TẠP
A-HÀM QUYỂN 1
KINH
1. VÔ THƯỜNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Các
ông hãy quán sát sắc là vô thường[2]. Quán sát như vậy
gọi là quán sát chân chánh. Khi đã quán sát chân chánh thì
sẽ sanh ra nhàm tởm[3]. Khi đã nhàm tởm thì dứt sạch hỷ
tham[4]. Sự dứt sạch hỷ tham được gọi là tâm giải thoát[5].
“Cũng
vậy, các ông hãy quán sát thọ, tưởng, hành, thức là vô
thường. Quán sát như vậy gọi là quán sát chân chánh. Khi
đã quán sát chân chánh thì sẽ sanh ra nhàm tởm. Khi đã nhàm
tởm thì dứt sạch hỷ tham. Sự dứt sạch hỷ tham được
gọi là tâm giải thoát.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, nếu muốn tự chứng tâm giải thoát này thì
có thể tự chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong và tự biết
không còn tái sanh đời sau nữa[6].’
“Cũng
như quán sát vô thường, quán sát khổ, không, phi ngã cũng
vậy.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
2. CHÁNH TƯ DUY[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với sắc, các ông hãy tư duy chân chánh, quán sát và biết
một cách như thật sắc là vô thường. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo,
đối với sắc mà tư duy chân chánh, quán sát và biết một
cách như thật sắc là vô thường, thì đối với sắc, dục
tham được đoạn trừ. Do dục tham được đoạn trừ mà nói
là tâm giải thoát.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức các ông hãy tư duy
chân chánh, quán sát và biết một cách như thật... thức là
vô thường. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo, đối với thức mà tư
duy chân chánh, quán sát và biết một cách như thật... thức
là vô thường, thì đối với thức, dục tham được đoạn
trừ. Do dục tham được đoạn trừ mà nói là tâm giải thoát.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, nếu muốn tự chứng tâm giải thoát này thì
có thể tự chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong và tự biết
không còn tái sanh đời sau nữa.’
“Cũng
như tư duy chân chánh về vô thường, khổ, không, phi ngã cũng
như vậy.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
3. VÔ TRI (1)[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với sắc không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly
dục[9] thì không thể đoạn trừ khổ não.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức mà không biết, không
rõ, không đoạn tận, không ly dục, thì không thể đoạn trừ
khổ não.
“Này
các Tỳ-kheo, đối với sắc, nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn
tận, nếu ly dục, thì có thể đoạn trừ khổ não.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành và thức, nếu biết, nếu
rõ, nếu đoạn tận, nếu ly dục, thì có thể đoạn trừ
khổ não.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
4. VÔ TRI (2)[10]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với sắc không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly
dục, tâm không giải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợ
hãi về sanh, già, bệnh, chết.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức mà không biết, không
rõ, không đoạn tận, không lìa tham dục[11], tâm không giải
thoát, thì sẽ không thể nào vượt qua khỏi sự sợ hãi về
sanh, già, bệnh, chết.
“Tỳ-kheo,
đối với sắc nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận, nếu
ly dục, thì sẽ vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già,
bệnh, chết.
“Này
các Tỳ-kheo, người nào nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận,
nếu lìa tham dục, tâm giải thoát, thì có thể vượt qua khỏi
sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu người nào
nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận, lìa tham dục, tâm giải
thoát, thì sẽ vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh,
chết.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
5. VÔ TRI (3)[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Ai
đối với sắc mà yêu thích[13], thì đối với khổ cũng yêu
thích. Đối với khổ mà yêu thích, thì đối với khổ sẽ
không được giải thoát, không rõ, không ly dục.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức mà yêu thích, thì
cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ, thì đối với khổ
không được giải thoát.
“Này
các Tỳ-kheo, ai đối với sắc không yêu thích, thì đối với
khổ cũng không thích. Ai đối với khổ không thích, thì đối
với khổ sẽ được giải thoát.
“Cũng
vậy, ai đối với thọ, tưởng, hành, thức không yêu thích,
thì đối với khổ cũng không thích. Ai đối với khổ không
thích, thì đối với khổ sẽ được giải thoát.
“Này
các Tỳ-kheo, đối với sắc không biết, không rõ, không lìa
tham dục, tâm không giải thoát. Ai không giải thoát tâm tham,
thì sẽ không thể đoạn trừ được khổ não.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức ai không biết, không
rõ, không ly dục, tâm không giải thoát. Tham tâm không giải
thoát, thì sẽ không đoạn trừ được khổ não.
“Đối
với sắc, nếu người nào biết, rõ, lìa tham dục, tâm giải
thoát, thì sẽ có thể đoạn trừ được khổ não.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu biết, rõ, lìa
tham dục, tâm giải thoát, thì có thể đoạn trừ khổ não.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
6. VÔ TRI (4)[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Đối
với sắc, không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không
giải thoát thì sẽ không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh,
già, bệnh, chết.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu không biết,
không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát, thì sẽ
không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.
“Này
các Tỳ-kheo, đối với sắc nếu biết, nếu rõ, nếu lìa
tham dục, tâm giải thoát, thì có thể vượt qua khỏi sự
sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
7. HỶ LẠC SẮC[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Ai
yêu thích sắc, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ thì
đối với khổ không được giải thoát.
“Cũng
vậy, ai yêu thích thọ, tưởng, hành và thức, thì cũng yêu
thích khổ. Ai yêu thích khổ thì đối với khổ không được
giải thoát.
“Này
các Tỳ-kheo, ai không yêu thích sắc, thì sẽ không thích khổ.
Ai không yêu thích khổ, thì đối với khổ sẽ được giải
thoát.
“Cũng
vậy, ai không yêu thích thọ, tưởng, hành, thức thì sẽ không
thích khổ. Ai không thích khổ, thì đối với khổ sẽ được
giải thoát.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Kệ
tóm tắt:
Vô
thường và khổ không,
Phi
ngã, chánh tư duy.
Có
bốn kinh vô tri,
Cùng
hỷ lạc nơi sắc.
KINH
8. QUÁ KHỨ VÔ THƯỜNG[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc
quá khứ, vị lai là vô thường huống chi là sắc hiện tại.
Thánh đệ tử hãy quán sát như vầy: ‘Không hồi tưởng
sắc quá khứ, không tìm cầu sắc vị lai, đối với sắc
hiện tại thì nên nhàm tởm, ly dục, hướng thẳng đến diệt
tận[17].’
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai là vô thường
huống chi là... thức hiện tại. Thánh đệ tử hãy quán sát
như vầy: ‘Không hồi tưởng thức quá khứ, không mong cầu
thức vị lai và đối với thức hiện tại thì nên nhàm chán,
ly dục, hướng thẳng đến diệt tận.’
“Vô
thường, khổ, không, phi ngã cũng lại như vậy.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
9. YỂM LY[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc
là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng
phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu
của ta[19]. Quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán[20].
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Vô thường
tức là khổ. Khổ tức chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải
ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Quán sát như vậy
gọi là chân thật chánh quán.
“Thánh
đệ tử quán sát như vậy thì sẽ nhàm tởm sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Do nhàm tởm nên không ham muốn[21], vì không ham
muốn nên được giải thoát. Đối với giải thoát, trí chân
thật phát sanh[22], biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết
sẽ không tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
10. GIẢI THOÁT[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc
là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng
phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu
của ta. Quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán.
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Vô thường
tức là khổ. Khổ tức chẳng phải ta. Chẳng phải ta tức
chẳng phải sở hữu của ta. Quán sát như vậy gọi là chân
thật chánh quán.
“Thánh
đệ tử quán sát như vậy giải thoát khỏi sắc, giải thoát
khỏi thọ, tưởng, hành, thức. Ta nói, đó cũng là sự giải
thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
11. NHÂN DUYÊN (1)[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc
là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các sắc, chúng cũng vô
thường[25]. Vậy, các sắc được sanh ra từ nhân và duyên
vô thường, làm sao có thể là thường được?
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Nhân và duyên
sanh ra các thức, chúng cũng vô thường. Vậy, các thức được
sanh ra từ nhân và duyên vô thường, làm sao có thể là thường
được?
“Như
vậy, các Tỳ-kheo, sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành,
thức là vô thường. Cái gì là vô thường thì cái đó là
khổ. Cái gì khổ thì chúng chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải
ta thì không phải là sở hữu của ta. Thánh đệ tử quán
sát như vậy, nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, tưởng, hành,
thức. Do nhàm chán nên không thích. Vì không thích nên giải
thoát và có tri kiến về giải thoát[26], biết rằng: ‘Ta,
sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm
đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
12. NHÂN DUYÊN (2)[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Sắc
là vô thường. Nhân và duyên sanh ra các sắc cũng vô thường.
Vậy, các sắc được sanh từ nhân và duyên vô thường, làm
sao có thể là thường được?
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường.
Vậy, các thức được sanh ra từ nhân và duyên vô thường
làm sao có thể là thường được?
“Như
vậy, các Tỳ-kheo, sắc là vô thường, thọ, tưởng, hành,
thức là vô thường. Cái gì là vô thường thì cái đó là
khổ. Cái gì khổ thì chúng chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải
ta thì không phải là sở hữu của ta. Quán sát như vậy gọi
là chân thật chánh quán. Thánh đệ tử quán sát như vậy
thì sẽ giải thoát khỏi sắc, giải thoát khỏi thọ, tưởng,
hành và thức. Ta nói, đó cũng là giải thoát khỏi sanh, già,
bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não như vậy.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
13. VỊ (1)[28]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu
chúng sanh nào không nếm vị ngọt của sắc thì sẽ không
nhiễm đắm sắc[29]. Vì chúng sanh nếm vị ngọt của sắc
cho nên bị đắm trước.
“Cũng
vậy, chúng sanh nào không nếm vị ngọt của thọ, tưởng,
hành, thức thì chúng sanh ấy không bị đắm nhiễm thức.
Vì chúng sanh nếm vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức
cho nên chúng sanh ấy bị nhiễm trước vào thức.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu sắc đối với chúng sanh không phải là
sự tai hại[30], thì chúng sanh ấy không nên nhàm chán sắc.
Vì sắc là mối hại của chúng sanh cho nên những chúng sanh
ấy nhàm chán sắc.
“Cũng
vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu không phải
là mối hại thì chúng sanh ấy không nên nhàm chán thức. Vì
thọ, tưởng, hành, thức là mối hại của chúng sanh, cho nên
những chúng sanh ấy nhàm chán thức.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu sắc đối với chúng sanh mà không có sự
xuất ly[31], thì những chúng sanh ấy không nên thoát ly sắc.
Vì sắc đối với chúng sanh có sự xuất ly, cho nên những
chúng sanh ấy thoát ly sắc.
“Cũng
vậy, nếu thọ, tưởng, hành, thức đối với chúng sanh không
có sự xuất ly, thì những chúng sanh ấy không nên thoát ly
thức. Vì thọ, tưởng, hành, thức đối với chúng sanh có
sự xuất ly, cho nên những chúng sanh ấy thoát ly thức.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu Ta đối với năm thọ ấm[32] này mà không
biết một cách như thạât vị ngọt là vị ngọt, tai hại
là tai hại, xuất ly là xuất ly, thì Ta ở giữa chư Thiên,
Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn và các chúng trời, người đã
không thể tự chứng, không được thoát, không vượt ra, không
xa lìa, vĩnh viễn an trú trong sự điên đảo, cũng không thể
tự mình chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác[33].
“Này
các Tỳ-kheo, vì Ta đã biết năm thọ ấm này một cách như
thật rằng vị ngọt là vị ngọt, tai hại là tai hại, xuất
ly là xuất ly, nên Ta ở giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Bà-la-môn và các chúng trời, người đã có thể tự chứng,
đã thoát, đã vượt ra, đã xa lìa, vĩnh viễn không an trú
trong sự điên đảo, cũng có thể tự mình chứng đắc Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
14. VỊ (2)[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Trước
kia Ta đã từng đi tìm kiếm vị ngọt của sắc[35]. Nếu khi
cảm giác tùy thuận[36] vị ngọt của sắc, thì đối với
vị ngọt của sắc Ta dùng trí tuệ thấy rõ như thật.
“Cũng
vậy, Ta đã từng đi tìm kiếm vị ngọt của thọ, tưởng,
hành, thức. Nếu khi cảm giác tùy thuận thọ, tưởng, hành,
thức, thì đối với vị ngọt của thức Ta dùng trí tuệ
thấy rõ như thật.
“Này
các Tỳ-kheo, Ta đã từng đi tìm kiếm sự tai hại của sắc.
Nếu khi cảm giác tùy thuận sự tai hại của sắc, thì đối
với sự tai hại của sắc Ta dùng trí tuệ để thấy rõ như
thật.
“Cũng
vậy, Ta đã từng đi tìm kiếm sự tai hại của thọ, tưởng,
hành, thức. Nếu khi cảm giác tùy thuận sự tai hại của
thức, thì đối với sự tai hại của thức Ta dùng trí tuệ
để thấy rõ như thật.
“Này
các Tỳ-kheo, Ta đã từng đi tìm cầu sự xuất ly sắc. Nếu
khi cảm giác tùy thuận sắc, thì đối với sự xuất ly sắc
Ta dùng trí tuệ để thấy rõ như thật.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu Ta đối với năm thọ ấm này mà không biết
một cách như thạât vị ngọt là vị ngọt, tai hại là tai
hại, xuất ly là xuất ly, thì Ta ở giữa chư Thiên, Ma, Phạm,
Sa-môn, Bà-la-môn và các chúng trời, người đã không thể
tự chứng, không được thoát, không vượt ra, không xa lìa,
vĩnh viễn an trú trong sự điên đảo, cũng không thể tự
mình chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Này
các Tỳ-kheo, vì Ta đã biết năm thọ ấm này một cách như
thật rằng vị ngọt là vị ngọt, tai hại là tai hại, xuất
ly là xuất ly, nên Ta ở giữa chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Bà-la-môn và các chúng trời, người đã có thể tự chứng,
đã thoát, đã vượt ra, đã xa lìa, vĩnh viễn không an trú
trong sự điên đảo, cũng có thể tự mình chứng đắc Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Bài
kệ tóm tắt:
Quá
khứ nói bốn kinh
Yểm
ly và giải thoát
Nói
hai kinh nhân duyên
Vị
ngọt cũng hai kinh.
KINH
15. SỬ[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo nọ[38] đến chỗ Đức
Phật, cúi đầu lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên,
bạch Phật rằng:
“Lành
thay, Thế Tôn! Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau
khi nghe pháp, con sẽ một mình ở chỗ vắng[39], tu tập không
buông lung. Khi tu tập không buông lung con sẽ tư duy về lý
do mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc
pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình[40],
chỉ vì để ngay trong đời này chứng nghiệm[41] cứu cánh
phạm hạnh vô thượng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt,
phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự
biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn dạy Tỳ-kheo kia:
“Lành
thay! Lành thay! Tỳ-kheo, đã khéo nói những lời này: ‘Nay
xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ
ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không buông lung... cho đến,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ông đã nói như
vậy phải chăng?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn!”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Ông
hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, khéo léo suy nghĩ kỹ, Ta sẽ
vì ông mà nói.
“Này
Tỳ-kheo, nếu để sai sử theo sử, tức là chết theo sử[42].
Nếu chết theo sử là bị thủ trói buộc[43]. Nếu Tỳ-kheo
không bị sai sử theo sử, thì sẽ không chết theo sử. Không
chết theo sử, tức là giải thoát đối với thủ.”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Con
đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ!”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Đối
trong pháp yếu mà Ta đã lược nói, nếu ngươi hiểu rộng
nghĩa của nó thì phải như thế nào?”
Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, sắc sai sử theo sử, sắc chết theo sử[44]. Sai sử
theo sử mà chết theo sử thì bị thủ trói buộc.
“Cũng
vậy thọ, tưởng, hành, thức sai sử theo sử, thì chết theo
sử. Sai sử theo sử mà chết theo sử thì bị thủ trói buộc.
“Bạch
Thế Tôn, nếu sắc không sai sử theo sử, thì sắc không chết
theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết theo sử thì đối
với thủ được giải thoát.
“Cũng
vậy, nếu thọ, tưởng, hành, thức không sai sử theo sử,
thì không chết theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết
theo sử thì đối với thủ được giải thoát.
“Như
vậy, trong pháp yếu được Thế Tôn nói tóm tắt, ý nghĩa
được diễn rộng như vậy.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay, lành thay, Tỳ-kheo! Trong pháp yếu được Ta nói tóm tắt,
ý nghĩa được diễn rộng như vậy.
“Vì
sao?
“Sắc
sai sử theo sử, sắc chết theo sử. Sai sử theo sử mà chết
theo sử thì bị thủ trói buộc.
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức sai sử theo sử, thì chết theo
sử. Sai sử theo sử mà chết theo sử thì bị thủ trói buộc.
“Này
Tỳ-kheo, nếu sắc không sai sử theo sử, thì sắc không chết
theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết theo sử thì đối
với thủ được giải thoát.
“Cũng
vậy, nếu thọ, tưởng, hành, thức không sai sử theo sử,
thì không chết theo sử. Không sai sử theo sử mà không chết
theo sử thì đối với thủ được giải thoát.”
Bấy
giờ, vị Tỳ-kheo kia sau khi nghe Đức Phật dạy xong tâm rất
vui mừng, lạy Phật rồi lui. Vị kia ở một mình nơi chỗ
vắng tinh cần tu tập, sống không buông lung. Sau khi tinh cần
tu tập sống không buông lung rồi, vị kia tư duy về lý do
mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc
pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
… cho đến, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa. Bấy
giờ, vị Tỳ-kheo kia thành A-la-hán, tâm được giải thoát.
KINH
16. TĂNG CHƯ SỐ[45]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo nọ đi đến chỗ
Phật thưa hỏi những việc như trên, nhưng có những sự sai
biệt như sau:
“Cái
gì sai sử theo sử mà chết theo sử, thì cái đó tăng các
số[46]. Nếu không sai sử theo sử mà chết theo sử, thì không
tăng các số.”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Đối
với những pháp mà Ta đã nói tóm tắt, ngươi hiểu rộng
nghĩa của nó như thế nào?”
Tỳ-kheo
kia bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, nếu sắc sai sử theo sử thì chết theo sử. Cái
gì sai sử theo sử mà chết theo sử, thì cái đó tăng các
số.
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức sai sử theo sử thì chết theo
sử. Cái gì sai sử theo sử mà chết theo sử, thì cái đó
tăng các số.
“Bạch
Thế Tôn, nếu sắc không sai sử theo sử thì không chết theo
sử. Nếu không sai sử theo sử mà chết theo sử, thì không
tăng các số.
“Cũng
vậy, thọ, tưởng, hành, thức không sai sử theo sử thì không
chết theo sử. Nếu không sai sử theo sử mà chết theo sử,
thì không tăng các số.
“Bạch
Đức Thế Tôn, trong những pháp đã được nói tóm tắt, con
đã hiểu nghĩa rộng của nó như vậy.”
Như
trên và cho đến … ‘đạt được A-la-hán, tâm được giải
thoát’.
KINH
17. PHI NGÃ[47]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một vị Tỳ-kheo từ chỗ ngồi
đứng dậy, trịch áo vai bên phải, chắp tay bạch Đức Phật
rằng:
“Lành
thay, Thế Tôn! Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau
khi nghe pháp, con sẽ ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không
buông lung. Khi tu tập không buông lung con sẽ tư duy về lý
do mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc
pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
chỉ vì để ngay trong đời này chứng nghiệm cứu cánh phạm
hạnh vô thượng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết
không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo kia:
“Lành
thay! Lành thay! Tỳ-kheo, đã khéo nói những lời này: ‘Nay
xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ
ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không buông lung... cho đến,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ngươi đã nói
như vậy phải chăng?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Đúng
vậy, bạch Thế Tôn.”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lắng
nghe, lắng nghe, hãy khéo suy nghĩ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Này
Tỳ-kheo, pháp nào không thích ứng[48] đối với ngươi thì
nên nhanh chóng đoạn trừ. Đoạn trừ pháp này để được
lợi, được ích, được an vui lâu dài[49].”
Tỳ-kheo
kia bạch Phật rằng:
“Con
đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ!”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Đối
với những pháp đã được nói tóm tắt, ngươi hiểu rộng
ý như thế nào?”
Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, sắc chẳng phải là thích ứng đối với con, nên
cần phải nhanh chóng đoạn trừ. Cũng vậy, thọ, tưởng,
hành, thức chẳng phải là thích ứng đối với con, nên cần
phải nhanh chóng đoạn trừ. Đoạn trừ pháp này để được
lợi, được ích, được an vui lâu dài. Cho nên, bạch Thế
Tôn, đối với pháp mà Thế Tôn đã nói tóm tắt con đã hiểu
rộng nghĩa của nó như vậy.”
Đức
Phật dạy:
“Lành
thay! Lành thay! Này Tỳ-kheo, đối với những pháp đã được
nói tóm tắt của Ta, ông đã hiểu nghĩa rộng của nó. Vì
sao? Vì sắc chẳng phải là thích ứng đối với ông, nên
cần phải nhanh chóng đoạn trừ. Cũng vậy thọ, tưởng, hành,
thức chẳng phải là thích ứng đối với ông, nên cần phải
nhanh chóng đoạn trừ. Đoạn trừ pháp này để được lợi,
được ích, được an vui lâu dài.”
Sau
khi vị Tỳ-kheo kia nghe những lời dạy của Phật, tâm rất
vui mừng, lạy Phật rồi lui; một mình ở chỗ vắng, siêng
năng tu tập, sống không buông lung. Sau khi siêng năng tu tập,
sống không buông lung, thầy tư duy về lý do mà một thiện
nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc pháp y, có lòng
tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ vì để ngay
trong đời này chứng nghiệm cứu cánh phạm hạnh vô thượng,
biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’
Bấy
giờ, vị Tỳ-kheo kia thành bậc A-la-hán, tâm được giải
thoát.
KINH
18. PHI BỈ[50]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, từ chỗ ngồi
đứng dậy, trịch áo vai bên phải, lễ Phật rồi đứng sang
một bên, bạch Phật rằng:
“Lành
thay, Thế Tôn! Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau
khi nghe pháp, con sẽ ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không
buông lung. Khi tu tập không buông lung con sẽ tư duy về lý
do mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc
pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
chỉ vì để ngay trong đời này chứng nghiệm cứu cánh phạm
hạnh vô thượng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết
không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn dạy Tỳ-kheo kia:
“Lành
thay! Lành thay! Tỳ-kheo, đã khéo nói những lời này: ‘Nay
xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ
ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không buông lung... cho đến,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ông đã nói như
vậy phải chăng?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn!”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Ông
hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, khéo léo suy nghĩ kỹ, Ta sẽ
vì ông mà nói.
“Nếu
có pháp nào chẳng phải là thiùch ứng của các ông và cũng
chẳng phải là thích ứng của người khác, thì hãy nhanh chóng
đoạn trừ pháp ấy[51]. Đoạn trừ pháp ấy để được lợi,
được ích, được an lạc lâu dài.”
Tỳ-kheo
kia, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Đối
với pháp đã được Ta nói tóm tắt, ông hiểu nghĩa rộng
của nó như thế nào?”
Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, sắc chẳng phải là con, chẳng phải là thích ứng
của con[52], cũng chẳng phải là thích ứng của người khác.
Pháp này cần nhanh chóng đoạn trừ. Đoạn trừ pháp ấy để
được lợi, được ích, được an lạc lâu dài. Cũng vậy
thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải là con, chẳng phải là
thích ứng của con, cũng chẳng phải là thích ứng của người
khác. Pháp này cần nhanh chóng đoạn trừ. Đoạn trừ pháp
ấy để được lợi, được ích, được an lạc lâu dài.
Cho nên đối với những pháp mà Như Lai đã nói tóm tắt,
con đã hiểu được nghĩa rộng của nó như vậy.”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Đối với những pháp đã được Ta nói tóm
tắt, ông đã hiểu nghĩa rộng của nó. Vì sao? Này Tỳ-kheo,
sắc chẳng phải là ta, chẳng phải là thích ứng của ta,
cũng chẳng phải là thích ứng của người khác. Pháp này
cần nhanh chóng đoạn trừ. Đoạn trừ pháp ấy để được
lợi, được ích, được an lạc lâu dài. Cũng vậy thọ, tưởng,
hành, thức chẳng phải là ta, chẳng phải là thích ứng của
ta, cũng chẳng phải là thích ứng của người khác. Pháp này
cần nhanh chóng đoạn trừ. Đoạn trừ pháp ấy để được
lợi, được ích, được an lạc lâu dài.”
Sau
khi vị Tỳ-kheo kia nghe những lời dạy của Phật, tâm rất
vui mừng, lạy Phật rồi lui; một mình ở chỗ vắng, siêng
năng tu tập, sống không buông lung, cho đến, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.’
Bấy
giờ, vị Tỳ-kheo kia thành bậc A-la-hán, tâm được giải
thoát.
KINH
19. KẾT HỆ[53]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, từ chỗ ngồi
đứng dậy, trịch áo vai bên phải, lễ Phật rồi đứng sang
một bên, bạch Phật rằng:
“Lành
thay, Thế Tôn! Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau
khi nghe pháp, con sẽ ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không
buông lung. Khi tu tập không buông lung con sẽ tư duy về lý
do mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc
pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
cho đến, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn dạy Tỳ-kheo kia:
“Lành
thay! Lành thay! Tỳ-kheo, đã khéo nói những lời này: ‘Nay
xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ
ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không buông lung... cho đến,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ông đã nói như
vậy phải chăng?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn!”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Ông
hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, khéo léo suy nghĩ kỹ, Ta sẽ
vì ông mà nói.
“Tỳ-kheo,
pháp bị trói buộc bởi kết sử, hãy nhanh chóng đoạn trừ[54].
Đoạn trừ pháp ấy để được lợi, được ích, được
an lạc lâu dài.”
Tỳ-kheo
kia, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Đối
với pháp đã được Ta nói tóm tắt, ông hiểu nghĩa rộng
của nó như thế nào?”
Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Đức
Thế Tôn, sắc là pháp bị kết sử trói buộc[55]. Pháp bị
kết sử trói buộc này, nên nhanh chóng đoạn trừ. Khi đã
đoạn trừ rồi, sẽ được lợi, được ích, được an lạc
lâu dài. Cũng vậy thọ, tưởng, hành, thức là pháp bị kết
sử trói buộc. Pháp bị kết sử trói buộc này, nên nhanh
chóng đoạn trừ. Khi pháp kia đã được đoạn trừ rồi,
thì sẽ được lợi, được ích, được an lạc lâu dài. Cho
nên đối với những pháp đã được Đức Thế Tôn nói tóm
tắt, con đã hiểu được nghĩa rộng của nó.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Đối với những pháp đã được Ta nói tóm
tắt, ông đã hiểu được nghĩa rộng của nó. Vì sao? Vì
sắc là pháp bị kết sử trói buộc, pháp bị kết sử trói
buộc này, nên nhanh chóng đoạn trừ. Khi đã đoạn trừ rồi,
sẽ được lợi, được ích, được an lạc lâu dài. Cũng
vậy thọ, tưởng, hành, thức là pháp bị kết sử trói buộc,
pháp bị kết sử trói buộc này, nên nhanh chóng đoạn trừ.
Khi pháp kia đã được đoạn trừ rồi, thì sẽ được lợi,
được ích, được an lạc lâu dài.”
Sau
khi vị Tỳ-kheo kia nghe những lời dạy của Phật, tâm rất
vui mừng, lạy Phật rồi lui; một mình ở chỗ vắng, siêng
năng tu tập, sống không buông lung, cho đến, tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa.
Bấy
giờ, vị Tỳ-kheo kia thành bậc A-la-hán, tâm được giải
thoát.
KINH
20. THÂM KINH
Thâm
kinh cũng nói như vậy[56].
KINH
21. ĐỘNG DAO[57]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, từ chỗ ngồi
đứng dậy, trịch áo vai bên phải, lễ Phật rồi đứng sang
một bên, bạch Phật rằng:
“Lành
thay, Thế Tôn! Nay xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau
khi nghe pháp, con sẽ ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không
buông lung. Khi tu tập không buông lung con sẽ tư duy về lý
do mà một thiện nam tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mình mặc
pháp y, có lòng tin, từ bỏ gia đình, sống không gia đình,
cho đến, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn dạy Tỳ-kheo kia:
“Lành
thay! Lành thay! Tỳ-kheo, đã khéo nói những lời này: ‘Nay
xin vì con mà nói vắn tắt pháp yếu. Sau khi nghe pháp, con sẽ
ở một mình nơi chỗ vắng, tu tập không buông lung... cho đến,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ông đã nói như
vậy phải chăng?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn!”
Đức
Phật bảo Tỳ-kheo:
“Ông
hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, khéo léo suy nghĩ kỹ, Ta sẽ
vì ông mà nói.
“Này
Tỳ-kheo, người nào dao động thì sẽ bị ma trói. Nếu người
nào không động thì sẽ giải thoát khỏi Ba-tuần[58].”
Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Con
đã hiểu, bạch Thế Tôn. Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Đối
với pháp đã được Ta nói tóm tắt, ông hiểu nghĩa rộng
của nó như thế nào?”
Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, khi bị sắc làm dao động[59] thì bị ma trói buộc.
Nếu không dao động thì giải thoát khỏi Ba-tuần. Cũng vậy
khi thọ, tưởng, hành, thức làm dao động thì bị ma trói
buộc. Nếu không dao động thì giải thoát khỏi Ba-tuần. Cho
nên đối với những pháp đã được Đức Thế Tôn nói tóm
tắt, con đã hiểu được nghĩa rộng của nó.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Đối với những pháp đã được Ta nói tóm
tắt, ông đã hiểu được nghĩa rộng của nó. Vì sao? Khi
bị sắc làm dao động, thì bị ma trói buộc. Nếu không động,
thì giải thoát khỏi Ba-tuần. Cũng vậy khi bị thọ, tưởng,
hành, thức làm dao động, thì sẽ bị ma trói buộc. Nếu không
động, thì giải thoát khỏi Ba-tuần”… cho đến: ‘… tự
biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Tâm được giải
thoát, thành bậc A-la-hán.
KINH
22. KIẾP-BA SỞ VẤN[60]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo tên là Kiếp-ba[61], đi
đến chỗ Phật, đầu mặt lạy sát chân Phật, rồi đứng
qua một bên, bạch Phật rằng:
“Như
lời Đức Thế Tôn đã dạy, ‘Tỳ-kheo tâm khéo được giải
thoát.’ Bạch Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo tâm khéo được
giải thoát[62]?”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói với Kiếp-ba rằng:
“Lành
thay! Lành thay! Ông có thể hỏi Như Lai về tâm khéo giải
thoát. Lành thay, Kiếp-ba! Hãy lắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ
kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói.
“Này
Kiếp-ba, hãy quán sát biết rõ những gì thuộc về sắc, hoặc
quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc
ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoăïc xa,
hoặc gần; tất cả những thứ đó đều vô thường. Khi đã
quán sát chân chính về vô thường rồi, thì sắc ái liền
được trừ. Khi sắc ái đã được trừ rồi, thì tâm khéo
giải thoát. Cũng vậy, quán sát thọ, tưởng, hành, thức hoặc
quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc
ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa,
hoặc gần; tất cả những thứ đó đều vô thường. Khi đã
quán sát chân chính về vô thường rồi, thì thức ái liền
được trừ. Khi thức ái đã được trừ rồi, thì Ta nói
là tâm khéo giải thoát.
“Này
Kiếp-ba, Tỳ-kheo có tâm khéo giải thoát như vậy, Như Lai
nói là tâm khéo giải thoát. Vì sao? Vì ái dục đã được
đoạn trừ. Người nào ái dục đã được đoạn trừ, thì
Như Lai gọi người đó là tâm khéo giải thoát.”
Sau
khi Tỳ-kheo Kiếp-ba nghe những lời dạy của Đức Phật, tâm
rất vui mừng, lạy Phật rồi lui.
Bấy
giờ, Tỳ-kheo Kiếp-ba, sau khi nhận lãnh những lời Phật dạy
rồi, một mình ở chỗ vắng chuyên cần tinh tấn tư duy, sống
không buông lung… cho đến ‘… tự biết không còn tái sanh
đời sau nữa.’ Tâm khéo giải thoát, thành bậc A-la-hán.
KINH
23. LA-HẦU-LA SỞ VẤN (1)[63]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú trong rừng trúc Ca-lan-đà, tại thành Vương
xá. Bấy giờ, Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Phật, đầu
mặt lạy sát chân Phật, rồi đứng qua một bên, bạch Phật
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào để cho thân
thức này của con cùng tất cả những tướng trạng thuộc
cảnh giới bên ngoài không có các kết sử trói buộc là ngã,
ngã sở kiến, ngã mạn[64]?”
Đức
Phật dạy La-hầu-la:
“Lành
thay! Lành thay! Phải chăng ngươi hỏi Như Lai rằng, ‘biết
như thế nào, thấy như thế nào để cho thân thức này của
con cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên
ngoài không có các kết sử trói buộc là ngã, ngã sở kiến,
ngã mạn’?”
La-hầu-la
bạch Phật rằng:
“Đúng
vậy, bạch Thế Tôn.”
Phật
dạy La-hầu-la:
“Lành
thay! Hãy lắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi
mà nói.
“Này
La-hầu-la, hãy quán sát, những gì thuộc về các sắc, hoặc
quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị lai; hoặc trong, hoặc
ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc xấu, hoặc tốt; hoặc xa,
hoặc gần; tất cả những thứ đó đều chẳng phải ngã,
không khác ngã, không ở trong nhau[65]; nên bằng tuệ bình đẳng[66]
mà quán sát như thật như vậy. Cũng vậy thọ, tưởng, hành,
thức, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc
trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc xấu, hoặc tốt;
hoặc xa, hoặc gần; tất cả những thứ đó đều chẳng phải
ngã, không khác ngã, không ở trong nhau; nên bằng tuệ bình
đẳng quán sát như thật như vậy.
“Như
vậy, này La-hầu-la, Tỳ-kheo nên biết như vậy, thấy như
vậy. Người nào biết như vậy, thấy như vậy, thì đối
với thức thân này cùng tất cả những tướng trạng thuộc
cảnh giới bên ngoài không có kết sử trói buộc là ngã kiến,
ngã sở kiến, ngã mạn.
“Này
La-hầu-la, Tỳ-kheo nếu như vậy đối với thức thân này
cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên ngoài
không có kết sử trói buộc là ngã kiến, ngã sở kiến, ngã
mạn, thì Tỳ-kheo đó được gọi là người đoạn ái dục,
chuyển đi các kết sử, chân chánh hiện quán[67] đạt đến
biên tế của khổ.”
La-hầu-la
sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
24. LA-HẦU-LA SỞ VẤN (2)[68]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương
xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo La-hầu-la:
“Tỳ-kheo
biết như thế nào, thấy như thế nào để cho thân thức này
của ta cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới
bên ngoài không có các kết sử trói buộc là ngã, ngã sở
kiến, ngã mạn?”
La-hầu-la
bạch Phật rằng:
“Thế
Tôn là chủ các pháp, là vị dẫn đường, là người che chở.
Lành thay, Thế Tôn! Hãy vì các Tỳ-kheo mà diễn nói nghĩa
này. Các Tỳ-kheo, sau khi đã được nghe những lời Phật dạy,
sẽ hoan hỷ phụng hành.”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Hãy
lắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.”
La-hầu-la
bạch Phật:
“Thưa
vâng, con xin vâng lời.”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Hãy
quán sát những gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị
lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc
tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả những
thứ đó chẳng phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau;
nên dùng tuệ bình đẳng quán sát như thật như vậy. Cũng
vậy thọ, tưởng, hành và thức, hoặc quá khứ, hoặc vị
lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc
tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả những
thứ đó chẳng phải ngã, không khác ngã, không ở trong nhau;
nên dùng tuệ bình đẳng quán sát như thật như vậy.
“Tỳ-kheo
biết như vậy, phải thấy như vậy, đối với thức thân
này cùng tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên
ngoài không có kết sử trói buộc là ngã kiến, ngã sở kiến,
ngã mạn.
“Này
La-hầu-la, Tỳ-kheo như vậy đối với thức thân này cùng
tất cả những tướng trạng thuộc cảnh giới bên ngoài không
có kết sử trói buộc là ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn,
sẽ siêu việt nghi tâm, xa lìa các tướng, tịch tịnh giải
thoát. Đó gọi là Tỳ-kheo đoạn trừ ái dục, chuyển đi
các kết sử, chân chánh hiện quán, đạt đến chỗ tận cùng
của mé khổ một cách chân chính.”
La-hầu-la
sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt:
Sử,
tăng chư số,
Phi
ngã, phi bỉ,
Kết
phược, dao động,
Kiếp-ba
sở vấn,
Cùng
La-hầu-la,
Hai
kinh sở vấn.
KINH
25. ĐA VĂN[69]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, đi đến chỗ
Phật, làm lễ Phật, rồi đứng qua một bên, bạch Phật rằng:
“Như
Thế Tôn nói ‘Đa văn’. Vậy thế nào là đa văn?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Nay ngươi muốn hỏi Ta về nghĩa của đa văn
phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật rằng:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Tỳ-kheo,
nên biết, nếu nghe pháp mà đối với sắc phát sanh yểm ly,
ly dục, diệt tận, tịch tĩnh[70], thì đó gọi là đa văn.
Cũng vậy nếu nghe pháp mà đối với thọ, tưởng, hành, thức
phát sanh yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh, thì gọi đó
là đa văn. Này Tỳ-kheo, đó gọi là đa văn mà Như Lai nói.”
Tỳ-kheo
kia sau khi nghe những lời Phật dạy, phấn khởi vui mừng,
làm lễ mà lui.
KINH
26. THIỆN THUYẾT PHÁP[71]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, đến chỗ Phật,
đầu mặt lạy sát chân Phật, rồi đứng qua một bên, bạch
Phật rằng:
“Như
Thế Tôn nói ‘Pháp sư.’ Vậy thế nào gọi là Pháp sư[72]?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Nay ngươi muốn biết những gì mà Như Lai đã
nói về nghĩa Pháp sư phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Nếu
người nào đối với sắc mà nói pháp khiến sanh ra yểm ly,
ly dục, diệt tận, tịch tĩnh[73], thì đó gọi là Pháp sư.
Nếu người nào đối với thọ, tưởng, hành, thức mà nói
pháp khiến sanh yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh, thì
gọi đó là Pháp sư. Đó cũng gọi là những gì mà Như Lai
đã nói về Pháp sư.”
Tỳ-kheo
kia sau khi nghe những lời Phật dạy, phấn khởi vui mừng,
lạy Phật mà lui.
KINH
27. HƯỚNG PHÁP[74]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, đến chỗ Đức
Phật, đầu mặt làm lễ, rồi đứng qua một bên, bạch Phật
rằng:
“Như
Đức Thế Tôn nói ‘Pháp thứ pháp hướng[75].’ Vậy thế
nào là Pháp thứ pháp hướng?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Nay ngươi muốn biết Pháp thứ pháp hướng
phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Này
Tỳ-kheo, đối với sắc mà hướng đến yểm ly, ly dục, diệt
tận, thì gọi đó là Pháp thứ pháp hướng[76]. Cũng vậy
đối với thọ, tưởng, hành, thức mà hướng đến yểm ly,
ly dục, diệt tận, thì đó gọi là Pháp thứ pháp hướng.”
Tỳ-kheo
kia sau khi nghe những lời Phật dạy, phấn khởi vui mừng,
lạy Phật mà lui.
KINH
28. NIẾT-BÀN[77]
Tôi
nghe như vầy: