đối
với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Ðó gọi
là con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân. Con
đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân này cũng là
con đường đưa đến sự diệt tận của khổ. Cho nên nói
là con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như
kinh Ðương thuyết, 2 Kinh Hữu và Ðương tri cũng vậy.[34]
Kinh
70. Thật Giác[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về biên tế của hữu thân[36], về biên tế tập
khởi của hữu thân[37], về biên tế diệt tận của hữu
thân[38] Hãy lắng nghe, và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ngươi
mà nói.
“Thế
nào là biên tế của hữu thân? Là chỉ cho năm thọ ấm, đó
là: Sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Ðó
gọi là biên tế của hữu thân.
“Thế
nào là biên tế tập khởi của hữu thân? Ðó là ái, ái về
hữu đương lai đi đôi với tham hỷ, đắm trước cái này
hay cái kia[39] Ðó gọi là tập khởi của hữu thân.
“Thế
nào là biên tế diệt tận của hữu thân? Tức là ái này,
ái về hữu đương lai đi đôi với tham hỷ, đắm trước
cái này hay cái kia, tất cả đều được đoạn trừ, diệt
tận khổ, ly dục, tịch diệt, tĩnh chỉ. Ðó là biên tế
sự diệt tận của hữu thân. Ðó là nói về biên tế hữu
thân, về biên tế sự tập khởi của hữu thân , về biên
tế sự đọan diệt của hữu thân.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như
kinh Ðương thuyết, 2 Kinh Hữu và Ðương tri cũng vậy.
Kinh
71. Hữu Thân[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nay
Ta nói về hữu thân[41], về sự tập khởi của hữu thân,
về con đường dẫn đến sự diệt tận của hữu thân[42]
Hãy lắng nghe, và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ngươi mà nói.
“Thế
nào là hữu thân? Là năm thọ ấm, đó là: sắc thọ ấm,
thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Ðó gọi là hữu thân.
“Thế
nào là sự tập khởi của hữu thân? Ðó là ái, ái về hữu
đương lai đi đôi với tham hỷ, đắm trước cái này hay cái
kia[43] Ðó gọi là sự tập khởi của hữu thân.
“Thế
nào là sự diệt tận của hữu thân? Tức là ái này, ái về
hữu đương lai đi đôi với tham hỷ, đắm trước cái này
hay cái kia, tất cả đều được đoạn trừ, diệt tận khổ,
ly dục, tịch diệt, tĩnh chỉ. Ðó gọi là sự diệt tận
của hữu thân.
“Thế
nào là con đường đưa đến sự diệt tận của hữu thân?
Là chỉ cho Bát thánh đạo: Chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm,
chánh định. Ðó gọi là con đường đưa đến sự diệt tận
của hữu thân.
“Ðó
là nói về hữu thân, về sự tập khởi của hữu thân, về
sự diệt tận của hữu thân, về con đường đưa đến sự
diệt tận của hữu thân.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, han hỷ phụng hành.
Như
kinh Ðương thuyết, 2 Kinh Hữu và Ðương tri cũng vậy.
Nhưng
có sự sai biệt: “Tỳ kheo biết hữu thân, đoạn tập khởi
của hữu thân, chứng diệt của hữu thân, tu tập con đường
đưa đến sự diệt tận của hữu thân. Ðó là tỳ kheo đoạn
trừ các kết sử, triền phược của ái dục, tu vô gián đẳng,
cứu cánh khổ biên.”
Lại
có sự sai biệt: “Ðó gọi là Tỳ kheo đã cứu cánh khổ
biên, cứu cánh ly cấu, cứu cánh phạm hạnh, là bậc thượng
sĩ thuần tịnh.”
Lại
có sự sai khác: “Ðó gọi là Tỳ kheo A-la-hán, sạch hết
các lậu hoặc, những gì cần làm đã làm xong, đã trút bỏ
gánh nặng, đã đạt được mục đích của mình, dứt sạch
các kết sử, chánh trí tâm giải thóat.”
Lại
có sự sai biệt: “Ðó gọi là Tỳ kheo đã phá sập quan ải,
vượt hào, siêu việt cảnh giới, đã phá sập quan ải, dựng
cờ Thánh pháp.”
Lại
có sự sai biệt: “Thế nào là đã phá sập quan ải? Là đã
dứt bỏ được năm hạ phần kết. Thế nào là vượt hào?
Là vượt khỏi hào sâu vô minh. Thế nào là siêu việt khỏi
cảnh giới? Là đến chỗ cùng tột không đầu mối của sanh
tử. Thế nào là đã phá sập quan ải? Là ái đã hết sạch.
Thế nào dựng cờ Thánh pháp? Là ngã mạn đã dứt sạch.”
Lại
có sự sai biệt: “Ðó gọi là Tỳ kheo đoạn năm chi, thành
tựu sáu chi, thủ hộ một, y bốn thứ, xả các đế, lìa
các thứ mong cầu, tịnh các giác, thân hành tịch tĩnh, tâm
khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát, thượng phạm hạnh
thuần nhất đã lập.”
Kệ
tóm tắt
Kỳ
đạo, có ba kinh,
Thật
giác cũng ba kinh,
Hữu
thân Kinh thuyết,
La-hán
có sáu hạng.
Kinh
72. Tri Pháp[45]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Ta
sẽ nói về các pháp sở tri, trí và trí giả.[46] Hãy lắng
nghe, và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Thế
nào là các pháp đã sở tri? Là năm thọ ấm, đó là: Sắc
thọ ấm, và thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Ðó gọi là
những pháp sở tri.
“Thế
nào là trí? Là sự điều phục dục tham, đoạn trừ dục
tham, siêu việt dục tham. Ðó gọi là trí.
“Thế
nào gọi là trí giả? Ðó là A-la-hán. A-la-hán chẳng phải
tồn tại sau khi chết, chẳng phải không, chẳng phải có không
tồn tại sau khi chết, chẳng phải chẳng có không tồn tại
sau khi chết. Nói rộng ra vô lượng, các số đã vĩnh viễn
dứt sạch. Ðó gọi là nói về các pháp sở tri, trí và trí
giả.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
73. Trọng Ðảm[47]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về gánh nặng, thủ gánh nặng, xả gánh nặng,
và người đang gánh nặng[48] Hãy lắng nghe, và suy nghĩ kỹ,
Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Thế
nào là gánh nặng? Là năm thọ ấm, đó là: Sắc thọ ấm,
và thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm.
“Thế
nào là thủ gánh nặng? Ðó là ái, ái về hữu đương lai
đi đôi với tham hỷ, đắm trước cái này hay cái kia[49]
“Thế
nào là xả gánh nặng? Tức là ái này, ái về hữu đương
lai đi đôi với tham hỷ, đắm trước cái này hay cái kia,
tất cả đều được đoạn trừ, diệt tận khổ, ly dục,
tịch diệt, tĩnh chỉ.
“Thế
nào là người đang gánh nặng? Chính là con người[50] Con người
này có tên như vậy, thọ sanh như vậy, dòng họ như vậy,
ăn uống như vậy, cảm thọ khổ lạc như vậy, tồn tại
như vậy, thọ mạng như vậy, giới hạn thọ mạng sống như
vậy. Ðó gọi là gánh nặng, thủ gánh nặng, xả gánh nặng,
và người đang gánh nặng.”
Bấy
giờ, Ðức Thế Tôn nói kệ rằng:
Ðã
vứt bỏ gánh nặng,
Không
nên nhận trở lại.
Gánh
nặng là khổ lớn,
Trút
gánh là vui nhiều.
Ðoạn
trừ tất cả ái,
Thì
sạch tất cả hành.
Thấu
triệt mọi cảnh khác,
Không
còn luân chuyển hữu.
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
74. Vãng Nghệ[51]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm, đó là: Sắc thọ ấm, và thọ, tưởng, hành,
thức thọ ấm. Phàm phu ngu si không học không biết như thật
về sắc, về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận
của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc,
về sự xuất ly sắc. Vì không biết như thật, nên đối với
sắc có sự thích thú, ngợi khen, đắm trước, bị dính mắc
mà trụ; bị trói buộc bởi dây trói của sắc, bị trói buộc
bởi dây trói bên trong, không biết nguồn gốc, không biết
biên tế, không biết xuất ly.
“Ðó
gọi là kẻ phàm phu ngu si không học, vì bị trói buộc nên
sanh, vì bị trói buộc nên chết, vì bị trói buộc từ đời
này sang đời khác, nên người này sanh ra cũng vì sự trói
buộc mà chết đi cũng vì sự trói buộc.
“Ðó
gọi là kẻ phàm phu ngu si không học, bị Ma khống chế, vào
trong lưới ma, theo ma biến hóa[52], bị ma trói buộc, bị ma
lôi kéo. Ðối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như
vậy.
“Ða
văn Thánh đệ tử biết như thật về sắc, về sự tập khởi
của sắc, về sự diêt tận của sắc, về vị ngọt của
sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly sắc. Vì
đã biết như thật, nên không tham vui sắc, không ngợi khen,
không bị dính mắc mà trụ; không bị trói buộc bởi dây
trói của sắc, không bị trói buộc bởi dây trói bên trong,
biết nguồn gốc, biết biên tế, biết xuất ly.
“Ðó
gọi là Ða văn Thánh đệ tử, không bị lệ thuộc vào sự
trói buộc mà sanh, không bị lệ thuộc vào sự trói buộc
mà chết, từ đời này sang đời khác cũng không bị lệ thuộc
vào sự trói buộc từ đời này sang đời khác; không Ma khống
chế, không bị rơi vào tay ma, không Ma tạo tác[53], không bị
ma trói buộc, giải thoát sự trói buộc của ma, lìa khỏi
sự dẫn dắt của ma. Ðối với thọ, tưởng, hành, thức
lại cũng như vậy.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hhoan hỷ phụng hành.
Kinh
75. Quán[54]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm. Ðó là, sắc thọ ấm. Này Tỳ kheo, đối với
sắc nhàm tởm, ly dục, tịch diệt, không làm sanh khởi, giải
thoát. Ðó gọi là Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác. Cũng vậy,
thọ, tưởng, hành, thức; nhàm tởm, ly dục, tịch diệt, không
làm sanh khởi, giải thóat. Ðó gọi là Như Lai Ứng Ðẳng
Chánh Giác.
“Lại
nữa, Tỳ kheo, đối với sắc nhàm tởm, ly dục, tịch diệt,
không làm sanh khởi, giải thóat. Ðó gọi là A-la-hán tuệ
giải thoát. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức; nhàm tởm,
ly dục, tịch diệt, không làm sanh khởi, giải thóat. Ðó gọi
là A-la-hán tuệ giải thoát.
“Này
Tỳ kheo, Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác và A-la-hán tuệ giải
thóat có sự sai biệt nào?”
Các
Tỳ kheo bạch Phật:
“Như
Lai là gốc của pháp, là con mắt của pháp, là nơi nương
tựa của pháp. Cúi xin Ðức Thế Tôn vì các Tỳ kheo mà nói
rộng nghĩa này, các Tỳ kheo sau khi nghe xong sẽ thực hành
theo.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Hãy
lắng nghe, và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ngươi mà nói.
“Như
Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác chưa từng nghe pháp nhưng có thể
tự mình giác ngộ pháp, tự thông đạt Vô thượng Bồ đề,
rồi để giác ngộ cho hàng Thinh văn trong đời vị lai, mà
pháp đó là, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc,
năm căn, năm lực, bảy giác, tám Thánh đạo. Này các Tỳ
kheo, đó gọi là Như Lai Ứng Ðẳng Chánh Giác đạt được
những gì chưa đạt, được những cái lợi chưa từng được
lợi, biết đạo, phân biệt đạo, nói đạo, thông suốt đạo;
lại có thể thành tựu cho các Thinh văn, truyền dạy, răn
bảo; như vậy mà thuận theo thiện pháp, hoan hỷ thiện pháp.
Ðó gọi là sự sai biệt giữa Như Lai và A-la-hán.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
76. Dục[55]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
năm thọ ấm. Ðó là, sắc thọ ấm, và thọ, tưởng, hành,
thức thọ ấm.
“Này
các Tỳ kheo, hãy quán sát sắc. Sau khi quán sát sắc, thấy
có ngã, khác ngã, hay ở trong nhau không?”
Các
Tỳ kheo bạch Phật:
“Thưa
Không, Thế tôn.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Sắc là vô ngã. Cái gì vô ngã thì vô thường,
vô thường thì khổ. Nếu khổ thì kia tất cả đều chẳng
phải ngã, không phải khác ngã, không ở trong nhau. Hãy quán
sát như vậy.
“Thọ,
tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Ða
văn Thánh đệ tử thì đối với năm thọ ấm này quán sát
là chẳng phải ngã, chẳng phải ngã sở. Khi đã quán sát
như vậy rồi, thì đối với thế gian không có gì để chấp
thủ. Khi đã không có gì để chấp giữ thì sẽ không có
gì để đắm trước. Khi đã không có gì để đắm trước
thì sẽ tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã chấm dứt,
phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết
không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
77. Sanh (1)[56]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Hãy
đọan trừ dục tham đối với sắc. Dục tham đã đọan trừ
rồi thì sắc đoạn. Khi sắc đoạn rồi, thì được biến
tri về đoạn[57] Khi được biến tri về đoạn, thì gốc rễ
bị đoạn. Như chặt ngọn cây Ta-la, sau này không còn tái
sanh được nữa. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức, dục
tham đoạn …… cho đến, đời sau không tái sanh được nữa.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
78.Sanh (2)[58]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nếu
sắc khởi, trụ, xuất thì khổ ở đây khởi, bệnh ở đây
trụ, già, chết ở đây xuất. Ðối với thọ, tưởng, hành,
thức cũng lại như vậy.
“Tỳ
kheo, nếu sắc diệt, ngừng nghỉ, biến mất thì khổ ở đây
diệt, bệnh ở đây dừng, già chết ở đây biến mất. Ðối
với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
79. Sanh (3)[59]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Sắc
quá khứ, vị lai còn là vô thường, huống nữa là sắc hiện
tại. Ða văn Thánh đệ tử quán sát như vậy rồi, không nuối
tiếc sắc quá khứ, không cầu mong sắc vị lai, và đối với
sắc hiện tại nhàm chán, ly dục, diệt tận. Ðối với thọ,
tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.
“Tỳ
kheo, nếu không có sắc quá khứ, Ða văn Thánh đệ tử không
có việc không nuối tiếc sắc quá khứ; vì có sắc quá khứ
cho nên Ða văn Thánh đệ tử không nuối tiếc sắc quá khứ.
Nếu không có sắc vị lai, Ða văn Thánh đệ tử không có
việc không cầu mong sắc vị lai rồi; vì có sắc vị lai cho
nên Ða văn Thánh đệ tử không cầu mong sắc vị lai. Nếu
không có sắc hiện tại, Ða văn Thánh đệ tử không có việc
đối với sắc hiện tại mà nhàm chán, hướng đến lìa dục,
diệt tận; vì có sắc hiện tại cho nên Ða văn Thánh đệ
tử đối với sắc hiện tại mà nhàm chán, hướng đến lìa
dục, diệt tận. Ðối với thọ, tưởng, hành, thức lại
cũng như vậy.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
80. Pháp Ấn[60]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Ta
sẽ nói về Thánh pháp ấn và kiến thanh tịnh. Hãy lắng nghe,
và suy nghĩ kỹ.
“Nếu
có Tỳ kheo nào nói như vầy: ‘Tôi đối với tam muội Không[61]
chưa có sở đắc, mà khởi Vô tướng, Vô sở hữu, lìa được
tri kiến kiêu mạn.’ Thì đừng nên nói như vậy. Vì sao?
Vì nếu đối với Không chưa đạt được, mà nói là Tôi
đã đạt được Vô tướng, Vô sở hữu, lìa được tri kiến
kiêu mạn, thì việc này sẽ không xảy ra.
“Nếu
có Tỳ kheo nào nói như vầy, ‘Tôi đã đạt được Không,
có khả năng khởi lên Vô tướng, Vô sở hữu, lìa được
tri kiến kiêu mạn.’ Thì đây là lời nói chính xác. Vì sao?
Vì nếu đã đạt được Không rồi, thì sẽ có khả năng
khởi lên Vô tướng, Vô sở hữu, lìa được tri kiến kiêu
mạn; điều này chắc chắn có thể xảy ra.
“Thế
nào là đối với kiến thanh tịnh của Thánh Ðệ tử?”
Các
Tỳ kheo bạch Phật:
“Phật
là gốc pháp, là con mắt pháp, là nơi nương tựa của pháp.
Cúi xin hãy vì chúng con mà nói. Các Tỳ kheo sau khi nghe pháp
xong, sẽ thực hành theo lời dạy.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Nếu
Tỳ kheo nào, ngồi dưới bóng cây, chỗ trống vắng, mà khéo
quán sát sắc là vô thường, là pháp ma diệt, ly dục. Cũng
vậy, quán sát thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, là
pháp ma diệt, ly dục. Quán các thọ ấm kia là vô thường,
là pháp ma diệt, không bền chắc, biến dịch, thì tâm sẽ
được an lạc, thanh tịnh, giải thóat. Ðó gọi là Không.
Quán sát như vậy cũng không thể lìa kiêu mạn, nhưng có tri
kiến thanh tịnh.
“Lại
có tam-muội chánh tư duy, là quán sát sự đoạn tận của
tướng sắc, sự đoạn tận của tướng thinh, hương, vị,
xúc, pháp. Ðó gọi là vô tướng. Quán sát như vậy cũng chưa
lìa kiêu mạn, nhưng có tri kiến thanh tịnh.
“Lại
có tam-muội chánh tư duy, là quán sát sự đoạn trừ tướng
tham, tướng sân nhuế, tướng ngu si. Ðó gọi là Vô sở hữu.
Quán sát như vậy cũng chưa lìa kiêu mạn, nhưng có tri kiến
thanh tịnh.
“Lại
có tam-muội chánh tư duy, là quán sát ngã và ngã sở từ đâu
sanh ra?
“Lại
có tam-muội chánh tư duy, là quán sát về ngã, ngã sở từ
thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm, biết mà sanh ra.
“Lại
quán sát, do nhân gì , duyên gì mà thức thức; nhân , duyên
của thức kia là thường hay vô thường?
“Lại
tư duy do nhân gì , duyên gì mà thức thức; nhân kia, duyên
kia của thức đều là vô thường. Lại nữa, nhân kia, duyên
kia tất cả đều là vô thường, thức được sanh bởi đó
làm sao là thường được? Vô thường là hành của hữu vi,
từ duyên khởi, là pháp tai hại, là pháp họai diệt, là pháp
ly dục, là pháp đoạn tri[62] Ðó gọi là Thánh pháp ấn, tri
kiến thanh tịnh.
“Ðó
là nói rằng: ‘Tỳ kheo Ta sẽ nói về Thánh pháp ấn và kiến
thanh tịnh.’ Ðược nói rộng như vậy.”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
81. Phú-lan-na[63]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong giảng đường Trùng-các, bên bờ ao Di-hầu,
tại Tỳ-da-ly,
Bấy
giờ có người Ly-xa[64] tên là Ma-ha-nam[65], thường ngày hay
du hành đến chỗ đức Phật. Ly-xa này bấy giờ tự nghĩ:
‘Nếu ta đến sớm chỗ Phật, thì hiện giờ Ðức Thế Tôn
và các Tỳ kheo quen biết của ta đều đang thiền tư. Bây
giờ ta nên đến chỗ ngoại đạo A-kỳ-tỳ nơi bảy cây Yêm-la.’
Rồi ông đến chỗ ở của Phú-lan-na Ca-diếp[66] này.
Hiện
Phú-lan-na Ca-diếp đang là thủ lãnh chúng ngoại đạo gồm
năm trăm người, đang vây quanh trước sau, tiếng cười đùa
huyên náo, bàn luận việc thế gian. Bấy giờ, Ca-diếp từ
xa nhìn thấy Ly-xa Ma-ha-man đang đến, liền bảo các quyến
thuộc của mình nên giữ yên tĩnh, ‘Các ông nên giữ yên
lặng, đó là Ly-xa Ma-ha-man, là đệ tử của Sa môn Cù-đàm.
Ông ta là đệ tử tại gia của Sa-môn Cù-đàm, và cũng là
người đứng đầu ở Tỳ-da-ly. Ông ta luôn thích sự tĩnh
lặng, và khen ngợi sự tĩnh lặng; chỗ Ông ta đến là nơi
đồ chúng tĩnh lặng, vì thế cho nên các ông nên giữ sự
yên lặng.’
Khi
Ma-ha-nam đến chỗ đồ chúng Phú-lan-na, cùng với Phú-lan-na
thăm hỏi sức khỏe nhau, rồi ngồi qua một bên. Bấy giờ,
Ma-ha-nam hỏi Phú-lan-na rằng:
“Tôi
nghe Phú-lan-na vì các đệ tử nói pháp rằng, sự cấu uế
hiện có của chúng sanh không do nhân, không do duyên và, sự
thanh tịnh hiện có của chúng sanh cũng không nhân, không duyên.
Hiện thế gian đang truyền luận thuyết này. Ông nên xem xét
lại, có phải đây là những lời hủy báng nhau của người
ngoài, hay người đời bày đặt ra? đó là pháp, hay phi pháp?
Ông có cùng tranh luận với người đời, bị nạn vấn, bị
chỉ trích không?
Phú-lan-na
Ca-diếp đáp:
“Thật
sự, có luận thuyết này, chứ không phải là người đời
ngoa truyền. Tôi đã lập ra luận thuyết này. Ðó là luận
như pháp. Tôi đã nói pháp này tất cả đều thuận theo pháp.
Không có người thế gian nào đến đây nạn vấn và chỉ
trích. Vì sao? Ma-ha-nam, tôi thấy như vậy, nói như vậy: ‘sự
cấu uế hiện có của chúng sanh là không nhân, không duyên,
và sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh là không nhân, không
duyên.’”
Khi
Ma-ha-nam nghe những gì Phú-lan-na đã nói, lòng không vui, chỉ
trích, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về. Ông đến chỗ
Ðức Thế Tôn, đầu mặt lạy sát chân Phật, rồi ngồi qua
một bên, đem tất cả mọi chuyện đã bàn luận cùng Phú-la-na
trình hết lên Thế tôn.
Phật
bảo Ly-xa Ma-ha-nam:
“Ðó
là nhừng lời nói không cân nhắc [67] của Phú-lan-na, không
đáng để ghi nhớ. Như vậy, Phú-lan-na là người ngu si, thiếu
hiểu biết, không thiện xảo, khi chủ trương không nhân mà
nói như vầy: ‘Sự cấu uế hiện có của chúng sanh là không
nhân, không duyên, và sự thanh tịnh hiện có của chúng sanh
cũng không nhân, không duyên.’ Vì sao? Vì có nhân, có duyên
chúng sanh có cấu uế; có nhân, có duyên chúng sanh thanh tịnh.
“Ma-ha-nam,
do nhân gì, duyên gì mà chúng sanh có cấu uế?
“Này
Ma-ha-nam, nếu sắc chỉ một mực là khổ, không phải lạc,
không phải tùy lạc, không được trưởng dưỡng bởi lạc,
xa lìa lạc, thì chúng sanh đã không nhân đây mà sanh ra sự
ái lạc đắm trước. Nhưng, này Ma-ha-nam, sắc chẳng phải
chỉ một mực là khổ, không phải lạc, mà là tùy lạc, được
trưởng dưỡng bởi lạc, chẳng xa lìa lạc, cho nên chúng
sanh nhiễm đắm sắc. Do nhiễm đắm nên bị trói buộc; vì
bị trói buộc, nên có phiền não.
“Này
Ma-ha-nam, nếu thọ, tưởng, hành, thức chỉ một mực là khổ,
không phải lạc, không phải tùy lạc, không được trưởng
dưỡng bởi lạc, xa lìa lạc, thì chúng sanh đã không nhân
đây mà sanh ra sự ái lạc đắm trước. Nhưng, này Ma-ha-nam,
vì …… thức chẳng phải chỉ một mực là khổ, không phải
lạc, mà là tùy lạc, được trưởng dưỡng bởi lạc, chẳng
xa lìa lạc, cho nên chúng sanh nhiễm đắm …… thức. Vì đã
bị nhiễm đắm nên bị trói buộc; vì bị trói buộc nên
sanh ra phiền não.
“Ðó
gọi là có sự cấu uế của chúng sanh là có nhân, có duyên.
“Ma-ha-nam,
vì nhân gì, duyên gì mà chúng sanh thanh tịnh?
“Này
Ma-ha-nam, nếu sắc chỉ một mực là lạc, chẳng phải khổ,
chẳng phải tùy khổ, chẳng phải trưởng dưỡng ưu khổ,
xa lìa khổ, thì chúng sanh không nên nhân sắc này mà sanh ra
nhàm chán, xa lìa. Nhưng, này Ma-ha-nam, vì sắc chẳng phải
chỉ một mực là lạc, mà là khổ, tùy khổ, nuôi lớn sầu
khổ, chẳng xa lìa khổ, cho nên chúng sanh đối với sắc sanh
ra nhàm chán, xa lìa. Vì nhàm chán nên không thích; vì không
thích nên giải thóat.
“Này
Ma-ha-nam, nếu thọ, tưởng, hành, thức chỉ một mực là lạc,
chẳng phải khổ, chẳng phải tùy khổ, chẳng phải trưởng
dưỡng ưu khổ, xa lìa khổ, thì chúng sanh không nên nhân nơi
…… thức mà sanh ra nhàm chán, xalìa. Nhưng, này Ma-ha-nam,
vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải chỉ một mực là
lạc, mà là khổ, tùy khổ, nuôi lớn sầu khổ, chẳng xa lìa
khổ, cho nên chúng sanh đối với sắc sanh ra nhàm chán, xa
lìa. Vì nhàm chán nên không thích; vì không thích nên giải
thóat.
“Này
Ma-ha-nam, đó gọi là sự thanh tịnh của chúng sanh là có nhân,
có duyên.”
Khi
Ma-ha-nam nghe những gì đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Bài
kệ tóm tắt
Tri
pháp cùng trọng đảm,
Vãng
nghệ, quán, dục tham.
Kinh
sanh, và lược thuyết,
Pháp
ấn, Phú-lan-na.
Kinh
82. Trúc Viên[69]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại tinh xá Trúc viên, Chi-đề.
Bấy
giờ Ðức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo :
“Ða
văn Thánh đệ tử ở nơi cái gì mà thấy vô thường, khổ?”
Các
Tỳ kheo bạch Phật rằng:
“Thế
tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là nơi nương tựa của
pháp, cúi xin vì chúng con mà nói. Sau khi nghe xong các Tỳ kheo
sẽ y như những lời dạy mà thực hành.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Hãy
lắng nghe, và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ngươi mà nói.
“Ða
văn Thánh đệ tử ở nơi sắc thấy là vô thường, khổ;
ở nơi thọ, tưởng, hành, thức thấy là vô thường, khổ.
“Tỳ
kheo, sắc là thường hay là vô thường?”
Tỳ
kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn, là vô thường.
“Tỳ
kheo, vô thường là khổ phải không?”
Tỳ
kheo bạch Phật:
“Thế
Tôn, là khổ.
“Tỳ
kheo, nếu vô thường, khổ là pháp biến dịch, vậy thì Ða
văn Thánh đệ tử ở trong đó có thấy ngã, khác ngã, hay
ở trong nhau không?”
Tỳ
kheo bạch Phật:
“Thế
tôn, không.”
“Ðối
với thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Cho nên,
Tỳ kheo, những gì là sắc, hoặc quá khứ, hoặc hiện tại,
hoặc vị lai; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế
; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng
đều chẳng phải ngã, chẳng khác ngã, chẳng ở trong nhau.
Thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Ða văn Thánh
đệ tử quán sát như vậy mà nhàm chán sắc, nhàm chán thọ,
tưởng, hành, thức. Vì nhàm chán nên không còn thích; vì không
thích nên được giải thóat; vì đã được giải thoát cho
nên biết rằng, ‘Ta, sự sanh đã chấm dứt, phạm hạnh đã
lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái
sanh đời sau nữa.’”
Phật
nói Kinh này xong, các Tỳ kheo nghe những gì đức Phật đã
dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh
83. Tỳ-Da-Ly[70]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong giảng đường Trùng-các, bên bờ ao Di-hầu,
tại Tỳ-da-ly. Bấy giờ, Thế Tôn, nói với các Tỳ kheo:
“Ða
văn Thánh đệ tử ở nơi cái gì thấy chẳng phải ngã, chẳng
phải khác ngã, chẳng ở trong nhau mà quán chánh xác bình đẳng
như vậy, và tri kiến như thật?”
Các
Tỳ kheo bạch Phật:
“Thế
tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là nơi nương tựa của
pháp, cúi xin vì chúng con mà nói. Sau khi nghe xong các Tỳ kheo
sẽ y như những lời dạy mà thực hành.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Hãy
lắng nghe, và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ngươi mà nói.
“Ða
văn Thánh đệ tử ở nơi sắc thấy chẳng phải ngã, chẳng
phải khác ngã, chẳng ở trong nhau. Ðó gọi là quán chánh
xác như thật. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Sắc
là thường hay là vô thường?”
Các
Tỳ kheo bạch Phật: