MƯỜI
PHÁP
46.
PHẨM
KẾT CẤM
KINH
SỐ 1
[775c07]
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giời Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
mười sự công đức[1] mà Như Lai xuất hiện ở đời thuyết
cấm giới cho các Tỳ kheo.
“Những
gì là mười? Thừa sự Thánh chúng; hòa hiệp thuận thảo;
an ổn Thánh chúng; hàng phục người xấu; khiến các Tỳ kheo
có tàm quý không bị quấy nhiễu; người không tin khiến xác
lập tín căn; người đã tin khiến càng tăng ích; ngay trong
hiện pháp được dứt sạch các lậu; cũng khiến các thói
xấu hữu lậu đời sau được trừ diệt; lại khiến Chánh
pháp tồn tại thế gian lâu dài, thường niệm tư duy bằng
phương tiện nào để Chánh pháp tồn tại lâu dài.
“Tỳ
kheo, đó là mười pháp công đức, nay Như Lai xuất hiện ở
đời thuyết cấm giới cho Tỳ kheo. Cho nên, Tỳ kheo, hãy tìm
cầu phương tiện thành tựu cấm giới giới, chớ để thoái
thất.
“Như
vậy, Tỳ kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 2[2]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
mười sự, là chỗ cư trú của Thánh.[3] Các Thánh trong ba
đờì thường cư trú nơi đó. Những gì là mười? Năm sự
đã trừ; thành tựu sáu sự; hằng hộ một sự;[4] hộ trì
chúng bốn bộ;[5] quán sát các sự yếu kém;[6] bình đẳng
thân cận;[7] chánh hướng vô lậu;[8] thân hành khinh an;[9]
tâm khéo giải thoát; tuệ giải thoát.
“Thế
nào, Tỳ kheo, năm sự đã trừ? Ở đây, Tỳ kheo đã đoạn
trừ năm kết.[10] Như vậy, năm sự đã được trừ.
“Thế
nào Tỳ kheo thành tựu sáu sự? Ở dây, Tỳ kheo vâng hành
sáu pháp tôn trọng.[11] Như vậy, Tỳ kheo thành tựu sáu sự.
“Thế
nào Tỳ kheo hằng hộ một sự? Ở đây, Tỳ kheo hằng thủ
hộ tâm đối với hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, cho đến
cửa Niết-bàn.[12] Như vậy, Tỳ kheo hằng hộ [776a] một sự.
“Thế
nào Tỳ kheo thủ hộ chúng bốn bộ? Ở đây, Tỳ kheo thành
tựu bốn thần túc.[13] Như vậy mà thủ hộ chúng bốn bộ.
“Thế
nào Tỳ kheo quán sát sự yếu kém? Ở đây, Tỳ kheo đã tận
trừ các hành sinh tử.[14] Như vậy, Tỳ kheo quán sát sự yếu
kém.[15]
“Thế
nào Tỳ kheo bình đẳng thân cận? Ở đây, Tỳ kheo đã đoạn
tận ba kết.[16] Đó là Tỳ kheo bình đẳng thân cận.
“Thế
nào Tỳ kheo chánh hướng vô lậu? Ở đây, Tỳ kheo trừ khử
kiêu mạn.[17] Như vây, Tỳ kheo chánh hướng vô lậu.
“Thế
nào Tỳ kheo thân hành khinh an? Ở đây, Tỳ kheo đã diệt tận
vô minh.[18] Như vậy, Tỳ kheo thân hành khinh an.
“Thế
nào Tỳ kheo tâm hoàn toàn được giải thoát? Ở đây, Tỳ
kheo đã đoạn tận ái. Như vậy, Tỳ kheo tâm hoàn toàn giải
thoát.
“Thế
nào Tỳ kheo tuệ giải thoát? Ở đây, Tỳ kheo quán Khổ, Tập,
Tận, Đạo, như thật biểt rõ. Như vậy, Tỳ kheo tuệ giải
thoát.
“Đó
là, Tỳ kheo, mười sự là chốn cư trú của Hiền Thánh. Các
Hiền Thánh xưa đã cư trú nơi trú xứ này, đã cư trú và
đang cư trú. Cho nên, Tỳ kheo, hãy niệm trừ năm sự, thành
tựu sáu pháp, thủ hộ một pháp, hộ trì chúng bốn bộ,
quán sát yếu kém, bình đẳng thân cận, chánh hứong vô lậu,
thân hành khinh an, tâm được giải thoát, trí tuệ giải thoát.
“Như
vậy, Tỳ kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các ỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Như
Lai thành tựu mười lực, tự biết là bậc Vô sở trước,[19]
ở giữa đại chúng mà có thể rống tiếng sư tử, chuyển
pháp luân vô thượng mà cứu độ chúng sinh, rằng đây là
sắc, đây là tập khởi của sắc, đây là sự diệt tận
của sắc, đây là xuất yếu của sắc; quán sát đây là thọ,
tưởng, hành, hức, tập khởi, diệt tận, xuất yếu của
thức; nhân bởi cái này, có cái này, đây sinh thì kia sinh;
do duyên vô minh mà hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc,
danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ,
thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên chết,
chết duyên sầu ưu khổ não, không thể kể xiết. Nhân có
thân năm uẩn này mà có pháp tập khởi này; đây diệt thì
kia diệt, đây không thì kia không, do vô minh diệt tận mà
hành diệt tận, hành tận nên thức tận, thức tận nên danh
sắc tận, danh sắc tận nên sáu xứ tận, sáu xứ tận nên
xúc tận, xúc ṭận nên thọ tận, thọ tận nên [776b] ái
tận, ái tận nên thủ tận, thủ tận nên hữu tận, hữu
tận nên chết tận, chết tận nên sầu ưu khổ não thảy
đều diệt tận.
“Tỳ
kheo, nên biết, pháp của Ta sâu thẳm, rộng lớn không có
bờ mé, đoạn trừ các hồ nghi, là chốn an ổn, chánh pháp.
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân chuyên cần dụng tâm không
để khuyết, dù cho thân thể khô kiệt, hủy hoại, vẫn không
bao giờ xả bỏ hành tinh tấn, buộc chặt tâm không quên lãng;
tu hành pháp khổ thật không phải dễ, ưa chốn nhàn tĩnh,
tịch tĩnh tư duy, không xả bỏ hành đầu-đà, như nay Như
Lai hiện tại khéo tu phạm hạnh.
“Cho
nên, Tỳ kheo, nếu khi tự quán sát, tư duy pháp vi diệu, hãy
quán sát hai nghĩa, hành không buông lung, để cho thành tựu
kết quả chắc thật, đạt đến chỗ diệt tận của cam lộ.
Nếu khi nhận sự cúng dường của người khác, áo chăn, cơm
nước, giường chõng và ngọa cụ, thuốc men trị bệnh mà
không uổng công khó nhọc của người, và cũng khiến cho cha
mẹ được quả báo ấy, thừa sự chư Phật, lễ kính, cúng
dường.
“Như
vậy, Tỳ kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ, các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 4[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Như
Lai thành tựu mười lực,[21] được bốn vô sở úy, ở giữa
đại chúng mà có thể rống tiếng sư tử.
“Những
gì là mười? Ở đây, Như Lai như thật biết rõ đây là xứ,
biết rõ như thật là phi xứ.[22]
“Lại
nữa, Như Lai biết rõ xứ sở, biết rõ tùy thuộc nhân duyên
nào mà các chúng sinh thọ lãnh quả báo ấy.[23]
“Lại
nữa, Như Lai biết rõ thế giới sai biệt, giới sai biệt[24]
xứ sai biệt; biết rõ như thật.[25]
“Lại
nữa, Như Lai biết rõ như thật giải thoát sai biệt, vô lượng
giải thoát.[26]
“Lại
nữa, Như Lai biết rõ trí tuệ nhiều hay ít của chúng sinh;
biết rõ như thật.[27]
“Lại
nữa, Như Lai biết rõ những điều suy nghĩ trong tâm của chúng
sinh; biết rõ như thật.[28] Tâm có dục, biêt rõ tâm có dục;
tâm không dục, biết rõ tâm không dục; tâm có sân nhuế,
biết rõ tâm có sân nhuế; tâm không sân nhuế, biết rõ tâm
không sân nhuế; tâm ngu si, biết rõ tâm ngu si; tâm không ngu
si, biết rõ tâm không ngu si; tâm có ái, biết rõ tâm có ái;
tâm không ái, biết rõ tâm không ái; tâm có thủ, biết rõ
tâm có thủ; tâm không thủ, biết rõ tâm không thủ; tâm loạn,
biêt rõ có tâm loạn; tâm không loạn, biết rõ tâm không loạn;
tâm tán, biết rõ có tâm tán; [776c] tâm không tán, biết rõ
tâm không tán; tâm ít, biết rõ có tâm ít; tâm không ít, biết
rõ tâm không ít; tâm rộng, biết rõ có tâm rộng; tâm không
rộng, biết rõ tâm không rộng; tâm vô lượng, biết rõ tâm
vô lượng; tâm hạn lượng, biết rõ tâm hạn lượng; như
thật biết rõ. Tâm định, biết có tâm định; tâm không định,
biết tâm không định; tâm giải thoát, biết tâm giải thoát;
tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát.
“Lại
nữa, Như Lai biêt rõ tận cùng tất cả con đường mà tâm
hướng đến,[29] hoặc một, hai đời, ba đời, bốn đời,
năm đời, mười đời, năm mươi đời, trăm đời, nghìn đời,
ức trăm nghìn đời, vô lượng đời, trong thành kiếp, hoại
kiếp, vô lượng thành hoại kiếp, xưa kia ta sinh ở đó với
tên họ như vậy, ăn thức ăn như vậy, thọ khổ lạc như
vậy, thọ mạng dài, vắn, chết đây sinh nơi kia, chết nơi
kia sinh nơi này; tự nhớ lại như vậy sự việc vô lượng
đời trước.[30]
“Lại
nữa, Như Lai biết định hướng sống chết của chúng sinh;[31]
bằng thiên nhãn mà quán sát các loài chúng sinh, hoặc có sắc
đẹp, hoặc sắc xấu, thiện thú, ác thú tùy theo hành nghiệp
đã gieo trồng, tất cả đều biết rõ. Hoặc có chúng sinh
hành ác bởi thân, miệng, ý, phỉ báng Hiền Thánh, gây nghiệp
tà kiến, thân hoại mạng chung sinh vào trong địa ngục. Hoặc
có chúng sinh hành thiện bởi thân, miệng ý, không phỉ báng
Hiền Thánh, hằng hành chánh kiến, thân họai mạng chung sinh
vào cõi thiện, sinh lên trời. Đó gọi là bằng thiên nhãn
thanh tịnh quán sát định hướng của chúng mà các hành vi
đưa đến.
“Lại
nữa, Như Lai biết rõ các lậu đã diệt tận,[32] thành vô
lậu, tâm giải thoát, trí tuệ giải thoát, sinh tử đã dứt,
phạm hạnh đã lập, điều cần làm đã làm xong, không còn
tái sinh đời sau nữa, biết rõ như thật.
“Đó
gọi là mười lực của Như Lai, tự gọi là bậc Vô trước,
được bốn vô sở úy, ở giữa đại chúng mà rống tiếng
sư tử, chuyển phạm luân.
“Thế
nào là bốn vô sở úy mà Như Lai có được?[33] Như Lai thành
đẳng chánh giác; (nếu có chúng sinh muốn nói là biết, trường
hợp này không thể có;)[34] hoặc có sa-môn, bà-la-môn muốn
đến phỉ báng Phật, nói là không thành Đẳng chánh giác,
trường hợp này không thể có. Vì trường hợp ấy không
thể có, nên Ta được an ổn.
“Nhưng
hôm nay khi Ta nói, Ta đã diệt tận các lậu. Giả sử có sa-môn,
bà-la-môn, hoặc Thiên, hoặc Ma thiên, đến mà nói Ta chưa
diệt tận các lậu, trường hợp ấy không thể có. Vì trường
hợp ấy không thể có nên ta được an ổn.
“Lại
nữa, pháp mà Ta thuyết, là xuất yếu của Hiền Thánh, như
đoạn tận biên tế khổ. Giả sử [777a] có sa-môn, bà-la-môn,
Thiên, hoặc Ma thiên, đến nói là chưa đoạn tận biên tế
khổ, trường hợp này không thể có. Vì trường hợp này
không thể có nên Ta được an ổn.
“Lại
nữa, pháp chướng ngại[35] mà ta nói là đọa lạc cõi dữ;
giả sử có sa-môn, bà-la-môn, đến muốn nói điều đó không
đúng; trường hợp này không thể có.
“Tỳ
kheo, đó là bốn vô sở úy của Như Lai.
“Giả
sử có ngoại đạo dị học hỏi Sa-môn Cù-đàm kia có lực
gì, vô úy gì mà tự xưng là bậc Vô trước, tối tôn, các
ngươi hãy trả lời bằng mười lực này.
“Giả
sử ngoại đạo dị học nói, ‘Chúng tôi cũng thành tựu
mười lực,’ Tỳ kheo các ngươi nên hỏi lại, ‘Ông có
mười lực gì?’ Khi ấy ngoại đạo dị học ắt không thể
trả lời, và lại tăng thêm nghi hoặc. Vì sao? Ta không thấy
có sa-môn, bà-la-môn nào tự xưng đắc bốn vô sở úy, trừ
Như Lai. Cho nên, Tỳ kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu
mười lực, bốn vô sở úy.
“Như
vậy, Tỳ kheo, hãy học điều này.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Có
mười niệm, được phân biệt rộng rãi, tu tập, đoạn tận
dục ái, sắc ái, vô sắc ái, kiêu mạn, vô minh. Những gì
là mười? Đó là, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng Tỳ kheo,
niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm tịch tĩnh,[37] niệm
an-ban, niệm thân, niệm sự chết.
“Đó
là Tỳ kheo, nếu có chúng sinh tu hành mười niệm này sẽ
đoạn tận dục ái, sắc ái, vô sắc ái; hết thảy vô minh,
kiêu mạn, thảy đều được đoạn tận.
“Tỳ
kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 6[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Gần
gũi cung vua,[39] có mười phi pháp. Những gì là mười? Ở
đây, trong nội cung[40] có khởi tâm mưu hại muốn giết quốc
vương. Do bởi âm mưu này, quốc vương bị giết. Nhân dân
nước đó nghĩ rằng, ‘Sa-môn, đạo sỹ này thường xuyên
lui tới. Đây chắc chắn là việc làm của sa-môn ấy.’ Đó
là phi pháp thứ nhất, nạn do gần gũi cung vua.
“Lại
nữa, đại thần phản nghịch, bị vua bắt và giết. Khi ấy
nhân dân nghĩ rằng, ‘Sa-môn, đạo sỹ này thường xuyên
lui tới. Đây là việc làm của sa-môn ấy.’ Đây là phi pháp
thứ hai, nạn do vào trong cung vua.[41]
“Lại
nữa, nội cung bị mất tài bảo, khi ấy người giữ kho nghĩ
rằng, ‘Ở đây bảo vật này luôn luôn được ta canh giữ,
lại cũng không có ai khác đi vào đây. Nhất định là do sa-môn
ấy làm.’ Đó là phi pháp thứ ba, nạn do đi vào cung vua.
“Lại
nữa, con gái của vua đang tuổi tráng thịnh, chưa có chồng
mà mang thai. Khi ấy người trong nước nghĩ rằng, ‘Trong đây
không ai khác lui tới. Nhất định là do sa-môn ấy làm.’
Đó là phi pháp thứ tư, nạn do gần gũi cung vua.
“Lại
nữa, vua mắc bệnh nặng, [777b] trúng thuốc của người khác.
Khi ấy nhân dân nghĩ rằng, ‘Trong đây không có ai khác. Nhất
định là do sa-môn ấy làm.’ Đó là phi pháp thứ năm, nạn
do gần gũi cung vua.
“Lại
nữa, các đại thần của vua tranh chấp nhau, gây thương tổn
nhau. Khi ấy nhân dân nghĩ rằng, ‘Các đại thần này trước
kia hòa hiệp, nay lại tranh chấp nhau. Đây không phải là việc
làm của ai khác, mà nhất định là do sa-môn, đạo sỹ ấy.’
Đây là phi pháp thứ sáu, nạn do gần gũi cung vua.
“Lại
nữa, hai nước tranh chấp nhau, mỗi bên đều tranh thắng.
Khi ấy nhân dân nghĩ rằng, ‘Sa-môn đạo sỹ này nhiều lần
lui tới nội cung. Đây nhất định là việc làm của sa-môn
ấy.’ Đây là phi pháp thứ bảy, nạn do gần gũi cung vua.
“Lại
nữa, quốc vương trước kia vốn ưa huệ thí, phân chia tài
vật cho dân; về sau keo lẫn, hối tiếc, không huệ thí nữa.
Khi ấy nhân dân nghĩ rằng, ‘Quốc vương của chúng ta trước
kia vốn ưa huệ thí; nay lại tham lam keo kiệt, không có tâm
huệ thí. Đây nhất định là việc làm của sa-môn ấy.’
Đây là phi pháp thứ tám, nạn do gần gũi cung vua.
“Lại
nữa, quốc vương hằng đúng theo pháp mà thâu tài vật của
dân. Về sau, lấy tài vật của dân một cách phi pháp. Khi
ấy nhân dân nghĩ rằng, ‘Quốc vương của chúng ta trước
kia thâu tài vật của dân một cách hợp pháp, nay lấy tài
vật của dân một cách phi pháp. Đây nhất định là việc
làm của sa-môn ấy.’ Đây là phi pháp thứ chín, nạn do gần
gũi cung vua.
“Lại
nữa, nhân dân trong quốc thổ mắc phải bệnh dịch tràn lan,
thảy đều do duyên đời trước. Khi ấy nhân dân nghĩ rằng,
‘Chúng ta xưa kia không có tật bệnh. Nay người bị bệnh
chết nằm đầy đường. Đây nhất định do chú thuật của
sa-môn gây nên.’ Đây là phi pháp thứ mười, nạn do gần
gũi cung vua.
“Tỳ
kheo, đó là mười phi pháp, tai họa do đi vào cung vua. Cho nên,
Tỳ kheo, chớ móng tâm gần gũi cung vua.
“Tỳ
kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nếu
quốc vương thành tựu mười pháp thì không thể tồn tại
lâu dài, bị nhiều giặc cướp. Những gì là mười?
“Ở
đây, quốc vương tham lam keo kiệt, vì chút sự việc nhỏ
mà nổi thịnh nộ, không quán sát nghĩa lý. Nếu quốc vương
thành tựu pháp thứ nhất này, sẽ không tồn tại lâu dài,
nước có nhiều giặc cướp.
“Lại
nữa, vua ấy tham đắm tài vật, không khứng chịu thua sút.
Quốc vương [777c] thành tựu pháp thứ hai này, sẽ không tồn
tại lâu dài.
“Lại
nữa, vua kia không chịu nghe can gián, là người bạo ngược,
không có từ tâm. Đây là pháp thứ ba mà quốc vương thành
tựu sẽ không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, vua kia bắt oan nhân dân, giam cầm ngang ngược, nhốt
trong lao ngục không có ngày ra. Đó là pháp thứ tư, khiến
vua không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương tuyển dụng thần tá phi pháp, không y theo
chánh hành. Đó là pháp ṭhứ năm, khiến vua không tồn tại
lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương tham đắm sắc đẹp của người, xa lánh
vợ của mình. Đó là quốc vương thành tựu pháp thứ sáu,
không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương ưa uống rượu mà không lý đoán quan sự.
Đó là thành tựu pháp thứ bảy, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương ưa thích ca múa, hý, nhạc, mà không lý đoán
quan sự. Đó là pháp thứ tám, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương hằng mang bệnh tật, không có ngày nào khỏe
mạnh. Đó là pháp thứ chín, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương không tin bề tôi trung hiếu, lông cánh yếu
ớt, không có người phò tá mạnh. Đó là quốc vương thành
tựu pháp thứ mười, không tồn tại lâu dài.
“Ở
đây, chúng Tỳ kheo cũng vậy, nếu thành tựu mười pháp,
công đức gốc rễ thiện không tăng trưởng, thân hoại mạng
chung sinh vào địa ngục. Mười pháp ấy là gì?
“Ở
đây, Tỳ kheo không trì cấm giới, cũng không có tâm cung kính.
Đó là Tỳ kheo thành tựu pháp thứ nhất, không cứu cánh
đạt đến nơi phải đạt đến.
“Tỳ
kheo không thừa sự Phật, không tin lời nói chân thật. Đó
là Tỳ kheo thành tựu pháp thứ hai, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không thừa sự Pháp, các giới luật bị khuyết
thủng. Đó là Tỳ kheo thành tựu pháp thứ ba, không tồn tại
lâu dài.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không thừa sự Thánh chúng, tâm ý hằng tự
ty, không tin lời dạy của chúng. Đó là Tỳ kheo thành tựu
pháp thứ tư, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, Tỳ kheo tham đắm lợi dưỡng, tâm không buông bỏ. Đó
là Tỳ kheo thành tựu pháp thứ năm, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không học hỏi nhiều, không siêng năng đọc
tụng, ôn tập. Đó là Tỳ kheo thành tựu pháp thứ sáu, không
tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không tùng sự theo thiện tri thức, mà thường
xuyên tùng sự theo ác tri thức. Đó là Tỳ kheo thành tựu
pháp thứ bảy, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, Tỳ kheo hằng ưa bận rộn công viêc, không thích tọa
thiền. Đó là Tỳ kheo thành tựu pháp thứ tám, không tồn
tại lâu dài,
“Lại
nữa, Tỳ kheo [778a] ham thích toán số, bỏ đạo chạy theo
thế tục, không học tập chánh pháp. Đó là Tỳ kheo thành
tựu pháp hứ chín, không tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không ưa tu phạm hạnh, tham đắm bất tịnh.
Đó là Tỳ kheo có pháp thứ mười, không tồn tại lâu dài.
“Đó
là, Tỳ kheo thành tựu mười pháp này nhất định đọa ba
ác đạo, không sinh vài chỗ lành.
“Nếu
quốc vương thành tựu mười pháp thì sẽ được tồn tại
lâu dài ở đời. Những gì là mười?
“Quốc
vương không tham đắm tài vật, không nổi thịnh nộ, cũng
không vì chuyện nhỏ mà sinh tâm thù oán. Đó là pháp thứ
nhất khiiến được tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc hằng nghe lời can gián của quần thần, không nghịch
lời của họ. Đó là thành tựu pháp thứ hai thì được tồn
tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương thường ưa huệ thí, cùng chung vui với dân.
Đó pháp thứ ba khiến cho tồn tại lâu dài.[42]
“Lại
nữa, quốc vương trưng thu tài vật hợp pháp chứ không phải
phi pháp. Đó là pháp thứ tư khiến tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương kia không tham đắm sắc người khác, hằng
tự thủ hộ với vợ của mình. Đó là thành tựu pháp thứ
năm khiến tồn tại lâu lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương không uống rượu, tâm không hoang loạn.
Đó là thành tựu pháp thứ sáu, khiến tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương không cười giỡn, mà hàng phục kẻ thù
bên ngoài. Đó là thành tựu pháp thứ bảy, tồn tại lâu
dài.
“Lại
nữa, quốc vương vương y theo pháp mà trị hóa, không bao giờ
bẻ cong. Đó là thành tựu pháp thứ tám, tồn tại lâu dài.
“Lại
nữa, quốc vương cùng với quần thần hòa thận, không có
tranh chấp. Đó là thành tựu pháp thứ chín, tồn tại lâu
dài,
“Lại
nữa, quốc vương không có bệnh hoạn, khí lực cường thịnh.
Đó là pháp thứ mười, khiến tồn tại lâu dài.
“Nếu
quốc vương thành tựu mười pháp này sẽ được tồn tại
lâu dài, không có gì lo ngại.
“Chúng
Tỳ kheo cũng vậy, nếu thành tự mười pháp, chỉ trong khoảnh
khắc như co duỗi liền được sinh lên trời. Những gì là
mười?
“Ở
đây, Tỳ kheo thọ trì giới cấm, giới đức đầy đủ, không
phạm chánh pháp. Đó là Tỳ kheo thành tựu pháp hứ nhất
này khi thân hoại mạng chung sinh vào chỗ lành, sinh lên trời.
Lại
nữa, Tỳ kheo có tâm cung kính đối với Như Lai. Đó là Tỳ
kheo thành tựu pháp thứ hai, được sinh vào chỗ lành.
“Lại
nữa, Tỳ kheo thuận tùng giáo pháp, không một điều vi phạm.
Đó là Tỳ kheo thành tựu pháp thứ ba, được sinh vào chỗ
lành.
“Lại
nữa, Tỳ kheo [778b] cung phụng Thánh chúng, không có tâm biếng
nhác. Đó là thành tựu pháp thứ tư, được sinh lên trời.
“Lại
nữa, Tỳ kheo thiểu dục, tri túc, không say đắm lợi dưỡng.
Đó là Tỳ kheo có pháp thứ năm, được sinh lên trời.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không làm theo tự ý mà hằng tùy thuận giới
pháp. Đó là thành tựu pháp thứ sáu, được sinh vào chỗ
lành.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không mê đắm công viêc bận rộn, thường ưa
tọa thiền. Đó là thành tựu pháp thứ bảy, được sinh lên
trời.
“Lại
nữa, Tỳ kheo ưa chỗ nhàn tĩnh, không ưa sống giữa nhân
gian. Đó là thành tựu pháp thứ ṭám, được sinh vào chỗ
lành.
“Lại
nữa, Tỳ kheo không tùng sự theo ác tri thức, mà thường tùng
sự theo thiện tri hức. Đó là thành tựu pháp thứ chín, được
sanh vào chỗ lành.
“Lại
nữa, Tỳ kheo thường tu phạm hành, xa lìa ác pháp, nghe nhiều,
học nghĩa, không để mất thứ ṭự. Như vậy Tỳ kheo thành
tựu mười pháp, trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, sinh
vào chỗ lành, sinh lên trời.
“Đó
là, mười phi pháp hành khiến vào địa ngục, hãy nên bỏ
tránh xa. Mười chánh pháp hành, hãy nên cùng vâng tu tập.
“Tỳ
kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8[43]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật ở tai thành La-duyệt, trong Ca-lan-đà Trúc viên,
cùng với chúng đại Tỳ kheo 500 vị.
Bấy
giờ, số đông Tỳ kheo, khi đến giờ, khóac y, cầm bát, vào
thành La-duyệt khất thực. Khi ấy, số đông Tỳ kheo nghĩ
như vầy: “Chúng ta vào thành khất thực, nhưng còn quá sớm.
Chúng ta hãy đến chỗ ngoại đạo dị học để cùng luận
nghị.” Rồi chúng Tỳ kheo đi đến chỗ ngoại đạo dị
học.
Khi
các ngoại đạo tháy các sa-môn đến, bảo nhau rằng: “Các
bạn hãy giữ im lặng, chớ nói lớn tiếng. Đệ tử của
Sa-môn Cù-đàm đang đi đến đây. Pháp của sa-môn ca ngợi
những người im lặng. Chớ để họ biết chánh pháp của
chúng ta loạn hay không loạn.”
Bấy
giờ, số đông các Tỳ kheo đi đến chỗ ngoại đạo dị
học, sau khi chào hỏi nhau, ngồi xuống một bên. Khi ấy, các
ngoại đạo hỏi các Tỳ kheo:
“Sa-môn
Cù-đàm của các ông dạy các đệ tử bằng diệu pháp này,
rằng ‘Này các Tỳ kheo, hãy thấu suốt hết thảy các pháp,
và hãy ṭự mình an trú.[44]” Phải vậy chăng? Chúng tôi
cũng dạy [778c] các đệ tử diệu pháp này để tự an trú.
Những điều tôi nói có gì khác với các ông, có gì sai biệt?
Thuyết pháp, giáo giới cùng như nhau, không có gì khác.”
Số
đông các Tỳ kheo, sau khi nghe những điều ngoại đạo nói,
không khen hay, cũng không chê dỡ, bèn rời chỗ ngồi đứng
dậy mà bỏ đi.
Sau
đó, các Tỳ kheo bảo nhau: “Chúng ta hãy đem nghĩa lý này
đến bạch Thế Tôn. Nếu Như Lai có dạy điều gì, chúng
ta sẽ ghi nhớ mà phụng hành.”
Rồi
số đông các Tỳ kheo, sau khi vào thành La-duyệt khất thực,
trở về trong phòng, cất y bát, đi đến Thế Tôn, cúi đầu
lạy dưới chân, rồi ngồi xuống một bên. Khi ấy số đông
các Tỳ kheo đem duyên sự trước đó kể hết với Như Lai.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Sau
khi các ngoại đạo dị học kia hỏi nghĩa này, các ngươi
hãy trả lời bằng những lời này: luận một điều, nghĩa
một điều, diễn một điều; cho đến, luận mười, nghĩa
mười, diễn mười.[45] Khi nói lời này có ý nghĩa gì, các
ngươi mang lời này đến hỏi, những người kia sẽ không
thể trả lời. Các ngoại đạo do thế càng tăng thêm ngu hoặc.
Vì sao vậy? Vì không phải là cảnh giới của họ. Cho nên,
Tỳ kheo, Ta không thấy có Trời, Người, Ma hoặc Ma thiên,
Đế Thích, Phạm thiên vương, mà có thể trả lời được
điều đó, trừ Như Lai và đệ tử của Như Lai nghe từ Ta
nói, điều này không luận đến.
“Luận
một, nghĩa một, diễn một; Ta tuy đã nói ý nghĩa này, nhưng
do đâu mà nói? Hết thảy chúng sinh do thức ăn mà tồn tại;
không thức ăn thì chết. Tỳ kheo đối với pháp ấy mà bình
đẳng nhàm tởm, bình đẳng giải thoát, bình đẳng quán sát,
bình đẳng phân biệt ý nghĩa của nó, bình đằng chấm dứt
biên tế khổ;[46] đồng một nghĩa, không hai’ [47]điều mà
Ta nói, chính xác là như vậy.
“Nghĩa
một, luận một, diễn một, cho đến luận mười, nghĩa mười,
diễn mười;[48] Ta tuy đã nói ý nghĩa này, nhưng do đâu mà
nói? Danh và sắc. Danh là gì? Thọ*, tưởng, niệm, xúc*, tư
duy; đó là danh. Cái kia sao gọi là sắc? Bốn đại, và sắc
do bốn đại tạo; đó gọi là sắc, do duyên bởi căn bản
này mà nói là sắc. Luận hai, nghĩa hai, diễn hai, do bởi nhân
duyên này mà Ta nói đến. Tỳ kheo bình đẳng nhàm tởm, bình
đẳng giải thoát, bình đẳng quán sát, bình đẳng phân biệt
ý nghĩa của nó, bình đằng chấm dứt biên tế khổ.
“Luận
ba, nghĩa ba, diễn ba; do đâu mà nói [779a] nghĩa này? Do ba thọ*
Những gì là ba? Khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc
thọ. Vì sao được nói là lạc thọ? Trong tâm có ý tưởng
lạc, cũng không phân tán; đó gọi là lạc thọ. Vì sao được
nói là khổ thọ? Trong tâm mê loạn không định tĩnh chuyên
nhất, tư duy với nhiều ý tưởng khác nhau; đó gọi là khổ
thọ.[49] Thế nào là cảm thọ không khổ không lạc? Ý tưởng
không khổ không lạc trong tâm, lại không phải là chuyên nhất
định tĩnh, cũng không phải loạn tưởng, cũng không tư duy
pháp và phi pháp, hằng tự tịch mặc, tâm không có ghi nhận
gì; đó gọi là cảm thọ không khổ không lạc. Tỳ kheo bình
đẳng nhàm tởm, bình đẳng giải thoát, bình đẳng quán sát,
bình đẳng phân biệt ý nghĩa của nó, bình đẳng chấm dứt
biên tế khổ. Luận ba, nghĩa ba, diễn ba, điều mà Ta nói,
chính xác là như vậy.
“Luận
bốn, nghĩa bốn, diễn bốn; do đâu mà nói nghĩa này? Đó
là bốn đế.[50] Những gì là bốn? Thánh đế Khổ, Tập,
Tận, Đạo. Vì sao được gọi là Thánh đế Khổ? Sinh khổ,
già khổ, bệnh khổ, chết khổ, lo, buồn, não khổ, oán ghét
gặp nhau khổ, ân ái biệt ly khổ, ước muốn không được
khổ.[51] Vì sao được gọi là Thánh đế Tập? Căn bản ái
cùng với dục tương ưng.[52] Vì sao được gọi là Thánh đế
Khổ tận? Ái kia vĩnh viễn đoạn tận không còn tàn dư cũng
không tái sinh khởi; đó gọi là Khổ tận đế. Vì sao được
gọi là Thánh đế Khổ xuất yếu? Đó là tám phẩm đạo
của Hiền Thánh: chánh kiến, chánh tri, chánh ngữ, chánh mạng,
chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh tam-muội; đó
là đạo có tám phẩm. Tỳ kheo bình đẳng nhàm tởm, bình
đẳng giải thoát, bình đẳng quán sát, bình đẳng phân biệt
ý nghĩa của nó, bình đằng chấm dứt biên tế khổ. Đó
là luận bốn, nghĩa bốn, diễn bốn, điều mà Ta nói, chính
xác là như vậy.
“Luận
năm, nghĩa năm, diễn năm; do đâu mà nói nghĩa này? Đó là
năm căn.[53] Những gì là năm? Căn tín, căn tinh tấn, căn niệm,
căn định, căn huệ. Thế nào là căn tín? Hiền Thánh đệ
tử tin đạo pháp của Như Lai, rằng Như Lai là bậc Chí chân,
Đẳng chánh giác, Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sỹ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, hiệu
Phật Thế Tôn, xuất hiện ở đời. Đó gọi là căn tín.
Thế nào là căn tinh tấn? Thân, tâm, ý tinh cần không mệt
mỏi; diệt [779b] pháp bất thiện, tăng ích pháp thiện, hằng
chấp trì tâm; đó là căn tinh tấn. Thế nào là căn niệm?
Tụng tập không quên, hằng giữ trong tâm, ghi nhớ không thất
lạc, pháp hữu vi vô lậu không bao giờ bị mất; đó là căn
niệm. Thế nào là căn định? Trong tâm không động loạn,
không có các tưởng sai biệt, hằng chuyên tinh nhất ý; đó
là căn tam-muội. Thế nào là căn trí tuệ? Biết Khổ, biết
Tập, biết Tận, biết Đạo; đó là căn trí tuệ. Đó là
năm căn. Tỳ kheo ở trong đó mà bình đẳng giải thoát, bình
đẳng phân biệt ý nghĩa ấy, bình đằng chấm dứt biên tế
khổ. Đó là luận năm, nghĩa năm, diễn năm, điều mà Ta nói,
chính xác là như vậy.
“Luận
sáu, nghĩa sáu, diễn sáu; do đâu mà nói nghĩa này? Đó là
sáu trọng pháp.[54] Sáu ấy là gì? Ở đây, Tỳ kheo thường
xuyên hành từ tâm bởi thân, hoặc ở chỗ vắng vẻ, hoặc
ở trong phòng, tâm thường như một,[55] đáng tôn, đáng quý,
đưa đến hòa hiệp. Đây là pháp tôn trọng thứ nhất của
Tỳ kheo. Lại nữa, hành từ tâm nơi miệng, không khởi ganh
tị oán ghét, đáng kính, đáng quý; đó là pháp tôn trọng
thứ hai. Lại nữa, nếu được lợi dưỡng đúng pháp, cho
đến còn dư trong bình bát, đều đem chia cho các bạn đồng
phạm hạnh, tâm bình đẳng mà cho; đó là pháp tôn trọng
thứ tư, đáng kính, đáng quý. Lại nữa, phụng trì cấm giới
không có điều rơi rớt, giới mà bậc hiền trí qúy trọng;
đó là pháp tôn trọng thứ năm, đáng kính, đáng quý. Lại
nữa, chánh kiến mà Hiền Thánh được xuất yếu, đến chỗ
chấm dứt khổ tế, ý không tạp loạn, cùng tu hành với các
đồng phạm hạnh pháp ấy; đó là pháp tôn trọng thứ sáu,
đáng kính, đáng quý. Bấy giờ Tỳ kheo bình đẳng nhàm tởm,
bình đẳng giải thoát, bình đẳng phân biệt ý nghĩa ấy,
bình đằng chấm dứt biên tế khổ. Đó là luận sáu, nghĩa
sáu, diễn sáu, điều mà Ta nói, chính xác là như vậy.
“Luận
bảy, nghĩa bảy, diễn bảy; do đâu mà nói nghĩa này? Đó
là bảy y chỉ xứ của thần thức.[56] Bảy ấy là gì? Hoặc
có chúng sinh có nhiều tưởng sai biệt, nhiều thân sai biệt;
đó là trời[57] và người. Hoặc có chúng sinh có nhiều thân
nhưng một tưởng; đó là trời Phạm-ca-di khi mới thác sinh.[58]
Hoặc có chúng sinh một tưởng, một thân; đó là trời Quang
âm. [779c] Hoặc có chúng sinh một thân, nhiều tưởng sai biệt;
đó là trời Biến tịnh. Hoặc có chúng sinh không xứ vô lượng;
đó là trời Không xứ. Hoặc có chúng sinh thức xứ vô lượng;
đó là trời Thức xứ. Hoặc có chúng sinh vô sở hữu xứ
vô lượng; đó là trời Vô sở hữu xứ. Hoặc có chúng sinh
phi tưởng phi phi tưởng vô lượng; đó là trời Phi tưởng
phi phi tưởng.[59] Đó là bảy y chỉ xứ của thần (thức).
Ở đó, Tỳ kheo bình đẳng giải thoát, cho đến, bình đằng
chấm dứt biên tế khổ. Đó là luận bảy, nghĩa bảy, diễn
bảy, điều mà Ta nói, chính xác là như vậy.
“Luận
tám, nghĩa tám, diễn tám; do đâu mà nói nghĩa này? Đó là
tám pháp thế gian,[60] tùy theo đời mà xoay chuyển. Tám ấy
là gì? Đắc, thất, vinh, nhục, khen, chê, khổ, lạc.[61] Đó
là ṭám pháp thế gian, tùy theo đời mà xoay chuyển. Tỳ kheo
trong đó bình đẳng giải thoát, cho đến, bình đằng chấm
dứt biên tế khổ. Đó là luận tám, nghĩa tám, diễn tám,
điều mà Ta nói, chính xác là như vậy.
“Luận
chín, nghĩa chín, diễn chín; do đâu mà nói nghĩa này? Đó
là chín cư xứ của chúng sinh.[62] Những gì là chín? Hoặc
có chúng sinh có nhiều tưởng sai biệt, nhiều thân sai biệt;
đó là trời và người. Hoặc có chúng sinh có nhiều thân
nhưng một tưởng; đó là trời Phạm-ca-di khi mới thác sinh.
Hoặc có chúng sinh một tưởng, một thân; đó là trời Quang
âm. Hoặc có chúng sinh một thân, nhều tưởng sai biệt; đó
là trời Biến tịnh. Hoặc có chúng sinh không xứ vô lượng;
đó là trời Không xứ. Hoặc có chúng sinh thức xứ vô lượng;
đó là trời Thức xứ. Hoặc có chúng sinh vô sở hữu xứ
vô lượng; đó là trời Vô sở hữu xứ. Hoặc có chúng sinh
phi tưởng phi phi tưởng vô lượng; đó là trời Phi tưởng
phi phi tưởng. Vô tưởng chúng sinh và các loài thọ sanh khác,
đó là chín y chỉ xứ của thần (thức). Tỳ kheo trong đó
bình đẳng giải thoát, cho đến, bình đằng chấm dứt biên
tế khổ. Đó là luận chín, nghĩa chín, diễn chín, điều
mà Ta nói, chính xác là như vậy.
“Luận
mười, nghĩa mười, diễn mừơi; do đâu mà nói nghĩa này?
Đó là mười niệm.[63] Những gì là mười? Niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng Tỳ kheo, niệm giới, niệm thí, niệm thiên,
niệm chỉ tức, niệm an-ban, niệm thân, niệm sự chết. Tỳ
kheo trong đó bình đẳng giải thoát, cho đến, bình đằng
chấm dứt biên tế khổ. Đó là luận mười, nghĩa mười,
diễn mười, điều mà Ta nói, chính xác là như vậy.
“Như
vậy, Tỳ kheo, tỳừ một cho đến mười.
[780a]
“Tỳ kheo, nên biết, nếu ngoại đạo dị học mà nghe những
lời này, còn chưa dám nhìn kỹ vào sắc mặt, huống nữa
là trả lời. Tỳ kheo nào hiểu rõ được nghĩa này, ở ngay
trong hiện pháp, là người tối tôn đệ nhất.
“Lại
nữa, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni nào tư duy nghĩa này, cho đến mười
năm, nhất định thành tựu hai quả: hoặc A-la-hán, hoặc A-na-hàm.
“Tỳ
kheo, hãy bỏ qua mười năm; nếu trong một năm mà tư duy nghĩa
này, ắt thành tựu hai quả, trọn không nửa chừng thoái thất.
“Tỳ
kheo, hãy bỏ qua một năm. Trong chúng bốn bộ, trong mười
tháng, cho đến một tháng, ai tư duy nghĩa này, ắt thành tựu
hai quả, cũng không nửa chừng thoái thất.
“Vã,
hãy bỏ qua một tháng. Ai trong chúng bốn bộ bảy ngày tư
duy nghĩa này ắt thành tựu hai quả, quyết không nghi ngờ.
Khi
ấy A-nan ở sau Thế Tôn cầm quạt quạt Phật. Bấy giờ A-nan
bạch Phật:
“Thế
Tôn, pháp này cực kỳ sâu thẳm. Ở địa phương nào có pháp
này, nên biết ở đó gặp được Như Lai. Kính bạch Thế
Tôn, pháp này tên gọi là gì? Nên phụng hành như thế nào?”
Phật
bảo A-nan:
“Kinh
này có tên là Nghĩa của pháp Mười. Hãy ghi nghớ phụng hành.”
Bấy
giờ A-nan và các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy hoan hỷ
phụng hành.
KINH
SỐ 9[64]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Những
ai tu hành mười tưởng, sẽ diệt tận các lậu, đạt được
thần thông, tự thân tác chứng, dần dần đạt đến Niết-bàn.
Những gì là mười? Tưởng xương trắng, tưởng bầm tím,
tưởng sình chương, tưởng ăn không tiêu,[65] tưởng huyết,
tưởng nhai cắn,[66] tưởng thường vô thường, tưởng tham
thực, tưởng sự chết, tưởng tất cả thế gian không có
gì lạc.[67] Đó là mười tưởng mà Tỳ kheo tu tập sẽ diệt
tận các lậu, đạt đến Niết-bàn giới.
“Lại
nữa, Tỳ kheo, trong mười tưởng này, tưởng tất cả thế
gian không có gì đáng ham thích thích là tối đệ nhất. Vì
sao vậy? Người tu hành về sự không có gì đáng ham thích,
và người thọ trì, tín phụng pháp; hai hạng người này tất
vượt bực mà thủ chứng. Cho nên, Tỳ kheo, hãy ngồi dưới
gốc cây, nơi chỗ vắng vẻ, giữa trời trống, tư duy mười
tưởng này.
“Tỳ
kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những đìeu Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 10
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ có một Tỳ kheo đi đến Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới
chân, [780b] rồi ngồi xuống một bên.
Rồi
Tỳ kheo này bạch Thế Tôn:
“Như
Lai hôm nay dạy các Tỳ kheo pháp mười tưởng. Những ai tu
hành có ṭhể đoạn trừ các lậu, thành hạnh vô lậu. Thế
Tôn, như con thì không có khả năng tu hành các tưởng này.
Sở dĩ vì dục tâm của con quá nhiều, thân ý hừng hực không
thể yên nghỉ.”
Bấy
giờ Thế Tôn nói với Tỳ kheo ấy:
“Người
hãy xả bỏ tưởng về tịnh[68] mà tư duy tưởng về bất
tịnh; xả tưởng về thường mà tư duy tưởng về vô thường;
xả hữu ngã tưởng mà tư duy vô ngã tưởng, xả khả lạc
tưởng mà tư duy bất khả lạc tưởng,. Vì sao vậy? Nếu
Tỳ kheo tư duy tịnh tưởng, dục tâm liền hừng hực; nếu
tư duy bất tịnh tưởng, sẽ không có dục tâm.
“Tỳ
kheo, nên biết, dục là bất tịnh, như đống phân kia; dục
như con sáo bắt chước giọng nói; dục không có đáp trả,
lại như rắn độc kia; dục như ảo thuật, như tuyết tan
dưới nắng. Hãy niệm xả bỏ dục như vất bỏ trong bãi
tha
ma. Dục trở lại hại mình như rắn chứa chất độc. Dục
không biết chán như khát mà uống nước mặn. Dục khó được
thỏa mãn như biển nuốt sông. Dục có nhiều tai họa như
xóm la-sát. Dục như kẻ thù hãy nên tránh xa. Dục như một
chút mật ngọt dính trên lưỡi dao. Dục không đáng yêu như
xương trắng trên đường. Dục hiện ngoại hình như hoa mọc
trong nhà xí. Dục không chân thật như bình vẽ kia bên trong
chứa đồ hôi thối, bên ngoài trông đẹp đẽ. Dục không
bền chắc như đống bọt nước. Cho nên, Tỳ kheo, hãy niệm
tưởng tránh xa tưởng tham dục. Tỳ kheo, nay ngươi hãy nhớ,
xưa ngươi đã phụng hành mười tưởng nơi Phật Ca-diếp.
Hôm nay hãy lặp lại tư duy mười tưởng, tâm giải thoát
khỏi hữu lậu.”
Lúc
bấy giờ Tỳ kheo ấy buồn rầu rơi lệ không cầm được,
tức thì cúi đầu lạy dưới chân Phật, bạch Thế Tôn:
“Vâng,
bạch Thế Tôn. Con chất chứa mê hoặc đã lâu. Như Lai tự
thân thuyết mười tưởng, con mới có thể xa lìa dục. Nay
con xin sám hối, về sau không còn tái phạm. Cúi xin Như Lai
chấp nhận sự sám hối lỗi lầm nghiêm trọng này; lượng
thứ cho điều mà con bất cập.”
Phật
bảo tỳ kheo:
“Ta
nhận sự sửa lỗi của ông. Hãy chớ tái phạm. Lại nữa,
Như Lai đã dạy ông mười tưởng, mà ông không khứng phụng
trì.”
Tỳ
kheo kia sau khi nghe Thế Tôn giáo giới, sống nơi chỗ nhàn
tĩnh, ṭự mình khắc kỷ tư duy, vì mục đích mà thiện gia
nam tử cạo bỏ râu tóc, khóac ba pháp y, tu phạm hạnh vô
thượng, ấy là muốn đạt thành sở nguyện, như thật biết,
sinh tử đã hết, phạm hạnh đã lập, điều cần làm đã
làm xong, [780c] không còn tái thọ thai nữa. Bấy giờ Tỳ kheo
thành A-la-hán.
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Kệ
tóm tắt
Kết
cấm, Hiền Thánh cư,
Hai
lực, và Mười niệm,
Thân
quốc, không quái ngại,
Mười
luân tưởng, quán ưởng.[69]
47.
PHẨM
THIỆN ÁC
KINH
SỐ 1
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Chúng
sanh nào phụng hành mười pháp, sẽ sinh lên trời. Lại hành
mười pháp sẽ sinh vào nẻo dữ. Lại hành mười pháp, nhập
Niết-bàn giới.
“Tu
hành mười pháp gì mà sinh vào nẻo dữ? Ở đây, có người
sát sanh, trộm cướp, dâm dật, nói dối, ỷ ngữ, ác khẩu,
hai lưỡi, gây đấu loạn đây kia, tật đố, sân hận, [781a]
khơi dậy tà kiến. Đó là mười pháp. Chúng sanh nào hành
mười pháp này sẽ vào trong nẻo dữ.
“Tu
hành mười pháp gì được sinh lên trời? Ở đây, có người
không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dật, không nói
dối, không ỷ ngữ, không ác khẩu, không hai lưỡi gây đấu
loạn đây kia, không tật đố, không sân hận, không khơi dậy
tà kến. Nếu ai hành mười pháp này sẽ được sinh lên trời.
“Tu
hành mười pháp gì đến được Niết-bàn? Đó là mười niệm.
Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng Tỳ kheo, niệm Thiên, niệm
giới, niệm thí, niệm chỉ tức, niệm an-ban, niệm thân, niệm
sự chết. Đó là tu hành mười pháp thì đạt được Niết-bàn.
“Tỳ
kheo, nên biết, hãy niệm xả ly mười pháp sinh lên trời và
sinh vào nẻo dữ. hãy niệm tưởng mười pháp khiến đạt
đến Niết-bàn.
“Tỳ
kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Do
gốc rễ mười ác mà ngoại vật còn suy hao, huống nữa nội
pháp. Những gì là mười? Đó là, người sát sanh, trộm cướp,
dâm dật, nói dối, ỷ ngữ, ác khẩu, hai lưỡi, gây đấu
loạn đây kia, tật đố, sân hận, khơi dậy tà kiến. Do quả
báo của sát sanh, thọ mạng của chúng sanh rất vắn. Do sự
lấy của không được cho, chúng sanh sanh vào chỗ nghèo hèn.
Do quả báo dâm dật, cửa nhà chúng sanh không được trinh
trắng. Do nói dối, miệng của chúng sanh có mui hôi thối,
không được sạch thơm. Do ỷ ngữ, đất đai không được
bằng phẳng. Do quả báo hai lưỡi, đất mọc gai chông. Do
quả báo ác khẩu, có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Do tật đố,
thóc lúa không dồi dào. Do quả báo sân hại, có nhiều vật
uế ác. Do quả báo tà kiến, tự nhiên sanh tám địa ngục.
Nhân bởi mười ác báo này khiến các ngoại vật cũng suy
hao, huống nữa vật nội thân.
“Đó
là, Tỳ kheo, hãy niệm tránh xa mười pháp ác, tu hành mười
pháp thiện.
“Tỳ
kheo, hãy học điểu này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ vua Ba-tư-nặc đi đến Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới
chân, rồi ngồi xuống một bên. Khi ấy vua Ba-tư-nặc bạch
Thế Tôn rằng:
“Như
Lai có nói lời này chăng, ‘Bố thí cho Ta thì được phước
nhiều; cho người khác thì được phước ít. Hãy bố thí
cho đệ tử, chớ bố thí cho người khác.’? Giả sử có
ai nói điều này, người ấy không hủy báng pháp của Như
Lai chăng?”
Phật
nói với Vua:
“Ta
không nói điều này, [781b] ‘Chỉ nên bố thí cho một mình
Ta, đừng bố thí cho người khác.’ “Đại vương, nên biết,
Ta thường nói nói điều này, ‘Thức ăn dư trong bát của
Tỳ kheo, đổ vào trong nước cho nhuyễn trùng ăn còn được
phước, huống nữa bố thí cho người mà không được phước
sao? Tuy nhiên, Đại vương, Ta có nói điều này, ‘Bố thí
cho người trì giới được phước nhiều hơn cho người phạm
giới.’”
Ba-tư-nặc
ở trước Phật bạch rằng:
“Kính
vâng, Thế Tôn. Bố thí cho người trì giới phước nhiều
gấp bội hơn cho người phạm giới.”
Vua
lại bạch Phật:
“Ni-kiền
Tử đến nói với con rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm là người biết
huyễn thật, có thể xoay chuyển người đời.’ Điều này
đúng chăng? Sai chăng?”
Phật
nói:
“Đúng
vậy, Đại vương, như điều vừa nói. Ta có pháp huyễn có
thể xoay chyển người đời.”
Vua
bạch Phật:
“Cái
gì gọi là pháp huyễn có thể xoay chuyển?”
Phật
nói:
“Người
sát sanh, tội ấy khó lường. Người không sát sanh, thọ phước
vô lượng. Người lấy của không cho, mắc tội vô lượng.
Người không trộm cướp được phước vô lượng. Người
dâm dật thọ tội vô lượng. Người không dâm dật thọ phước
vô lượng. Người tà kiến thọ tội vô lượng, Người chánh
kiến thọ phước vô lượng. Pháp huyễn thuật của Ta chính
xác được hiểu là như vậy.”
Khi
ấy vua Ba-tư-nặc bạch Phật:
“Thế
gian này bao gồm loài người, Ma hoặc Ma thiên, cùng các loài
hữu hình nếu hiểu sâu sắc pháp huyễn thật này sẽ được
đại hạnh. Từ nay về sau, con không cho phép ngoại đạo dị
học vào trong quốc giới của con. Cho phép chúng bốn bộ thường
xuyên ở trong cung của con, và thường được cúng dường
tùy theo nhu cầu.”
Phật
nói:
“Đại
vương, chớ nói như vậy. Vì sao? Bố thí cho các loài súc
sanh còn được phước; thậm chí bố thí cho người phạm
giới còn được phước. Bố thí cho người trì giới, phước
đức khó ước lượng. Bố thí Tiên nhân ngoại đạo được
một ức phước. Bố thí cho Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hoàn, A-na-hàm,
A-la-hán, Bích-chi-phật và Phật, phước ấy khó lường. Cho
nên, Đại vương, hãy khơi dậy tâm cúng dường đệ
tử Thanh văn của chư Phật trong tương lai, và quá khứ. Đại
vương, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ Vua ba-tư-nặc nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 4[70]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ số đông các Tỳ kheo sau bữa ăn đều tụ tập tại
giảng đường Phổ hội, cùng [781c] bàn luận các đề tài
này: luận về y áo, phục sức, ăn uống; luận về lân quốc,
giặc cướp, chiến tranh; luận về uống rượu, dâm dật,
năm thứ nhạc; luận về vũ, hý kịch, kỷ nhạc. Những luận
bàn không thiết yếu như vậy không kể xiết.
Khi
ấy, Thế Tôn bằng thiên nhĩ nghe các Tỳ kheo đang thảo luận
như vậy, liền đi đến giảng đường Phổ hội, hỏi các
Tỳ kheo:
“Các
ngươi tụ tập tại đây muốn bàn luận điều gì?”
Các
Tỳ kheo bạch Thế Tôn:
“Chúng
con cùng bàn luận những vấn đề không thiết yếu như vậy.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Thôi,
thôi, Tỳ kheo! Chớ có bàn luận như vậy. Vì sao? Những bàn
luận ấy phi nghĩa,[71] cũng không dẫn đến pháp thiện. Không
do bàn luận này mà được tu hành, không đạt đến chỗ Niết-bàn
diệt tận, không được đạo bình đẳng của sa-môn. Đó
là những luận bàn thế tục, không phải là luận bàn chân
chánh hướng đến. Các ngươi đã bỏ tục học đạo, không
nên tư duy các đề tài dẫn đến bại hoại như vậy. Nếu
muốn luận bàn, các ngươi hãy luận bàn mười sự công đức.
“Những
gì là mười? Tỳ kheo tinh cần, thiểu dục, tri túc, có tâm
dũng mãnh, đa văn mà có thể nói pháp cho người, không sợ
hãi, giới luật đầy đủ, tam muội thành tựu, trí tuệ thành
tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát tri kiến thành tựu.[72]
Nếu muốn luận bàn, các người hãy luận mười đề tài
này. Vì sao? Chúng thấm nhuần tất cả, mang lại nhiều lợi
ích, khiến có thể tu phạm hạnh, đạt đến chỗ vô vi diệt
tận, là thiết yếu của Niết-bàn.
“Các
ngươi, các thiện gia nam tử, đã xuất gia học đạo, hãy
tư duy mười sự này. Luận như vậy là luận chánh pháp, bỏ
xa nẻo dữ. Tỳ kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ số đông các Tỳ kheo đều tụ tập tại giảng đường
Phổ hội, cùng bàn luận như vầy:
“Nay
gạo thóc trong thành Xá-vệ khan hiếm, giá cả tăng vọt, xin
ăn khó được. Vả, Thế Tôn có nói, nương nhờ ăn uống
mà thân người được tồn tại. Bốn đại y tựa nơi pháp
được niệm tưởng bởi tâm. Pháp y tựa trên gốc rễ dẫn
đến nẻo lành. Hôm này chúng ta nên phân chia người theo thứ
tự đi khất thực, khiến cho người khất thực được thấy
có sắc da tươi đẹp, xúc cảm êm dịu, được y phục, cơm
nước, giường chõng và ngọa cụ, thuốc men trị bệnh, há
không phải tốt đẹp [782a] sao?”
Khi
ấy, bằng thiên nhĩ thanh tịnh không chút tì vết, Thế Tôn
từ xa nghe các Tỳ kheo cùng nhau bàn luận như vậy, tức thì
đến giảng đường Phổ hội, ngồi xuống giữa đại chúng.
Phật bảo các Tỳ kheo:
“Các
ngươi tụ tập tại đây, đang bàn luận vấn đề gì?”
Các
Tỳ kheo đáp:
“Chúng
con bàn luận rằng, nay trong thành Xá-vệ, xin ăn khó được.
Chúng con muốn phân chia từng người theo thứ tự đi khất
thực, để cho tùy lúc được thấy có sắc da tươi đẹp,
được y phục, cơm nước, giường chõng và ngọa cụ, thuốc
men trị bệnh. Điều mà chúng con bàn luận là như vậy.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Tỳ
kheo khất thực bốn sự cúng dường là y áo, cơm nước, giường
chõng và ngọa cụ, thuốc men trị bệnh, lại còn cần dùng
đến sắc, thanh, hương, vị, xúc chạm trơn láng nữa hay sao?
Ta hằng răn dạy rằng, khất thực có hai sự là đáng thân
cận và không đáng thân cận. Giả sử được áo chăn, cơm
nước, ngọa cụ, thuốc men trị bệnh, mà pháp ác tăng trưởng,
pháp thiện không tăng trưởng, điều đó không nên thân cận.
Nếu xin được y áo, cơm nước, giường chõng và ngọa cụ,
thuốc men trị bệnh, mà pháp thiện tăng ích, pháp ác không
tăng ích, điều đó nên thân cận.
“Tỳ
kheo các ngươi, ở trong pháp này muốn luận bàn điều gì?
Những điều các ngươi luận bàn không phái là luận bàn hợp
chánh pháp. Hãy xả bỏ pháp ấy, chớ tư duy thêm nữa. Vì
không do đó mà đạt đến chỗ tĩnh chỉ, đến Niết-bàn
diệt tận. Nếu muốn luận bàn, các ngươi hãy luận bàn mười
pháp. Những gì là mười?[73] Tỳ kheo tinh cần, thiểu dục,
tri túc, có tâm dũng mãnh, nghe nhiều lại có thể nói pháp
cho người, không sợ hãi không do dự, giới luật đầy đủ,
tam-muội thành tựu, trí tuệ thành tựu, giải thoát thành
tựu, giải thoát kiến huệ thàn tựu. Nếu các ngươi muốn
bàn luận, hãy bàn luận mười đề tài này.Vì sao vậy? Chúng
thấm nhuần tất cả, mang lại nhiều lợi ích, khiến có thể
tu phạm hạnh, đạt đến chỗ vô vi diệt tận, Niết-bàn
giới. Các đề tài này là đích nghĩa của sa-môn, các ngươi
hãy nhớ nghĩ tư duy, chớ để tâm rời xa. Như vậy, Tỳ kheo,
hãy học điều này.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ số đông các Tỳ kheo đều tụ tập tại giảng đường
Phổ hội, cùng bàn luận như vầy:
“Nay
trong thành Xá-vệ khất thực khó được, không phải là nơi
chốn an ổn cho Tỳ kheo. Chúng ta hãy cử một người theo thứ
tự đi khất thực. Tỳ kheo khất thực này có thể [783b] kiếm
được các thứ y áo, cơm nước, gường chõng và thuốc men
trị bệnh, không thiếu thốn thứ gì.”
Khi
ấy trong chúng có một Tỳ kheo thưa với các vị khác rằng:
“Chúng
ta không có khả năng khất thực ở đây. Ai nấy hãy đi đến
nước Ma-kiệt-đà, mà xin ăn ở đó.Vả, ở đó thóc gạo
dồi dào, giá rẻ, đồ ẩm thực dư dả.”
Lại
có Tỳ kheo khác nói:
“Chúng
ta không nên khất thực ở nước đó. Vì sao vậy? A-xà-thế
đang cai trị ở đó. Ông hành động phi pháp, lại giết cha,
cùng kết bạn với Đề-bà-đạt-đâu. Do nhân duyên ấy, chúng
ta không nên khất thực ở đó.”
Lại
có Tỳ kheo khác nói:
“Hiện
nay, ở quốc thổ Câu-lưu-sa,[74] nhân dân đông đúc trù phú,
nhiều của cải, bảo vật. ta nên đến đó khất thực.”
Lại
có Tỳ kheo khác nói:
“Không
nên đến khất thực ở đó. Vì sao? Vua Ác Sanh[75] đang cai
trị ở đó, cực kỳ hung bạo, không có chút nhân từ. Nhân
dân ở đó hung dữ, hay đấu tranh kiện tụng. Do nhân duyên
này, không nên đến đó khất thực.”
Lại
có Tỳ kheo nói:
Chúng
ta nên đến thành Câu-thâm Bà-la-nại,[76] nơi đó vua Ưu-điền
đang cai trị. Vua nhiệt thành tin Phật pháp, tâm ý không lay
động. Chúng ta nên đến đó khất thực, sẽ không trái với
điều mong ước.”
Bấy
giờ, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, Thế Tôn nghe các Ty kheo đang
bàn luận như vậy, tức thì nghiêm chỉnh y phục, đi đến
chỗ các Tỳ kheo, ngồi xuống giữa đại chúng, hỏi các Tỳ
kheo:
“Các
ngươi tụ tập tại đây đang bàn luận điều gì?”
Các
Tỳ kheo đáp:
“Chúng
con tụ tập tại đây, cùng nhau bàn luận rằng, ‘Nay trong
thành Xá-vệ thóc cao gạo quý, khất thực khó được. Chúng
ta ai nấy hãy đến nước Ma-kiệt-đà, mà xin ăn ở đó.Vả,
ở đó thóc gạo dồi dào, khất thực sẽ dễ được.’ Trong
chúng có Tỳ kheo nói, ‘Chúng ta không nên khất thực ở nước
đó. Vì sao vậy? A-xà-thế đang cai trị ở đó. Ông hành động
phi pháp, lại giết cha, cùng kết bạn với Đề-bà-đạt-đâu.
Do nhân duyên ấy, chúng ta không nên khất thực ở đó.’
Lại có Tỳ kheo khác nói, ‘Hiện nay, ở quốc thổ Câu-lưu-sa,
nhân dân đông đúc trù phú, nhiều của cải, bảo vật. ta
nên đến đó khất thực.’ Lại có Tỳ kheo khác nói, ‘Chúng
ta không nên đến khất thực ở đó. Vì sao? Vua Ác Sanh đang
cai trị ở đó, cực kỳ hung bạo, không có chút nhân từ,
hay đấu tranh kiện tụng. Do nhân duyên này, [782c] không nên
đến đó khất thực.’ Lại có Tỳ kheo nói, ‘Chúng ta nên
đến thành Câu-thâm Bà-la-nại, nơi đó vua Ưu-điền đang
cai trị. Vua nhiệt thành tin Phật pháp, tâm ý không lay động.
Chúng ta nên đến đó khất thực, sẽ không trái với điều
mong ước.’ Chúng con ở đây đang bàn luận những điều
như vậy.”
Phật
bảo các Tỳ kheo:
“Các
ông chớ có khen chê việc vua cai trị, quốc gia, bờ cõi; cũng
chớ bàn luận sự hơn kém của các vua chúa.”
Rồi
Thế Tôn nói bài kệ này:
Phàm
người tạo thiện, ác,
Hành
vi đều có nhân;
Sẽ
thọ báo như vậy,
Không
bao giờ hủy mất.
Phàm
người tạo thiện, ác,
Hành
vi đều có nhân.
Làm
thiện, nhận báo thiện.
Làm
ác, nhận báo ác.
“Cho
nên, Tỳ kheo, chớ móng tâm luận bàn quốc sự. Vì không do
sự luận bàn này mà có thể đạt đến Niết-bàn diệt tận;
cũng không phải là pháp chánh hành của sa-môn. Nếu bàn luận
những sự việc ấy, đó không phải là chánh nghiệp. Các
ngươi nên học mười đề tài bàn luận. Những gì là mười?
Tỳ kheo tinh cần, thiểu dục, tri túc, có tâm dũng mãnh, đa
văn mà có thể nói pháp cho người, không sợ hãi, giới luật
đầy đủ, tam muội thành tựu, trí tuệ thành tựu, giải
thoát thành tựu, giải thoát tri kiến thành tựu. Nếu muốn
luận bàn, các người hãy luận mười đề tài này. Vì sao?
Chúng thấm nhuần tất cả, mang lại nhiều lợi ích, khiến
có thể tu phạm hạnh, đạt đến chỗ vô vi diệt tận, là
thiết yếu của Niết-bàn.
“Các
ngươi, các thiện gia nam tử, đã xuất gia học đạo, xa rời
thế tục, hãy tinh cần tư duy, chớ để tâm rời xa. Tỳ kheo,
hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ số đông các Tỳ kheo đều tụ tập tại giảng đường
Phổ hội, cùng bàn luận như vầy:
“Nay
vua Ba-tư-nặc hành phi pháp, phạm luật giáo của Thánh. Tỳ
kheo ni Sám[77] đắc A-la-hán đạo, bị vua giữ trong cung suốt
12 năm, để cùng giao thông. Vua lại không phụng sự Phật
Pháp, Tăng Tỳ kheo. Chúng ta nên rời xa, không nên ở lại
đất nước này. Vì sao? Khi vua hành phi pháp, đại thân của
vua cũng hành phi pháp. Đại thần đã hành phi pháp, thì quan
lại phò tá tả hữu cũng hành phi pháp. Quan lại hành phi pháp,
thứ dân cũng hành phi pháp. Vậy chúng ta đi dến nước khác
khất thực, chớ ở lại nước này. Vả lại, chúng ta có
thể quan sát phong tục của nước đó. Do thấy phong tục ở
đó mà có thể thấy được chỗ khác nhau.”
Bấy
giờ, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, Thế Tôn nghe các Tỳ kheo
đang bàn luận vấn đề này, liền đi đến chỗ các Tỳ kheo,
ngồi xuống giữa đại chúng. Rồi Thế Tôn hỏi các Tỳ kheo:
“Các
ông tụ tập tại đây đang bàn luận vấn đề gì?”
Các
Tỳ kheo bạch Thế Tôn:
“Chúng
con ở đây bàn luận rằng, vua Ba-tư-nặc hành phi pháp, phạm
luật giáo của Thánh, giam giữ Tỳ kheo ni Sám trong cung suốt
12 năm, cốt để giao tiếp sắc. Vả lại, bậc đắc đạo
vượt ngoài ba cõi, mà vua lại không phụng sự Phật Pháp,
Tăng Tỳ kheo; không có lòng chí tín đối với A-la-hán. Đã
không tâm này thì cũng không có tâm kia đối với ngôi Tam
tôn. Chúng ta nên rời xa, không nên ở lại đất nước này.
Vì sao? Khi vua hành phi pháp, đại thần của vua cũng hành phi
pháp; thần tá, nhân dân cũng hành ác. Vả lại, chúng ta có
thể quan sát phong hóa của nước khác.”
Thế
Tôn bảo các Tỳ kheo:
“Các
ngươi chớ luận bàn đề tài quốc giới. Hãy tự mình khắc
kỷ tư duy, nội tỉnh, so sánh, phân biệt. Bàn luận những
điều như vậy thì không hợp chánh lý. Nó cũng không khiến
mọi người có thể tu phạm hạnh, đạt đến chỗ Niết-bàn
vô vi diệt tận. Hãy tự mình tu tập pháp hành xí nhiên,[78]
tự quy y tối tôn. Nếu Tỳ kheo có thể tự tu tập phát khởi
pháp lạc cho mình, hạng ngừơi đó được sinh từ chính thân
thể Ta.
“Tỳ
kheo, làm thế nào để tự thắp sáng, phát khởi pháp lạc,
không hư dối, tự quy tối tôn? Ở đây, Tỳ kheo nội tự
quán thân, ý an chỉ trên thân,[79] tự thâu nhiếp tâm, trừ
khử loạn tưởng, không có sầu ưu. Lại nữa, nội ngoại
quán thân, thân niệm. Nội quán thọ, ngoại quán thọ, nội
ngoại quán thọ; nội quán tâm, ngoại quán tâm, nội ngoại
quán tâm; nội quán pháp, ngoại quán pháp, nội ngoại quán
pháp. Tỳ kheo như vậy có thể tự mình thắp sáng, tu hành
phát khởi pháp lạc, tự quy tối tôn. Tỳ kheo nào trong hiện
tại hay tương lai mà có thể tự thắp sáng, không thoái thất
gốc rễ của hành, Tỳ kheo ấy được sinh từ chính Ta.
“Cho
nên, Tỳ kheo, nếu muốn [783b] luận bàn, hãy luận bàn mười
sự. Những gì là mười? Tỳ kheo tinh cần, thiểu dục, tri
túc, có tâm dũng mãnh, đa văn mà có thể nói pháp cho người,
không sợ hãi, giới luật đầy đủ, tam muội thành tựu,
trí tuệ thành tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát tri
kiến thành tựu. Nếu muốn luận bàn, các người hãy luận
mười đề tài này. Vì sao? Chúng thấm nhuần tất cả, mang
lại nhiều lợi ích, khiến có thể tu phạm hạnh, đạt đến
chỗ vô vi diệt tận, Niết-bàn giới. Những luận bàn ấy
là đích nghĩa của sa-môn. Các ngươi hãy tinh cần tư duy,
chớ để tâm rời xa. Tỳ kheo, hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ trong thành Xá-vệ có một ông trưởng giả cúng cho La-hầu-la[80]
một căn nhà để tọa thiền.[81] La-hầu-la nghỉ trong căn
nhà ấy được vài ngày, rồi đi du hóa trong nhân gian. Khi
ấy, ông trưởng giả chợt có ý nghĩ đến thăm La-hầu-la.
Nhưng khi thấy trong căn nhà của La-hầu-la vắng vẻ, không
có người ở, ông bèn nói với một Tỳ kheo khác:
“Tôn
giả La-hầu-la nay đang ở đâu?”
Tỳ
kheo đáp:
“La-hầu-la
đi du hóa trong nhân gian.”
Trưởng
giả nói:
“Cúi
mong chư Hiền cắt cử người đến ở trong căn nhà của tôi.
Thế Tôn cũng có nói, tạo lập vườn cây ăn trái và làm
cầu, đò, dựng nhà xí gần đường đi, rồi đem bố thí,
sẽ được phước lâu dài, giới pháp thành tựu; sau khi chết
tất được sinh lên trời. Vì lý do đó, tôi đã làm cho La-hầu-la
một căn nhà. Nay La-hầu-la không thích nhà của tôi. Vậy cúi
mong chư Hiền sai cử người đến ở trong căn nhà của tôi.’
Các
Tỳ kheo đáp:
“Sẽ
theo lời trưởng giả nói.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo bèn cử một Tỳ kheo đến ở trong căn nhà
đó.
Thời
gian sau, La-hầu-la nghĩ rằng, “Ta xa Thế Tôn đã lâu, nay
nên về thăm viếng.”
Rồi
Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới
chân, và ngồi xuống một bên. Giây lát, bèn rời chỗ ngồi,
trở về căn nhà cũ. Thấy có một Tỳ kheo khác ở trontg đó,
bèn hỏi:
“Ai
đem nhà của tôi giao cho thầy ở vậy?”
Tỳ
kheo đáp:
“Chúng
Tăng sai cử tôi đến ở căn nhà này.”
La-hầu-la
quay trở lại chỗ Thế Tôn, đem nhân duyên này [783c] thuật
lại đầy đủ cho Thế Tôn, rồi hỏi:
“Thế
Tôn, không rõ có phải chúng Tăng sai cử đạo nhân đến ở
trong căn nhà của con hay không?”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Ngươi
hãy đi đến ông trưởng giả mà nói rằng, ‘Những gì tôi
đã làm do bởi thân, miệng, ý có điều gì lỗi lầm chăng?
Há không phải ba hành vi bởi thân, bốn bởi miệng, ba bởi
ý, có lỗi lầm gì chăng? Sao Trưởng giả bố thí nhà cho
tôi, rồi sau lại mang chúng cho Thánh chúng?”
La-hầu-la
vâng lời Phật dạy, đi đến ông trưởng giả, nói rằng:
“Há
không phải ba hành vi bởi thân, bốn bởi miệng, ba bởi ý,
có lỗi lầm gì chăng?”
Trưởng
giả đáp:
“Tôi
không thấy La-hầu-la có lỗi lầm gì do bởi thân, miệng,
ý cả.”
La-hầu-la
nói với trưởng giả:
“Vậy
sao ông lấy lại phòng xá của tôi mà đem cho Thánh chúng?”
Trưởng
giả đáp:
“Tôi
thấy nhà trống cho nên đem cho Thánh chúng. Khi ấy tôi nghĩ
rằng, Tôn giả La-hầu-la chắc không thích ở trong căn nhà
của tôi, vì vậy tôi mang đi huệ thí.”
La-hầu-la
sau khi nghe trương giả nói như vậy, bèn trở về chỗ Thế
Tôn, thuật lại đầy đủ nhân duyên sự việc lên Thế Tôn.
Bấy giờ Thế Tôn bảo A-nan, hãy mau đánh kiền-chùy; các
Tỳ kheo trong tinh xá Kỳ-hoàn vân tập hết vào giảng đường
Phổ hội. A-nan vâng lệnh Thế Tôn, triệu tập các Tỳ kheo
vào giảng đường Phổ hội.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về huệ thí thanh tịnh. Các ông hãy khéo suy nghĩ
kỹ.”
Các
Tỳ kheo vâng lời Phật lắng nghe.
Thế
Tôn nói:
“Thế
nào gọi là huệ thí thanh tịnh? Ở đây, Tỳ kheo, có người
đã đem vật huệ thí, sau đó lấy lại đem cho người khác.
Huệ thí ấy được nói là không đồng đều, không phải
bình đẳng thí. Hoặc có người lấy của người khác đem
huệ thí Thánh chúng. Lại có người đoạt của Thánh chúng
đem thí cho người khác. Đấy đều là bố thí không bình
đẳng, cũng không phải là huệ thí thanh tịnh.
“Như
Chuyển luân Thánh vương được tự tại trong cảnh giới của
mình; cũng vậy, Tỳ kheo được tự tại đối với y bát của
mình. Nếu ai lấy của người khác, mà không có lời hứa
khả của người đó, rồi đem cho người kia; đó không phải
là bình đẳng thí. Nay, Ta bảo các Tỳ kheo, thí chủ muốn
cho nhưng người nhận không muốn cho, đây không phải là bố
thí bình đẳng.
“Hoặc
gặp trường hợp Tỳ kheo mạng chung, nên đem một phòng xá
ấy đến giữa chúng, tác yết-ma, truyền cáo xướng lên rằng,
‘Tỳ kheo kia mạng chung, nay đem phòng xá này ra giữa Tăng
phân xử. Muốn giao lại cho ai ở, tùy theo lời dạy của Thánh
chúng. Này chư Hiền, nay [784a] trao cho Tỳ kheo mổ giáp trú
ở đó, mong các vị hãy chấp thuận. Ai không chấp thuận
hãy nói.’ Cần phải nói ba lần như vậy. Nếu trong chúng
Tăng có một vị không chấp thuận mà đem cho, đó không phải
là bình đẳng thí. Vật đó trở thành tạp uế. Nay hãy trả
phòng xá lại cho La-hầu-la, hãy thanh tịnh thọ trì.”
Bấy
giờ các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 9
Nghe
như vậy:
Một
thời Phật trú tại Ca-lan-đà, Trúc viên, thành La-duyệt, cùng
chúng 500 đại Tỳ kheo.
Bấy
giờ Tôn giả Đại Quân-đầu[82] ở một chỗ tịch tĩnh,
khởi lên ý nghĩ này: “Làm thế nào để biết tri kiến về
khoảng trước, khoảng sau, khoảng giữa?”
Khi
đến giờ, Đại Quân-đầu khóac y cầm bát đi đến Thế
Tôn, cúi đầu lạy dưới chân, rồi ngồi xuống một bên.
Tôn giả Quân-đầu bạch Thế Tôn rằng:
“Nay
các tri kiến liên hệ khoảng trước, khoảng sau này, làm sao
để diệt tri kiến này? Lại khiến các tri kiến khác không
sanh?”
Thế
Tôn nói:
“Ở
đây, này Quân-đầu, nơi mà tri kiến ấy xuất hiện, và nơi
mà tri kiến ấy diệt mất, thảy đều vô thường, khổ, không.
Quân-đầu, biết điều đó rồi, hãy phát khởi tâm ý này.
Phàm pháp tri kiến có 62 loại. Hãy an trú trên đất mười
thiện để trừ khử tri kiến ấy. Những gì là mười? Ở
đây, này Quân-đầu, người khác ưa sát sanh, còn ta sẽ không
sát sanh; người khác ưa trộm cướp, ta không trộm cướp;
người khác phạm phạm hạnh, ta hành phạm hạnh; người khác
nói dối, ta không hành nói dối; người khác nói hai lưỡi
gây đấu loạn đây kia, ỷ ngữ, ác khẩu, tật đó, sân hận,
tà kiến, ta hành chánh kiến. Quân-đầu, nên biết, như từ
con đường hiểm ác mà gặp được đường chánh, như từ
tà kiến mà được đến chánh kiến, quay lưng với tà mà
đi theo chánh. Cũng như người tự mình đang bị đắm mà muốn
vớt người, không bao giờ có lý đó. Tự mình chưa diệt
độ, mà muốn khiến người khác diệt độ, điều này không
thể có. Như người không bị đắm mới có thể vớt người
khác, lý này khả hữu. Ở đây cũng vậy, tự mình bát-niết-bàn,
lại khiến người khác chứng diệt độ, lý này khả hữu.
Cho nên, này Quân-đù, hãy niệm tưởng xa lánh mà diệt độ
không sát, xa lánh trộm cướp mà diệt độ không trộm cướp,
xa lánh dâm dật mà diệt độ không dâm dật, xa lánh vọng
ngữ mà diệt độ không vọng ngữ, xa lánh ỷ ngữ mà diệt
độ không ỷ ngữ, xa lánh ác ngôn mà diệt độ không ác
ngôn, xa lánh gây đấu loạn đây kia mà diệt độ không đấu
loạn đây kia, xa lánh tật đố mà diệt độ không tật đố,
xa lánh sân nhuế mà diệt độ không sân nhuế, [784b] xa lánh
tà kiến mà được diệt độ chánh kiến.
“Quân-đầu,
nên biết,phàm phu sanh tâm niệm này: ‘Có ngã chăng? Không
có ngã chăng? Vừa ngã vừa vô ngã chăng? Thế gian thường
chăng? Thế gian vô thường chăng? Thế giới hữu biên chăng?
Thế giới vô biên chăng? Mạng tức thân chăng? Mạng khác
thân khác chăng? Như Lai có chết chăng? Như Lai không chết
chăng? Có chết chăng? Không có chết chăng? Ai tạo ra thế
gian này? Rồi sanh các tà kiến, rằng Phạm thiên tạo ra thế
gian này chăng? hay là Địa chủ tạo dựng thế gian này? Hoặc
nói Phạm thiên tạo ra chúng sanh này, Địa chủ tạo ra thế
giới này. Chúng sanh trước kia không có, nay có. Có rồi, sẽ
diệt. Phàm phu do không học, không có tri kiến, nên sanh ra
các niệm tưởng này.”
Bấy
giờ Thế Tôn nói bài kệ này:
Tự
nhiên có Phạm thiên;
Phạm
chí nói như vậy.
Kiến
này không chân chánh,
Như
sở kiến của họ.
Chúa
ta sanh hoa sen;
Phạm
thiên hiện trong đó.
Địa
chủ sanh Phạm thiên.
Tự
sanh, không hợp lý.
Địa
chủ, dòng sát-lợi,
Cha
mẹ của phạm chí.
Làm
sao con sát-lợi,
Sanh
trở lại phạm chí?
Đi
tìm chỗ sở sanh,
Theo
lời chư thiên nói.
Đó
là lời khen ngợi,
Trở
lại tự trói buộc.
Phạm
thiên sanh loài người,
Địa
chủ tạo thế gian.
Hoặc
nói, cái khác tạo.
Điều
này ai xét cho?
Mê
hoặc bởi tham sân,
Ba
sự cũng hợp tập;
Tâm
không được tự tại,
Tự
xưng ta hơn đời.
Chẳng
Thần tạo thế gian,
Cũng
chẳng Phạm thiên sanh.
Giả
sử Phạm thiên tạo,
Đó
không hư dối chăng?
Tìm
dấu tích lại nhiều
Xét
kỹ, biết hư ngôn.
Hành
vi mỗi mỗi khác;
Hành
ấy xét không thật.
“Quân-đầu,
nên biết, sở kiến của các loài chúng sanh thì không đồng,
mà tâm niệm cũng mỗi khác. Các tri kiến ấy đều vô thường.
Ai ôm giữ tri kiến ấy, là pháp biến dịch, vô thường. Nếu
người khác sát sanh, ta lìa sát sanh. [784c] Nếu người khác
trộm cắp, ta sẽ xa lìa việc đó, không tập theo hành vi đó,
mà chuyên tâm nhất ý không để thác loạn, tư duy trù lượng
xem tà kiến khởi lên từ đâu, cho đến mười pháp ác thảy
đều lìa bỏ, không tập theo các hành vi ấy. Nếu người
khác sân nhuế, chúng ta học nơi nhẫn nhục. Người khác ôm
lòng tật đó, ta nên xả ly. Người khác kiêu mạn, ta nghĩ
đến xả ly. Người khác khen mình chê người, ta không khen
mình chê người. Người khác không thiểu dục, ta nên học
thiểu dục. Người khác phá giới, ta tu tập giới. Người
khác giải đãi, ta hãy tinh tấn. Người khác không hành tam-muội,
ta hành tam-muội. Hãy học như vậy. Người khác ngu hoặc,
ta hành trí tuệ. Ai có thể quan sát phân biệt pháp này, tà
kiến tiêu diệt, những cái còn lại không sanh.”
Quân-đầu
sau khi lãnh thọ những điều Như Lai dạy, ở nơi chỗ vắng
tư duy, suy gẫm, mục đích mà thiện gia nam tử xuất gia học
đạo, khóac ba pháp y, tu phạm hạnh vô thượng, biết như
thật rằng, sinh tử đã hết, phạm hanh đã lập, điều cần
làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa.. Bấy giờ
Quân-đầu thành A-la-hán.
Bấy
giò Quân-đầu nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Chúng
sanh trong địa ngục thọ báo của tội dài nhất là một kiếp.
Cũng có kẻ nửa chừng mà yểu. Súc sanh thọ tội báo dài
nhất một kiếp, cũng có yểu mạng nửa chừng. Thọ báo ngạ
quỷ dài nhất một kiếp, cũng có yểu nửa chừng.
“Tỳ
kheo, nên biết, người Uất-đan-viết thọ lâu một nghìn năm;
không có ai yểu mạng nửa chừng. Sở dĩ như vậy, vì con
người trong quốc thổ đó không có sở hữu. Khi chúng mạng
chung ở đây, liền sinh vào cõi lành, sinh lên trời, không
có ai đọa lạc.
“Loài
người ở thọ năm trăm năm; cũng có kẻ nửa chừng yểu.
Người Cù-đà-ni thọ hai trăm năm mươi năm; cũng có kẻ nửa
chừng yểu.
“Người
Diêm-phù-đề thọ lâu nhất một trăm năm; phần lớn có kẻ
yểu nửa chừng. Giả sử thọ mạng lâu nhất là mười lần
mười; loài người lấy mười lần mười tuổi thọ làm dấu
hiệu, do bởi hành vi bất đồng, tính chất được phân biệt
thành khác nhau. Mười năm đầu, tuổi ấu thơ chưa biết gì.
Mười năm thứ hai, hơi có chút hiêủ biết nhưng chưa quán
triệt. Mười năm thứ ba, ý dục hừng hực, tham đắm sắc.
Mười năm thứ tư, biết nhiều kỹ thuật, nhưng sở hành
chưa có đầu mối. [785a] Mười năm thứ năm, thấy hiểu nghĩa
lý, những gì đã học