CHÍN
PHÁP
44.
PHẨM
CHÍN CHÚNG SANH CƯ
KINH
SỐ 1[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
chín nơi cư trú chúng sanh,[2] là nơi ở của chúng sanh. Những
gì là chín? Hoặc có chúng sanh nhiều thân thân khác nhau với
nhiều tưởng khác. Đó là chỉ cho trời và người.[3] Hoặc
có chúng sanh có nhiều thân, nhưng một tưởng. Đó là chỉ
trời Phạm-ca-di xuất hiện đầu tiên.[4] Hoặc có chúng sanh
có một thân với nhiều tưởng. Đó là trời Quang âm.[5] Hoặc
có chúng sanh một thân với một tưởng. Đó là trời Biến
tịnh.[6] Hoặc có chúng sanh vô lượng không. Đó là trời
Không xứ.[7] Hoặc có chúng sanh vô lượng thức. Đó là trời
Thức xứ.[8] Hoặc có chúng sanh Vô sở hữu xứ. Đó là trời
Vô sở hữu xứ.[9] Hoặc có chúng sanh có tưởng, không tưởng.
Đó là trời Phi tương phi phi [765a01] tưởng xứ.[10]
“Tên
gọi của những chỗ được sinh ra có chín. Này Tỳ-kheo, đó
gọi là chín nơi cư trú của chúng sanh. Các loài quần manh
đã từng ở, đang ở, sẽ ở. Cho nên Tỳ-kheo, hãy tìm cầu
phương tiện thoát ly chín nơi này.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe nghững gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ nói về chín đức của sẩn nguyện[11], các ngươi hãy
suy nghĩ kỹ, nay Ta sẽ diễn giải ý nghĩa này.”
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật giáo giới. Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Thế
nào là chín đức của sẩn nguyện? Tỳ-kheo nên biết, thí
chủ đàn-việt phải thành tựu ba pháp; vật được thí cũng
phải thành tựu ba pháp; người nhận vật cũng phải thành
tựu ba pháp.
“Thế
nào là thí chủ đàn-việt kia phải thành tựu ba pháp? Thí
chủ đàn-việt này thành tựu tín, thành tựu thệ nguyện,
không sát sinh. Đó gọi là thí chủ đàn-việt thành tựu ba
pháp.
“Thế
nào là vật được thí cũng phải thành tựu ba pháp? Vật
được thí này phải thành tựu sắc, thành tựu hương, thành
tựu vị. Đó gọi là vật được thí thành tựu ba pháp.
“Thế
nào là người nhận vật phải thành tựu ba pháp? Người nhận
vật này thành tựu giới, thành tựu trí tuệ, thành tựu tam-muội.
Đó gọi là người nhận thí thành tựu ba pháp.
“Như
vậy, nếu sự đạt-sẩn[12] thành tựu chín pháp này, sẽ
đưa đến quả báo lớn, đến chỗ cam lồ diệt tận. Phàm
ai là thí chủ muốn cầu phước này hãy tìm cầu phương tiện
thành tựu chín pháp này.
“Tỳ-kheo,
hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Để
thành tựu chín pháp. Những gì là chín? Mặt gượng,[13] chịu
nhục, tâm tham, keo kiết, tâm niệm không xả ly, hay quên, ít
ngủ, che dấu dâm dật,[14] và không biết đền trả là chín.
Tỳ-kheo, đó gọi là thành tựu chín pháp.
“Tỳ-kheo
ác cũng thành tựu chín pháp. Thế nào là chín? Ở đây, Tỳ-kheo
ác làm mặt gượng, chịu nhục, tâm tham, keo kiết, hay quên,
ít ngủ, dâm dật che dấu, không biết đền trả, [765b] niệm
không xả ly. Đó là chín.
“Thế
nào là Tỳ-kheo ác làm mặt gượng? Ở đây, Tỳ-kheo ác, điều
không đáng tìm cầu mà tìm cầu, trái với hạnh Sa-môn. Tỳ-kheo
như vậy gọi là mặt gượng.
“Thế
nào là Tỳ-kheo ác chịu nhục? Ở đây, Tỳ-kheo ác ở chỗ
các Tỳ-kheo hiền thiện mà tự khen ngợi mình, hủy báng người
khác. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo ác chịu nhục.
“Thế
nào là Tỳ-kheo sinh tâm tham? Ở đây, Tỳ-kheo thấy tài và
vật của người khác đều sinh tâm tham. Đó gọi là tham.
“Thế
nào là Tỳ-kheo keo kiết? Ở đây Tỳ-kheo được y bát không
cho người dùng chung, thường cất dấu cho riêng mình. Như
vậy gọi là keo rết.
“Thế
nào là Tỳ-kheo hay quên? Ở đây, Tỳ-kheo ác thường hay để
rơi rớt những lời hay, thiện; cũng không tư duy phương tiện,
lại luận bàn về chuyện quốc gia binh chiến. Như vậy gọi
là Tỳ-kheo ác thành tựu điều hay quên này.
“Thế
nào là Tỳ-kheo ác ít ngủ? Ở đây, Tỳ-kheo ác, những pháp
cần tư duy mà không tư duy. Như vậy gọi là Tỳ-kheo ác ít
ngủ.
“Thế
nào là Tỳ-kheo ác che dấu dâm dật? Ở đây, Tỳ-kheo ác che
dấu những việc làm, không nói cho người khác, nghĩ rằng,
‘Mong người khác không biết những việc ta làm[15] của ta.’
Như vậy gọi là Tỳ-kheo che dấu những việc làm dâm dật.
“Thế
nào là Tỳ-kheo ác không biết đền trả? Ở đây Tỳ-kheo
ác không có tâm cung kính, không hầu hạ sư trưởng, và tôn
kính những vị đáng quí trọng. Tỳ-kheo ác như vậy gọi
là không biết đền trả.
“Nếu
Tỳ-kheo ác thành tựu chín pháp này[16], niệm không xả ly,
trọn không thành đạo quả. Cho nên, Tỳ-kheo, hãy suy niệm
xả bỏ các pháp ác.
“Tỳ-kheo,
hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chim
khổng tước thành tựu chín pháp. Những gì là chín? Ở đây,
chim khổng tước hình dáng xinh đẹp, tiếng kêu trong suốt,
bước khoan thai, đi đúng lúc, ăn uống điều độ, thường
nghĩ biết đủ, niệm không phân tán, ít ngủ nghỉ, lại cũng
ít ham muốn, biết đền trả. Này Tỳ-kheo, đó gọi là chim
khổng tước thành tựu chín pháp.
“Tỳ-kheo
hiền thiện cũng thành tựu chín pháp. Thế nào là chín? Ở
đây, Tỳ-kheo hiền thiện tướng mạo xinh đẹp, tiếng nói
trong suốt, bước khoan thai, [765c] hành đúng lúc, ăn uống
có điều độ, thường nghĩ biết đủ, niệm không phân tán,
ít ngủ nghỉ, ít ham muốn, biết đền trả.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo hiền thiện tướng mạo xinh đẹp? Tỳ-kheo
kia ra, vào, lui, tới, đi, đứng thích hợp, trọn không mất
tư cách. Như vậy gọi là Tỳ-kheo hiền thiện tướng mạo
đoan chánh.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo tiếng nói trong suốt? Ở đây, Tỳ-kheo khéo
phân biệt nghĩa lý, trọn không lẫn lộn. Như vậy gọi là
Tỳ-kheo tiếng nói trong suốt.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo bước khoan thai? Ở đây, Tỳ-kheo biết đúng
thời mà đi, không để mất thứ lớp; lại biết khi đáng
tụng thì biết tụng; khi đáng tập thì biết tập; khi đáng
im lặng thì biết im lặng; khi nên dậy thì biết dậy. Như
vậy gọi là Tỳ-kheo bước khoan thai.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo hành đúng lúc? Ở đây, Tỳ-kheo khi nên đi
thì đi, khi nên đứng thì đứng, tùy thời nghe pháp. Như vậy
gọi là Tỳ-kheo hành đúng lúc.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo ăn uống điều độ? Ở đây, Tỳ-kheo được
thức ăn dư còn lại, phân chia cho người, không tiếc những
cái mình có. Như vậy gọi là Tỳ-kheo ăn uống điều độ.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo ít ngủ nghỉ? Ở đây, Tỳ-kheo vào đầu
đêm tập tỉnh thức, tập ba mươi bảy phẩm đạo không để
rơi rớt, hằng làm thanh tịnh ý bằng kinh hành, khi nằm, khi
tỉnh thức; lại vào giữa đêm tư duy pháp sâu xa, đến lúc
cuối đêm nằm nghiêng hông phải sát đất, hai chân xếp lên
nhau, tư duy về tưởng ánh sáng, rồi đứng lên kinh hành mà
làm thanh tịnh ý. Như vậy gọi là Tỳ-kheo ít ngủ nghỉ.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo ít ham muốn, biết đền trả ? Ở đây, Tỳ-kheo
thờ phụng Tam Tôn, vâng kính sư trưởng. Như vậy gọi là
Tỳ-kheo ít ham muốn, biết đền trả. Như vậy là Tỳ-kheo
hiền thiện thành tựu chín pháp, các ngươi hãy niệm tưởng
phụng hành.
“Tỳ-kheo,
hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước
Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người
nữ thành tựu chín pháp để trói buộc người nam. Những
gì là chín? Ca, múa, kịch,[18] nhạc, cười, khóc, trau chuốt
nghi dung,[19] huyễn thuật mê hoặc,[20] nhan sắc thể hình.[21]
Trong tất cả hình thức ấy, chỉ có xúc[22] trói người chặt
nhất, gấp trăm nghìn lần, không có gì để so sánh.
“Ở
dây Ta thấy ý nghĩa này, xúc* trói người chặt nhất không
cho ra thóat khỏi; [766a1] đó là sọi dây buộc chặt người
nam vào người nữ. Cho nên, Tỳ-kheo, hãy niệm tưởng xả
bỏ chín pháp này.
“Tỳ-kheo,
hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở Ưu-ca-la,[24]trong vườn trúc,[25] cùng
đại chúng năm trăm Tỳ-kheo.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói pháp vi diệu cho các ông, phần đầu thiện, phần
giữa thiện, phần cuối thiện, nghĩa lý sâu nhiệm, tu hành
phạm hạnh thanh tịnh. Kinh này gọi là ‘Gốc của tất cả
các pháp.’[26] Các ngươi nên suy nghĩ kỹ.”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Thưa
vâng, Thế Tôn!”
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Phật bảo:
“Thế
nào là gốc của tất cả các pháp? Ở đây, Tỳ-kheo, người
phàm phu không gặp lời dạy của Hiền thánh, cũng không gìn
giữ lời dạy của Như Lai, không gần gũi thiện tri thức,
không chịu nghe lời dạy của thiện tri thức. Chúng quán sát
đất này mà biết như thật rằng, ‘Đây là đất; như thật
là đất.’[27] Cũng vậy, đây là nước, là lửa, là gió.
Bốn thứ này hợp lại thành con người.[28] Đó là sự vui
thích của người ngu.[29] Hoặc Trời tự biết là Trời, thích
ở cõi Trời.[30] Phạm thiên tự biết là Phạm thiên. Đại
Phạm thiên tự biết là Đại Phạm thiên, không ai vượt qua.
Trời Quang âm trở lại tự biết do trời Quang âm đến. Trời
Biến tịnh tự biết là trời Biến tịnh. Trời Quả thật[31]
tự biết là trời Quả thật mà không lầm lẫn. Trời A-tỳ-da-đà[32]
tự biết là trời A-tỳ-da-đà. Trời Không xứ tự biết là
trời Không xứ. Trời Thức xứ tự biết là trời Thức xứ.
Trời Vô sở hữu xứ tự biết là trời Vô sở hữu xứ.
Trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ tự biết là trời Phi tưởng
phi phi tưởng xứ.
“Thấy,
tự biết là thấy; nghe, tự biết là nghe; muốn, tự biết
là muốn; trí, tự biết là trí;[33] một lọai tự biết là
một loại; nhiều loại tự biết là nhiều loại;[34] thảy
đầy đủ tự biết là thảy đầy đủ; Niết-bàn tự biết
là Niết-bàn, ở trong đó mà tự vui thích. Vì sao vậy? Vì
chẳng phải là những lời nói của người trí.[35]
“Thánh
đệ tử đến gặp bậc Thánh, vâng thọ pháp người, hầu
hạ thiện tri thức, thường thân cận thiện tri thức,[36]
quán sát đất, thảy đều biết rõ ràng từ đâu đến, cũng
không đắm trước vào đất, [766b] không có tâm nhiễm ô.
Nước, lửa, gió, cũng như vậy. Người, Trời, Phạm vương,
Quang âm, Biến tịnh, Quả thật, trời A-tỳ-da-đà, Không xứ,
Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ; thấy,
nghe, nhớ, biết; một loại, nhiều loại, cho đến đối Niết-bàn
cũng không đắm ở Niết-bàn, không khởi tưởng Niết-bàn.
Vì sao vậy? Vì tất cả đều do khéo phân biệt khéo quán
sát.
“Nếu
Tỳ-kheo kia là A-la-hán lậu tận, việc cần làm đã xong, đã
đặt gánh nặng xuống, đã dứt sạch nguồn gốc sinh tử,
bình đẳng giải thóat.[37] Vị ấy có thể phân biệt đất,
thấy không khởi tưởng đắm đất. Người, Trời, Phạm vương
cho đến Hữu tưởng vô tưởng xứ, cũng vậy; cho đến đối
Niết-bàn, cũng không đắm Niết-bàn, không khởi tưởng Niết-bàn.
Vì sao vậy? Vì đều do đã diệt trừ dâm, nô, si mà được
như vậy.
“Tỳ-kheo,
nên biết, Như Lai, Chí chơn Đẳng chánh giác, đối với đất
khéo hay phân biệt, cũng không đắm trước nơi đất, không
khởi tưởng về đất. Vì sao vậy? Vì do phá được lưới
ái mà được như vậy. Nhân hữu mà có sinh, nhân sinh mà có
lão, tử, thảy đều trừ hết.[38] Cho nên Như Lai thành Vô
thượng Chánh giác.”
Khi
đức Phật nói những lời này, các Tỳ-kheo không lãnh thọ
những lời dạy này.[39] Vì sao? Vì do Ma Ba-tuần làm bế tắc
tâm ý.
“Kinh
này gọi là: ‘Gốc rễ của tất cả các pháp.’ Nay Ta nói
đầy đủ. Những điều mà chư Phật Thế Tôn cần làm, nay
Ta đã làm đầy đủ. Các ngươi hãy nghĩ tưởng ở nơi
nhàn tĩnh, dưới bóng cây, chánh ý ngồi thiền, tư duy diệu
nghĩa. Nay không làm, sau hối vô ích. Đây là những lời giáo
giới của Ta.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở Ca-lan-đà, trong vườn trúc, thành
La-duyệt, cùng đại chúng năm trăm Tỳ-kheo.
Bấy
giờ, trong thành La-duyệt có một Tỳ-kheo mang trọng bệnh,
rất khốn khổ, nằm đại tiểu tiện, không thể tự đứng
dậy, cũng chẳng có Tỳ-kheo nào đến chăm sóc. Ngày đêm
ông xưng danh hiệu Phật: “Sao ta không được Thế Tôn thương
tưởng đến?”
Lúc
ấy Như Lai bằng thiên nhĩ nghe Tỳ-kheo kia đang than oán kêu
la, hướng về Như Lai. Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
với các ngươi cùng đi xem xét các phòng, thăm viếng các trú
xứ.”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Thưa
vâng, Thế Tôn!”
Thế
Tôn [766c] cùng với các Tăng Tỳ-kheo vây quanh lần lượt đi
qua các phòng. Khi ấy Tỳ-kheo bệnh từ xa trong thấy Thế Tôn
đến, liền từ chỗ ngồi muốn đứng dậy, mà không thể
cử động được. Thế Tôn đến chỗ Tỳ-kheo, bảo rằng:
“Thôi,
được rồi, Tỳ-kheo! Chớ cử động. Ta đã có chỗ ngồi
dọn sẵn để ngồi.”
Lúc
ấy Tỳ-sa-môn Thiên vương biết ý nghĩ của Như Lai, biến
mất khỏi thế giới Dã mã, hiện đến chỗ Phật, đảnh
lễ sát chân rồi đứng sang một bên.
Thích
Đề-hòan Nhân biết ý nghĩ trong tâm Như Lai, liền đi đến
chỗ Phật.
Phạm
thiên vương cũng biết ý nghĩ trong tâm Như Lai, bèn biến mất
khỏi Phạm thiên, hiện đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân
Phật, ngồi qua một bên.
Tứ
thiên vương cũng biết ý nghĩ trong tâm Như Lai, đi đến
chỗ Phật, đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên.
Bấy
giờ, Phật bảo Tỳ-kheo bệnh:
“Bệnh
khổ của ngươi nay có giảm, không tăng thêm chăng?”
Tỳ-kheo
thưa:
“Bệnh
khổ của đệ tử có tăng chứ không giảm, rất ít có ai
để nhờ cậy.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Người
chăm sóc bệnh hiện ở đâu? Người nào đến chăm sóc bệnh?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Con
mắc bệnh này, nhưng không người chăm sóc.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Trước
kia, khi ngươi chưa bệnh, có đến hỏi thăm hỏi người bệnh
không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Con
không hề đến thăm hỏi những người bệnh.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ngươi
ở không được điều ích lợi ở trong chánh pháp. Vì sao?
Tất cả do không đến thăm hỏi bệnh. Nay Tỳ-kheo, ngươi
chớ lo sợ, Ta sẽ tự thân cấp dưỡng ngươi, không để
thiếu thốn. Như Ta nay, trên trời và giữa người, đi một
mình không bạn lứa, nhưng vẫn có thể chăm sóc tất cả
bệnh nhơn; cứu giúp những ai không có người cứu giúp; làm
con mắt cho những ai mù tối; cứu chữa những ai tật bệnh.”
Rồi
Thế Tôn tự mình dọn các thứ bất tịnh, lại trải tọa
cụ cho. Lúc ấy Tỳ-sa-môn Thiên vương cùng Thích Đề-hòan
Nhân bạch Phật:
“Chúng
con sẽ tự mình chăm sóc Tỳ-kheo bệnh này. Như Lai chớ lại
nhọc sức.”
Phật
bảo chư Thiên:
“Các
Ông, thôi đi được rồi, Như Lai sẽ tự biết thời. Như
Ta nhớ lại, thủa xưa khi chưa thành Phật đạo, đang tu hạnh
Bồ-tát, đã từng xả bỏ mạng căn cho một com chim bồ câu,
huống chi ngày nay đã thành Phật đạo mà bỏ Tỳ-kheo này
sao? Quyết không có việc này. Lại nữa, trước kia Thích Đề-hòan
Nhân không chăm sóc Tỳ-kheo bệnh này; Tỳ-sa-môn Thiên vương,
Chủ hộ thế, cũng không chăm [767a1] sóc.”
Khi
ấy, Thích Đề-hòan Nhân cùng Tỳ-sa-môn Thiên vương đều
im lặng không đáp.
Bấy
giờ, Như Lai tự tay cầm chổi quét dọn đất dơ, rồi trải
bày tọa cụ, lại giặt giũ ba pháp y cho ông, nâng đỡ tỳ-kheo
bệnh cho ngồi vào trong nước sạch mà tắm gội. Chư Thiên
ở trên dùng nước thơm rưới xuống.
Thề
tôn sau khi đã tắm gội cho Tỳ-kheo rồi, dìu ngồi lại lên
giường, tự tay trao thức ăn. Khi Thế Tôn thấy Tỳ-kheo ăn
xong, bèn rửa bát và bảo Tỳ-kheo kia:
“Nay
ngươi nên xả bệnh ba đời. Vì sao? Tỳ-kheo, nên biết, sinh
có sự nguy khốn là ở trong bào thai. Sinh thì có già. Phàm
người già, hình suy khí cạn. Nhân già có bệnh. Phàm người
bệnh, ngồi nằm rên rỉ, bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh đều
đến cùng lúc. Nhân bệnh có chết. Phàm người chết, thần
và xác phân ly, nhắm theo đường lành dữ. Nếu ai tội nhiều
sẽ vào địa ngục, núi đao rừng kiếm, xe lửa, lò than, ăn
uống đồng sôi. Hoặc làm súc sanh, bị người sai sử, ăn
tòan rơm cỏ, chịu khổn vô cùng. Lại ở trong vô số kiếp
không thể tính đếm làm thân ngạ quỷ, thân dài mười do
tuần, cổ nhỏ như cây kim, lại bị nước đồng sôi rót
vào miệng. Trải qua vô số kiếp, mới được làm thân người,
lại bị đánh đập, tra khảo, không thể kể hết. Lại được
sinh lên trời ở trong vô số kiếp, cũng trải qua ân ái, hội
họp, lại gặp ân ái biệt ly, tham dục không chán đủ. Khi
được đạo Hiền thánh, bây giờ mới lìa khổ.
“Có
chín hạng người lìa được khổ hoạn. Những gì là chín?
Hướng A-la-hán, đắc A-la-hán; hướng A-na-hàm, đắc A-na-hàm;
hướng Tư-đà-hàm, đắc Tư-đà-hàm; hướng Tu-đà-hòan, đắc
Tu-đà-hòan và, người chủng tánh[40] là chín.
“Này
Tỳ-kheo, Như Lai xuất hiện thế gian được nói là rất khó
gặp, thân người khó được, sinh nhằm trung bộ cũng khó
được, gặ gỡ thiện tri thức cũng vậy. Nghe pháp được
giảng thuyết cũng rấ khó. Pháp pháp tương sinh, thật lâu
mới có một lần.
“Tỳ-kheo
nên biết, nay Như Lai xuất hiện ở thế gian, ngươi được
nghe chánh pháp, các căn không thiếu để có thể nghe chánh
pháp kia, mà nay không ân cần, sau này hối không kịp. Đây
là những lời giáo giới của Ta.”
Bây
giờ, Tỳ-kheo bệnh kia sau khi nghe Như Lai dạy, được nhìn
rõ tôn nhan, liền ngay trên chỗ ngồi mà đạt được [767b]
ba minh, dứt sạch các lậu, tâm giải thoát.[41] Phật bảo
Tỳ-kheo:
“Ngươi
đã hiểu rõ nguồn gốc của bệnh rồi chưa?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Con
đã hiểu rõ căn nguyên bệnh. Xa lìa sinh, già, bệnh, chết
này đều là nhờ thần lực của Như Lai gia bị, nhờ bốn
vô lượng tâm bao trùm khắp tất cả, không lường, không
giới hạn, không thể kể hết. Thân, khẩu, ý trong sạch.”
Đức
Thế Tôn sau khi thuyết pháp đầy đủ rồi, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy mà đi. Bấy giờ Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
“Ngươi
hãy đánh kiền chùy, gọi các Tỳ-kheo có mặt tại thành La-duyệt
tập trung tất cả tại giảng đường Phổ hội.”
A-nan
vâng lời Phật dạy, họp các Tỳ-kheo tại giảng đường
Phổ hội, rồi đến trước Phật bạch rằng:
“Các
Tỳ-kheo đã họp. Cúi xin Thế Tôn biết thời.”
Thế
Tôn đi đến chỗ giảng đường, ngồi lên chỗ đã dọn sẵn.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi xuất gia học đạo vì sợ quốc vương, giặc cướp
chăng? Hay là, Tỳ-kheo, do bởi tín tâm kiên cố mà tu phạm
hạnh vô thượng, muốn được xả ly sinh, già, bệnh, chết,
ưu bi, khổ não, và cũng muốn dứt lìa mười hai sự lôi keo[42]?”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Thật
như vậy, Thế Tôn.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Vì
mục đích mà các ngươi xuất gia học đạo, cùng một Thầy,
hòa một như nước với sữa, nhưng lại không chăm sóc lẫn
nhau. Từ nay về sau hãy chăm sóc lẫn nhau. Nếu Tỳ-kheo bệnh
nào không có đệ tử, trong chúng hãy cử người theo thứ
tự chăm sóc người bệnh. Vì sao? Ngoài đây ra, Ta không thấy
nơi nào mà sự bố thí có phước hơn chăm sóc người bệnh.
Chăm sóc người bệnh cũng như chăm sóc Ta không khác vậy.”
Rồi
Thế Tôn bèn nói kệ này:
Nếu
có cúng dường Ta,
Cùng
chư Phật quá khứ;
Phước
đức thí cho Ta,
Như
nuôi bệnh không khác.
Thế
Tôn sau khi dạy những lời này xong, bảo A-nan:
“Từ
nay về sau, các Tỳ-kheo hãy nên chăm sóc lẫn nhau. Nếu có
Tỳ-kheo nào biết mà không làm sẽ căn cứ vào pháp luật
mà xử trị. Đây là những lời giáo giới của Ta.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 8[43]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
chín hạng người đáng kính, đáng quí, cúng dường họ thì
được phước. Những gì là chín? Hướng [767c] A-la-hán, đắc
A-la-hán; hướng A-na-hàm, đắc A-na-hàm; hướng Tư-đà-hàm,
đắc Tư-đà-hàm; hướng Tu-đà-hòan, đắc Tu-đà-hòan và
người hướng chủng tánh [44] là thứ chín.
“Này
các Tỳ-kheo, đó gọi là chín hạng người mà ai cúng dường
đến sẽ được phước, trọn không mảy may giảm thiểu.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở Ca-lan-đà, trong vườn trúc, thành La-duyệt,
cùng đại chúng năm trăm Tỳ-kheo.
Bấy
giờ, Vương tử Vũ-hô[45] đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát
chân, ngồi qua một bên. Lúc ấy Vương tử Vũ-hô bạch Thế
Tôn:
“Con
từng nghe, Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc[46] cùng bà-la-môn Lô-ca-diên[47]
luận biện với nhau, nhưng Tỳ-kheo này không trả lời được.
Con cũng từng nghe, trong chúng đệ tử Như Lai, người có các
căn ám độn, không có tuệ sáng, không ai hơn Tỳ-kheo này.
“Trong
hàng Ưu-bà-tắc Như Lai ở tại gia, người Cù-đàm họ Thích
trong thành Ca-tỳ-la-vệ có các căn ám độn, tình ý bế tắc.”
Phật
bảo Vương tử:
“Tỳ-kheo
Chu-lợi-bàn-đặc có sức thần túc, được pháp thượng nhơn,
không học tập theo lối đàm luận của thế gian. Hơn nữa,
Vương tử nên biết, Tỳ-kheo này có được diệu nghĩa.”
Vương
tử Vũ-hô bạch Thế Tôn:
“Tuy
Phật có nói như vậy, nhưng trong ý con vẫn có suy nghĩ này:
‘Sao có thần lực lớn mà không thể biện luận với ngoại
đạo dị học?’ Nay con thỉnh Phật cùng Tăng Tỳ-kheo,
chỉ trừ một người Chu-lợi-bàn-đặc.”
Thế
Tôn im lặng nhận lời thỉnh. Sau khi thấy Thế Tôn đẫ nhận
lời thỉnh rồi, Vương tử liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ sát chân Thế Tôn, nhiễu quanh ba vòng rồi
lui đi. Liền đêm đó, ông sửa sọan các thứ đồ ăn thức
uống ngon ngọt, trải tọa cụ tốt. Sau đó, đến trình đã
đúng giờ.
Bấy
giờ, Thế Tôn đưa bát cho Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc giữ
ở lại sau, rồi dẫn các Tỳ-kheo vây quanh trước sau vào
thành La-duyệt, đến chỗ Vương tử kia, mọi người theo thứ
lớp mà ngồi. Bấy giờ, Vương tử bạch Thế Tôn:
“Cúi
xin Như Lai trao bát cho con. Con sẽ tự tay dâng thức ăn cho
Như Lai.”
Phật
bảo Vương tử:
“Bát
ở chỗ Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc, không mang đến đây.”
Vương
tử bạch Phật:
“Cúi
xin Thế [768a1] tôn sai một Tỳ-kheo đến lấy bát lại.”
Phật
bảo Vương tử:
“
Ông hãy tự mình đến đó lấy bát của Như Lai mang lại đây.”
Bấy
giờ Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc hóa làm năm trăm cây hoa. Dưới
mỗi cây đều có Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc ngồi. Vương tử
sau khi nghe Phật dạy bèn đi lấy bát. Từ xa nhìn thấy dưới
năm trăm cây đều có Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc đang ngồi
thiền, buộc niệnm ở trước không bị phân tán, ở dưới
bóng cây. Thấy vậy, ông suy nghĩ: ‘Người nào là Tỳ-kheo
Chu-lợi-bàn-đặc?’ Rồi Vương tử Vũ-hô trở lại chỗ
Thế Tôn, bạch Phật:
“Con
đến trong vườn kia, thấy toàn là Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc,
không biết người nào là Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc.”
Phật
bảo Vương tử:
“Ông
hãy quay trở lại khu vườn, đứng chính giữa mà búng ngón
tay, nói như vầy: Vị nào thật sự là Tỳ-kheo Châu-lợi-bàn-trà,
xin rời chỗ ngồi đứng dậy.”
Vương
tử Vũ-hô vâng lời dạy, trở lại khu vườn, đứng ở giữa
vườn mà nói như vầy: ‘Vị nào thật sự là Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc,
xin ngài liền từ chỗ ngồi đứng lên.” Vương tử nói lời
này xong, tức thì năm trăm Tỳ-kheo biến hóa kia tự nhiên
biến mất, chỉ còn lại một Tỳ-kheo Châu-lợi-bàn-trà.”
Vương
tử Vũ-hô cùng Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc đến chỗ Thế Tôn,
đảnh lễ sát chân, đứng qua một bên. Bấy giờ Vương tử
Vũ-hô bạch Phật:
“Cúi
xin Thế Tôn, con nay xin sám hối, tự trách mình không tin những
lời dạy của Như Lai. Tỳ-kheo này thật có thần túc, có
oai lực lớn.”
Phật
bảo Vương tử:
“Ta
nhận lời Ông sám hối. Những gì Như Lai nói, không có hai
lời. Lại nữa, thế gian này có chín hạng người qua lại.
Thế nào là chín? Một, đoán biết ý nghĩ của người; hai,
nghe rồi mới biết; ba, xem tướng sau đó mới biết; bốn,
quán sát nghĩa lý sau đó mới biết; năm, biết vị nếm[48]
sau đó mới biết; sáu, biết nghĩa biết vị nếm[49] sau đó
mới biết; bảy, không biết nghĩa không biết vị*; tám học
ở sức thần túc tư duy;[50] chín, nghĩa được nhận rất
ít. Vương tử, đó là chín hạng người xuất hiện thế gian.
Như vậy, Vương tử người xem tướng kia, trong tám hạng người,
là tột bậc nhất, không ai hơn được.
“Nay
Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc chỉ tập thần túc, chứ không học
pháp khác. Tỳ-kheo này thường dùng thần túc thuyết pháp
cho người.
“Ở
đây tỳ-kheo A-nan của Ta xem tướng [768b] mà đoán biết ý
nghĩ của người, biết Như Lai cần cái này, không cần cái
này; cũng biết Như Lai sẽ nói việc này, bảo xa lìa việc
này. Tất cả đều biết rõ ràng. Như nay, không có ai vượt
lên trên Tỳ-kheo A-nan về việc xem rộng các nghĩa kinh không
đâu không khắp .
“Lại
nữa, Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc này có thể hóa một thân
thành nhiều thân, rồi hiệp trở lại thành một. Tỳ-kheo
này ngày sau sẽ diệt độ ở giữa hư không. Ta không thấy
người nào khác diệt độ như Tỳ-kheo A-nan và Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc
này.”
Bấy
giờ, Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo
đệ nhất trong hàng Thanh văn của Ta, biến hóa thân hình cò
thể lớn hay nhỏ, không có ai để sánh như Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc.”
Bấy
giờ, Vương tử Vũ-hô tự tay châm đồ ăn thức uống cúng
dường chúng Tăng. Rửa bát xong, ông lấy ghế nhỏ ngồi trước
Như Lai, chấp tay bạch Thế Tôn:
“Cúi
xin Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc thường đến
nhà con. Tùy theo chỗ cần dùng như y phục, các đồ linh tinh
khác của Sa-môn, thảy đều nhận tại nhà con. Con sẽ cung
cấp những thứ cần dùng suốt đời.”
Phật
bảo Vương tử:
“Vương
tử, Ông hướng về Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc sám hối, tự
mình thưa thỉnh. Vì sao? Người không trí mà muốn phân biệt
người có trí; trường hợp này khó gặp. Nói rằng người
trí có thể phân biệt người trí, lý này có thể có.”
Bấy
giờ Vương tử Vũ-hô tức thì hướng về Tỳ-kheo Chu-lợi-bàn-đặc
lễ và tự xưng danh tánh, cầu sám hối:
“Tỳ-kheo
đại thần túc, con đã sinh ý khinh mạn! Từ nay về sau không
dám tái phạm. Cúi xin ngài nhận sự sám hối. Con không dám
tái phạm.”
Tỳ-kheo
Chu-lợi-bàn-đặc đáp:
“Tôi
nhận Ông hối lỗi. Sau chớ tái phạm, cũng chớ hủy báng
Hiền thánh nữa. Vương tử, nên biết, chúng sanh nào hủy
báng Thánh nhơn tất sẽ bị đọa vào ba đường ác, sinh vào
trong địa ngục. Vương tử hãy học điều này như vậy.”
Bấy
giờ Phật nói pháp vi diệu cho Vương tử Vũ-hô, khuyến khích
khiến hoan hỷ, rồi ngay trên chỗ ngồi diễn nói chú nguyện
này:
Tế
tự: lửa trên hết;
Kinh
sách: tụng trên hết;
Cõi
người: vua là tôn;
Các
sông: biển đứng đầu;
Các
sao: trăng sáng nhất;
Ánh
sáng: mặt trời nhất;
[768c]Trên
dưới cùng bốn phưong,
Những
vật có hình dáng,
Trời
cùng người thế gian:
Phật
là đấng tối tôn.
Ai
muốn cầu phước kia
Cúng
dường Phật chánh giác.[51]
Thế
Tôn sau khi nói bài kệ này xong, rời chỗ ngồi đứng dậy.
Bấy giờ, Vương tử Vũ-hô nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, A-nan bạch Thế Tôn:
“Nói
thiện tri thức, đó là một nửa của người phạm hạnh,[52]
hướng dẫn đường lành đến vô vi.”
Phật
bảo A-nan:
“Chớ
nói vầy, rằng thiện tri thức, đó là một nửa của người
phạm hạnh. Vì sao? Thiện tri thức là toàn bộ của người
phạm hạnh, cùng giúp đỡ, trông coi, hướng dẫn nhau theo
con đường lành. Ta cũng do thiện tri thức mà thành Vô thượng
Chánh chơn Đẳng chánh giác. Do thành đạo quả, độ thoát
chúng sanh không thể kể hết, thảy đều thóat sinh, lão, bệnh,
tử. Do phương tiện này mà biết, thiện tri thức là toàn
bộ của người phạm hạnh.
“Lại
nữa, A-nan, nếu người thiện nam kẻ tín nữ thân cận thiện
tri thức thì tín căn sẽ được tăng thêm, các phẩm đức
văn, thí, huệ thảy đều đầy đủ. Giống như trăng đang
lúc tròn đầy, ánh sáng càng tăng dần gấp bội hơn trước.
Đây cũng như vậy, nếu có người thiện nam, kẻ tín nữ
nào gần gũi thiện tri thức thì tín, văn, thí, huệ thảy
đều tăng thêm. Do phương tiện này mà biết thiện tri thức
là toàn bộ của người phạm hạnh. Nếu ngày xưa Ta không
thân cận thiện tri thức, chắc chắn không gặp Phật Đăng
Quang để được thọ ký. Vì thân cận thiện tri thức nên
Ta được gặp Phật Đề-hòa-kiệt-la[53] thọ ký. Do phương
tiện này mà biết thiện tri thức là toàn bộ của người
phạm hạnh.
“
A-nan, hiện tại nếu thế gian không có thiện tri thức sẽ
không có trật tự của tôn ti; cha mẹ, sư trưởng, anh em,
tông thân, tất sẽ cùng loài với heo, chó không khác, tạo
các duyên ác, gieo tội duyên địa ngục. Nhờ thiện tri thức
mà phân biệt có cha mẹ, sư trưởng, anh em, tông thân.”
Rồi
Thế Tôn liền nói kệ này:
Thiện
hữu, phi ác hữu,
Thân
pháp, không vi ăn[54],
[769a]Dẫn
dắt lên đường lành.
Phật
nói, thân đó nhất.
“Cho
nên, A-nan, chớ nói rằng thiện tri thức là một nữa phạm
hạnh.”
Bấy
giờ, A-nan sau khi nghe những điềuì Phật dạy, hoan hỳ phụng
hành.
KINH
SỐ 11[55]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt,
cùng với đại chúng năm trăm Tỳ-kheo.
Lúc
ấy, Thích Đề-hoàn Nhân biến mất khỏi trời Tam thập tam,
hiện đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua
một bên, bạch Phật:
“Trời
cùng con người có niệm tưởng gì? Ý cầu mong những gì?”
Phật
bảo:
“Thế
gian trôi nổi, tánh chất không đồng, định hướng khác biệt,
niệm tưởng chẳng phải một. Thiên Đế nên biết, vô số
a-tăng-kỳ kiếp xưa kia, Ta cũng sinh ý nghĩ này: Loài trời
và chúng sanh, ý thú hướng về đâu? Ước nguyện điều gì?
Từ kiếp đó đến nay, Ta không thấy tâm của một ai giống
nhau. Thích Đề-hòan Nhân nên biết, chúng sanh thế gian khởi
tưởng điên đảo: vô thường chấp tưởng thường, không
phải lạc cho là tưởng lạc, không ngã chấp có tưởng ngã,
không phải tịnh chấp có tưởng tịnh, đường chánh khởi
tưởng đường tà, ác khởi tưởng phước, phước khởi tưởng
ác. Do phương tiện này nên biết, căn tánh của các loài chúng
sanh thật khó lường, tánh hạnh chúng khác biệt nhau. Nếu
tất cả chúng sanh đều cùng một tưởng, không có nhiều
tưởng, thì không thể nhận biết có chín chỗ cư trú của
chúng sanh[56], cũng khó phân biệt được chín nơi cư trú của
chúng sanh này; chỗ thần thức y tựa cũng lại khó rõ, cũng
không biết có tám địa ngục lớn, cũng khó biết nơi hướng
đến của súc sanh, không phân biệt có sự khổ của địa
ngục, không biết có sự hào quí của bốn dòng họ, không
biết con đường dẫn đến chỗ A-tu-la, cũng lại không biết
có trời Tam thập tam. Giả sử tất cả đều cùng một tâm,
sẽ như trời Quang âm. Vì chúng sanh có nhiều loại thân khác
nhau, nhiêu tưởng niệm cũng khác nhau, cho nên biết có chín
nơi cư trú của chúng sanh, chín nơi thần thức y tựaại;
biết có tám địa ngục lớn, ba đường ác, cho đến trời
Tam thập tam. Do phương tiện này mà biết tánh của các loài
chúng sanh không đồng, những điều chúng làm đều khác.”
Lúc
ấy, Thích Đề-hoàn Nhân bạch Thế Tôn:
“Kỳ
diệu thay, những điều Như Lai đã nói! Tánh và hành của
chúng sanh không đồng, tưởng niệm mỗi khác. Vì hành vi của
chúng sanh kia [769b] không đồng, nên đưa đến xanh, vàng, trắng,
đen,[57] cao thấp không đều.
“Bạch
Thế Tôn, chư thiên bận rộn nhiều việc, con muốn quay trở
về trời.”
Phật
bảo Thích Đề-hòan Nhân:
“Nên
biết đúng thời.”
Lúc
ấy Thích Đề-hòan Nhân liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ sát chân Phật, rồi lui đi.
Thích
Đề-hoàn Nhân sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ
phụng hành.
Kệ
tóm tắt
Chín
cư, thẩn, khổng tước
Trói
buộc, căn bản pháp,
Bệnh,
cúng dường, Bàn-đặc
Phạm
hạnh, tưởng đa dạng.[58]
45.
PHẨM
MÃ VƯƠNG
KINH
SỐ 1[59]
Nghe
như vậy:
Một
thời Phật trú tại Ca-lan-đà, Trúc viên, thành La-duyệt, cùng
chúng 500 đại Tỳ kheo. Lúc bấy giờ trong thành ấy có một
người Bà-la-môn tên là Ma-hê-đề-lợi, rất thông suốt các
kinh thư, kỹ thuật của ngoại đạo. Thiên văn, địa lý,
không thứ gì là không thành thạo. Những gì là pháp tắc
ứng đối trong đời, ông thảy đều thông suốt. Bà-la-môn
này có một người con gái tên là Ý Ái, cực kỳ thông minh,
nhan sắc xinh đẹp hiếm có trên đời.
Bấy
giờ, người Bà-la-môn này suy nghĩ như vầy: “Trong kinh điển
Bà-la-môn có nói rằng, có hai con người xuất hiện ở đời,
rất là khó gặp. Hai con người ấy là ai? Đó là, Như Lai,
Chí chân, Đẳng chánh giác, và Chuyển luân Thánh vương. Khi
Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở đời, bấy giờ bảy
bảo vật tự nhiên hưởng ứng. Ta nay có nữ bảo này, nhan
sắc xinh đẹp lạ lùng; là bậc nhất trong các ngọc nữ.
Nhưng nay không có Chuyển luân Thánh vương. Ta nghe nói con trai
của Chân Tịnh Vương tên là Tất-đạt có ba mươi hai tướng
tốt của bậc Đại nhân và tám mưới vẻ đẹp, đã xuất
gia học đạo. Nếu người ấy sống tại gia chắc chắn sẽ
là Chuyển luân Thánh vương. Nếu xuất gia học đạo, chắc
chắn thành Phật. Nay ta hãy đem con gái này đến cho Sa-môn
ấy.”
Rồi
người Bà-la-môn dẫn cô gái đến chỗ Thế Tôn. Trước mặt
Thế Tôn, [769c] ông thưa rằng:
“Mong
Sa-môn hãy nhận Ngọc nữ này.”
Bấy
giờ Phật bảo người Bà-la-môn:
“Thôi,
thôi, Phạm chí! Ta không cần đến con người dính trước
dục vọng này.”
Người
Bà-la-môn ba lần thưa với Phật:
“Hãy
nhận Ngọc nữ này. So sánh cả thế gian, không ai bằng đứa
con gái này.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Ta
đã thọ nhận ý của ông. Nhưng Ta đã xả bỏ gia đình, không
còn quen thói dục vọng nữa.”
Khi
ấy có một vị Tỳ kheo Trưởng lão đứng sau Như Lai, đang
cầm quạt quạt Phật. Trước lão này liền bạch Như Lai:
“Thế
Tôn! Cúi mong Như Lai thọ nhận cô gái này. Nếu Như Lai không
cần đến, hãy cho con để sai khiến.”
Thế
Tôn bèn bảo Trưởng lão này:
“Ngươi
thật là ngu hoặc, mới dám trước mặt Như Lai phun ra lời
nói xấu xa ấy. Sao ngươi lại để cho tâm ý bị buộc chặt
vào cô gái này? Phàm là nữ nhân, đều có chín pháp ác. Chín
pháp đó là gì? Một, người nữ vốn xú uế, bất tịnh.
Hai người nữ hay ác khẩu. Ba, người nữ không biết trả
ơn. Bốn, người nữ hay ganh tị. Năm, người nữ hay keo kiệt.
Sáu, người nữ hay ưa đi chơi. Bảy, người nữ có nhiều
sân hận. Tám, người nữ nói dối nhiều. Chín, người nữ
hay nói lời thiếu suy nghĩ.
“Này
các Tỳ kheo người nữ có chín pháp là các hành xấu
xa như vậy.”
Rồi
đức Thế Tôn nói bài kệ này:
Thường
vui cười, khóc lóc;
Vẻ
thân mà không thân.
Hãy
tìm phương tiện khác.
Các
ngươi chớ loạn niệm.
Tỳ
kheo Trưởng lão bạch Phật:
“Mặc
dù người nữ có chín pháp xấu xa ấy; nhưng ở đây con quán
sát cô gái này, không thấy có tỳ vết gì.”
Phật
bảo Tỳ kheo:
“Ngươi,
kẻ ngu si này, không tin điều được nói bởi chính thần
khẩu của Như Lai sao? Nay Ta sẽ nói cho ngươi biết:
“Trong
quá khứ lâu xa, trong thành Ba-la-nại có một người lái buôn
tên là Phổ Phú. Ông dẫn năm trăm khách buôn đi vào biển
tìm châu báu. Thế nhưng bên cạnh biển lớn kia có nơi vốn
là trú xứ của La-sát hay ăn thịt người.
“Khi
ấy trong biển nổi gió, thổi thuyền của họ đến bộ La-sát
kia. Các La-sát thấy bọn khách buôn đến thì vui mừng khôn
kể. Chúng ẩn hình La-sát, biến thành người nữ, xinh đẹp
không không thể sánh, rồi nói với các khách buôn: ‘Chào
mừng các bạn đến đây. Bến bảo vật vật này không khác
gì Thiên cung kia, có nhiều trân bảo đến hằng nghìn trăm
loại; có đủ các thứ đồ ăn thức uống; lại có các cô
gái xinh đẹp, [770a] thảy đều không chồng. Các bạn hãy
ở đây vui thú với chúng tôi.”
“Tỳ
kheo, nên biết, trong bọn khách buôn kia những kẻ ngu hoặc
khi thấy các cô gái liền móng tâm say đắm. Thương chủ Phổ
Phú liền suy nghĩ như vầy, ‘Trong biển lớn này là chỗ
ở của loài phi nhân, làm sao có các cô gái này ở đó? Đấy
nhất định là La-sát, không nghi ngờ gì nữa.’ Rồi vị
thương chủ bảo cô gái ấy, ‘Thôi đủ rồi, các cô em!
Chúng tôi không tham nữ sắc.’
“Thời
bấy giờ vào các ngày thứ tám, thứ mười bốn và mười
lăm mỗi nửa tháng, Mã vương bay vòng trong hư không nói lời
răn dạy này: ‘Ai muốn vượt qua hiểm nạn của biển lớn,
ta sẽ chở qua.’ Trong khi ấy vị thương chủ kia leo lên cây
cao trong thấy Mã vường ở đằng xa, nghe tiếng dội của
âm thanh, hoan hỷ phấn khới khôn xiết. Ông đi đến chỗ
Mã vương, nói rằng, ‘Chúng tôi gồm có năm trăm khách buôn
bị gió thổi đến chỗ cực kỳ hiểm nạn này. Chúng tôi
muốn vượt qua biển. Xin ngài giúp vượt qua.’ Mã vương
bảo các khách buôn, ‘Các ông hãy lại hết đây. Tôi sẽ
mang các ông đến bờ biển.’ Thương chủ Phổ Phú bèn bảo
các khách buôn, ‘Mã vương đang ở gần đây. Vúng ta tất
cả hãy đến chỗ đó để cùng vượt qua hiểm nạn của
biển.’ Bọn khach buôn nói, ‘Thôi, thôi, ông Chủ. Chúng
ta tốt hơn nên ở lại đây mà cùng hưởng vui thú. Sở dĩ
ở tại Diêm-phù đề phải cần lao khổ nhọc nên chúng ta
đi tìm chỗ sung sướng. Chốn này có đủ bảo vật trân kỳ,
cùng ngọc nữ xinh đẹp. Nên ở lại đây mà hưởng thụ
năm thứ dục lạc. Những ngày tiếp theo, chúng ta thâu thập
tài bảo hàng hóa dân rồi sẽ cùng nhau vượt qua hiểm nạn
này.’ Vị đại thương chủ nói với mọi người, ‘Thôi
đủ rồi, các người ngu si. Ở đay không có nữ nhân đâu.
Trong biển cả làm gì có chỗ ở của loài người.’ Bọn
khách buôn nói, ‘Hãy thôi đi, ông Chủ. Chúng tôi không thể
bỏ chỗ này mà đi được.’
“Bấy
giờ Thương chủ Phổ Phú bèn nói bài kệ rằng:
Chúng
ta gặp chốn hiểm
Chớ
tưởng là nam hay nữ
Đó
là bọn La-sát
Sẽ
ăn dần chúng ta.
“
– Nếu các bạn không đi theo tôi, các bạn hãy bảo bọc
lấy nhau. Nếu tôi có điều gì xúc phạm do bởi thân, miệng,
ý, mong các bạn bỏ qua cho, chớ để trong lòng.’ Các khách
buôn khi ấy cũng nói bài kể để chia tay:
Chúng
tôi gởi lời thăm
Bà
con tại Diêm-phù.
[770b]
Nay vui thú chốn này
Chưa
rõ ngày về quê.
“Vị
thương chủ đáp lại bằng bài kệ:
Các
bạn đang lâm nạn;
Mê
hoặc, không chịu về.
Như
vày, không bao lâu,
Bị
quỷ ăn thịt hết.
“Nói
kệ xong, ông bỏ đi. Đến chỗ Mã vương, ông cúi đầu lạy
dưới chân, rồi cưỡi đi. Bọn người kia sau khi từ xa thấy
thương chủ đã cưỡi Mã vương đi rồi, trong số đó hoặc
có người kêu réo, hoặc có người lớn tiếng hờn trách,
trong khi ấy. Chúa tể đại La-la-sát nói với các La-sát bằng
bài kệ này:
Đã
rơi miệng sư tử,
Thóat
ra thật quá khó.
Huống
gì vào bãi ta,
Muốn
ra, thật quá khó.
“Bấy
giờ, Chúa tể La-sát hóa làm một người con gái cực kỳ
xinh đẹp, lấy hai tay chỉ vào bụng mà nói, ‘Nếu ta chẳng
ăn thịt ngươi thì ta rốt lại không làm La-sát.’
“Trong
lúc đó, Mã vương chở thương chủ vượt qua bờ biển bên
kia; năm trăm khách buôn còn lại thảy đều bị khốn hết.
“Lúc
bấy giờ Vua Phạm-ma-đạt đang cai trị nhân dân trong thành
Ba-la-nại. Khi ấy có La-sát đuổi theo sau vị đại thương
chủ, nó rằng, ‘Chao ôi, ta mất chồng rồi.’
“Khi
thương chủ về đến nhà, La-sát hóa hình ẳm một bé trai,
đi đến trước vua Phạm-ma-đạt tâu rằng, ‘Thế gian có
điều hết sức tai quái, xin hãy trừ diệt cho sạch.’ Vua
hỏi, ‘Thế gian có điều tai quái gì mà phải diệt cho sạch?’
La-sát tâu, ‘Tôi bị chồng bỏ, mà chẳng có lỗi gì với
chồng cả.’ Phạm-ma-đạt thấy cô gái này cực kỳ xinh
đẹp lạ thường, liền nổi tâm niệm say đắm. Ông bảo
người nữ, ‘Chồng của Cô là người không có nghĩa nên
mới bỏ Cô mà đi.’ Rồi Phạm-ma-đạt khiến người đi
gọi người chồng đến, hỏi rằng, ‘Có thật ngươi bỏ
người vợ xinh đẹp này không?’ Thương chủ đáp, ‘Đó
là La-sát chứ không phải người nữ.’ Nữ La-sát lại tâu
vua, ‘Người này không có đạo nghĩa làm chồng. Nay đã bỏ
tôi, lại mắng chửi tôi là La-sát.’ Vua hỏi, ‘Nếu ngươi
thật sự không cần dùng, ta sẽ thâu nhận.’ Thương chủ
tâu, ‘Nó là La-sát. Tùy Thánh ý của Vua.’
“Bấy
giờ Phạm-ma-đạt liền mang cô gái này để trong thâm cung,
thỉnh thoảng tiếp nạp, không để cho giận hờn. Sau đó,
[770c] phi nhân La-sát bắt vua mà ăn thịt, chỉ chừa
lại xương, rồi bỏ đi.
“Tỳ
kheo, chớ nghĩ là ai khác lạ. Thương chủ lúc đó là Tỳ
kheo Xá-lợi-phất bây giờ. La-sát lúc đó nay là Tỳ kheo Trưởng
lão vậy. Mã Vương lúc nay chính là Ta. Năm trăm khách buôn
lúc bấy giờ nay là năm trăm Tỳ kheo. Bằng phương tiện này
mà biết rằng, dục là vọng tưởng bất tịnh. Vây mà ông
còn khởi lên ý tưởng say đắm sao?’
Bấy
giờ ỳ khẻo ấy liền lễ dưới chân Phật, bạch Phật rằng:
“Thế
Tôn, cúi xin nhận sự sám hối và tha thứ lỗi lầm nghiêm
trọng này của con. Từ nay trở đi, con không còn dám tái phạm.”
Tỳ
kheo này sau khi nhận lời răn dạy của Như Lai bèn một minh
ở tại chỗ nhàn tĩnh khắc kỷ tu tập. Sở dĩ thiện nam
tử siêng năng tu hành là mmuốn đạt được Phạm hạnh vô
thượng. Bấy giờ Tỳ kheo ấy thành A-la-hán.
Bấy
giờ, các Tỳ kheo sau kho những điều Phậy dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 2[60]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại Thích-kiều,[61] trong vườn trái cây Ám-bà-lê
quả,[62] cùng với chúng đại Tỳ kheo 500 vị.
Bấy
giờ Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Mục-kiền-liên, sau khi
tọa hạ ở đó, dẫn 500 Tỳ kheo đi du hóa trong nhân gian;
lần hồi đi đến trong một ngôi làng của Thích-kiều.*
Khi
ấy các Tỳ kheo mới đến và các Tỳ kheo đã trú ở đó
cùng bàn luận, cùng thăm hỏi nhau, cao giọng lớn tiếng. Thế
Tôn nghe các ỳ kheo cao giọng lớn tiếng, bèn hỏi A-nan:
“Trong
khu vườn này, tiếng của ai mà vang lớn thế? Giống như tiếng
cây, đá gãy, vỡ.”
A-nan
bạch Phật:
“Nay
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên dẫn 500 Tỳ kheo đến đây.
Các Tỳ kheo mới đến và các Tỳ kheo cũ ở đây chào hỏi
nhau nên có tiếng ồn ấy.”
Phật
bảo A-nan:
“Ông
hãy đuổi Tỳ kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi chỗ
khác ngay. Chớ có trú ở đó.”
A-nan
vâng lời Phật dạy, đi đến chỗ Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên,
bảo họ rằng:
“Thế
Tôn có dạy, các Thầy hãy mau rời khỏi đây; chớ có trú
nơi này.”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Thưa
vâng! Kính vâng lời dạy.”
Rồi
Xá-lới-phất và Mục-kiền-liên tức thì rời khỏi khu vườn
ấy, dẫn 500 Tỳ kheo bước lên đường mà đi.
Lúc
bấy giờ những người họ Thích nghe Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
bị Phật đuổi, liền đi đến chỗ Tỳ kheo Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên [771a], cúi đầu lạy dưới chân, và bạch
Xá-lợi-phất rằng:
“Các
Hiền giả, nay muốn đi đâu?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Chúng
tôi bị Như Lai đuổi, đang đi tìm chỗ an nghỉ.”
Những
người họ Thích bạch Xá-lợi-phất:
“Thưa
các Hiền giả, các ngài hãy chờ đây một lát. Chúng tôi
sẽ đến sám hối với Như Lai.”
Rồi
những người họ Thích đi đến chỗ đức Thế Tôn, cúi đầu
lạy dưới chân Phật, rồi bạch Phật rằng:
“Cúi
xin Thế Tôn tha thứ lỗi lầm cho các Tỳ kheo ở xa đến.
Cúi xin Thế Tôn tùy thời thích hợp răn dạy những vị mới
học đạo trong các Tỳ kheo từ xa đến ấy. Những người
mới vào trong Chánh pháp chưa được nhìn thấy Tôn nhan dễ
sinh tâm biến đổi thóai thất. Giống như chồi non mà không
được tưới nhuần thì không thể phát triển. Các Tỳ kheo
này cũng vậy. Họ chưa được nhìn thấy Như Lai mà phải
bỏ đi, e rằng tâm sẽ bị biến đổi thoái thất.”
Khi
ấy Phạm thiên vương biết được những điều suy nghĩ trong
tâm của Như Lai, trong khoảng khắc như lực sỹ co duổi cánh
tay, biến mất khỏi cõi Phạm thiên, hiện đến chỗ Như Lai,
cúi lạy dưới chân rồi đứng sang một bên. Bấy giờ Phạm
thiên vương bạch Phật rằng:
“Cúi
xin Thế Tôn tha thứ những lỗi lầm mà các Tỳ kheo xa đến
đã gây ra, tùy thời thích hợp mà răn dạy. Trong số đó
hoặc có vị chưa đạt đến cứu cánh, sẽ sanh tâm biến
đổi thoái thất. Những ai chưa được nhìn thấy dung mạo
của Như Lai, tâm ý bị biến đổi, họ sẽ quay trở về nghiệp
cũ. Cũng như con nghé mới sinh mà mất mẹ, nó buồn rầu,
bỏ ăn. Ở đây cũng vậy, nếu Tỳ kheo tân học mà không
được nhìn thấy Như Lai, chắc sẽ rời bỏ Chánh pháp này.”
Bấy
giờ Thế Tôn nhận lời can gián của những người họ Thích,
và thí dụ nghé con của Phạm thiên vương. Rồi Thế Tôn quay
liếc nhìn A-nan, A-nan nghĩ rằng, “Như Lai đã chấp nhận
lời can gián của mọi người và của Phạm thiên vương.”
A-nan bèn vội đi đến chỗ Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
mà nói như vầy:
“Như
Lai muốn gặp chúng Tăng. Trời và người thảy đều bày tỏ
nghĩa lý này.”
Xá-lợi-phất
bảo các Tỳ kheo:
“Các
thầy hãy thâu thập y, bát. Chúng ta cùng đi đến chỗ Thế
Tôn. Bởi vì Như Lai đã chấp nhận cho chúng ta sám hối.”
Rồi
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên dẫn 500 Tỳ kheo đi đến
chỗ Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới chân, rồi ngồi xuống
một bên.
Đức
Phật hỏi Xá-lợi-phất:
“Ta
vừa rồi đuổi Tăng Tỳ kheo đi. Ý ông nghĩ sao?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Vừa
rồi Như Lai đuổi chúng Tăng đi, con [771b] suy nghĩ như vầy,
‘Như Lai ưa sống nơi chỗ nhàn tĩnh, một mình, vô vi, không
ưa chỗ ồn ào. Do đó mà đuổi chúng Tăng đi vậy.”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Sau
đó ông suy nghĩ gì? Khi ấy Thánh chúng sẽ do ai dắt dẫn?”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Thế
Tôn, khi ấy con lại suy nghĩ, ‘Ta cũng nên sống một mình
nơi chỗ nhàn tĩnh, không ở giữa chốn ồn ào.”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Chớ
nói như vậy. Chớ có ý nghĩ như vậy, rằng ‘Ta cũng nên
sống một mình nơi chỗ nhàn tĩnh.’ Như nay, người dắt
dẫn chúng Tăng há không phải là Tỳ kheo Xá-lợi-phất và
Mục-kiền-liên chăng?”
Thế
Tôn lại hỏi Đại Mục-kiền-liên:
“Khi
Ta đuổi chúng Tăng đi, ông suy nghĩ gì?”
Mục-kiền-liên
bạch Phật:
“Khi
Như Lai đuổi chúng Tăng, con suy nghĩ như vầy, ‘Như Lai muốn
được sống một mình, vô vi, nên đuổi chúng Tăng đi vậy.”
Phật
bảo Mục-kiền-liên:
“Sau
đó ông lại có ý nghĩ gì?”
Mục-kiền-liên
bạch Phật:
“Nay
Như Lai đuổi chúng Tăng đi, chúng con cần phải nhóm họp
trở lại, không để cho tan rã.”
Phật
bảo Mục-kiền-liên:
“Lành
thay, Mục-kiền-liên! Lành thay, Mục-kiền-liên! Như điểu
ông nói. Đứng đầu trong chúngm, duy chỉ Ta và hai ông thôi.
Từ nay về sau Mục-kiền-liên hãy dạy bảo các Tỳ kheo hậu
học, để cho trong lâu dài sống nơi chốn an ổn, không để
cho nửa chừng bị rơi rụng, đọa lạc sinh tử.
“Tỳ
kheo nào thành tựu chín pháp sẽ không thể phát triển lớn
lên ngay trong hiện pháp. Những gì là chín? Thân cận tùng
sự với ác tri thức; không sự việc mà hằng ưa đi rong;
thường xuyên ôm bệnh lâu dài; ham thích cất chứa tài vật,
tham đắm y bát; phần nhiều trống rỗng, hư dối; ý loạn
không định; không có sự sáng suốt của huệ; không hiểu
rõ nghĩa lý; không tùy thời thích hợp sám hối. Này Mục-kiền-liên,
đó là chín pháp mà Tỳ kheo nào thành tựu thì trong hiện
pháp không thể tăng trưởng lớn mạnh, không được thấm
nhuần.
“Có
chín pháp mà Tỳ kheo nào thành tựu thì có thể hoàn tất
những điều cần làm. Những gì là chín? Tùng sự với thiện
tri thức; tu hành Chánh pháp, không dính mắc nghiệp tà; hằng
sống nơi chốn đơn độc, không ưa thích chỗ đông người;
ít bệnh, không hoạn; không cất chứa các thứ tài bảo, cũng
không tham đắm y bát; cần hành tinh tấn; tâm không loạn động;
nghe nghĩa lý liền hiểu rõ không cần phải nhắc lại; tùy
thời thích hợp nghe pháp mà không biết chán. Này Mục-kiền-liên,
đó là chín pháp mà Tỳ kheo nào thành tựu thì ngay trong hiện
pháp [771c] được nhiều lợi ích. Cho nên, Mục-kiền-liên,
hãy nhớ chuyên cần đi đến dạy dỗ các Tỳ kheo, khiến
họ trong lâu dài đật đến chỗ vô vi.”
Rồi
Thế Tôn nói bài kệ này:
Thường
niệm tự giác ngộ;
Chớ
đắm nhiễm phi pháp;
Tu
tập phải chánh hành;
Vượt
được nạn sinh tử.
Làm
vậy, mà được vậy,
Làm
điều này, phước này.
Chúng
sinh trôi nổi lâu,
Đoạn
trừ già, bệnh, chết;
Không
tập điều cần làm;
Rồi
lại hành phi pháp.
Người
buông lung như vậy,
Tác
thành hành hữu lậu.
Nếu
có tâm tinh cần,
Hằng
ở tại đầu tâm;
Lần
lượt dạy bảo nhau,
Sẽ
thành bậc vô lậu.
“Cho
nên, này Mục-kiền-liên, hãy cùng răn dạy các Tỳ kheo như
vậy; hãy nhớ nghĩ học như vậy.”
Rồi
Thế Tôn nói pháp cực kỳ vi diệu cho các Tỳ kheo, khiến
họ phát tâm hoan hỷ.
Lúc
bấy giờ, các Tỳ kheo sau khi nghe pháp này, trong chúng đó
có hơn sáu mươi Tỳ kheo được lậu tận, tâm giải thoát.
Các
Tỳ kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Nếu
có Tỳ kheo sống nương tựa thôn xóm mà pháp thiện tiêu diệt,
pháp ác cứ tăng trưởng; Tỳ kheo ấy nên học như vầy: ‘Ta
nay sống nơi thôn xóm mà pháp ác cứ tăng, pháp thiện giảm
dần, niệm không chuyên nhất, không thể dứt sạch các lậu,
không đạt đên nơi chốn vô vi an ổn. Những gì mà ta có
được, như áo, chăn, đồ ăn, thức uống, giường chõng,
ngọa cụ, thuốc men trị bệnh, thảy đều khó nhọc mới
thu hoạch được.’ Rồi Tỳ kheo ấy nên học như vầy: ‘Ta
nay sống trong thôn xóm này, mà pháp ác cứ tăng, pháp thiện
thì tiêu diệt. Ta cũng không phải vì áo, chăn, đồ ăn, thức
uống, giường chõng, ngọa cụ, thuốc men trị bệnh mà làm
Sa-môn. Điều mà ta mong cầu ước nguyện nay vẫn chưa có
kết quả.’ Tỳ kheo ấy nên rời bỏ thôn xóm ấy mà đi.
“Lại
nữa, hoặc có Tỳ kheo sống nương nơi thôn xóm, mà pháp thiện
tăng trưởng, pháp ác tiêu diệt. Những gì có được, như
áo, chăn, đồ ăn, thức uống, giường chõng, ngọa cụ, thuốc
men trị bệnh, thảy đều khó nhọc mới có, Tỳ kheo ấy nên
học như vầy: ‘Ta nay nương nơi thôn xóm này mà sống, thiện
pháp tăng trưởng, pháp ác [772a] tiêu diệt. Những gì có được,
như áo, chăn, đồ ăn, thức uống, giường chõng, ngọa cụ,
thuốc men trị bệnh, thảy đều khó nhọc mới có. Nhưng ta
không vì áo chăn mà xuất gia học đạo, tu tập phạm hạnh.
Điều mà ta mong cầu ước nguyện bởi học đạo ắt sẽ
thành tựu. Ta hãy trọn đời thừa sự, cúng dường pháp ấy.”
Rồi
Thế Tôn nói bài kệ này:
Áo
chăn và ẩm thực,
Giường
chõng, và chỗ nghỉ,
Chớ
móng tâm tham đắm,
Chớ
trở lại đời này.
Không
phải vì cơm áo
Mà
xuất gia học đạo.
Người
sở dĩ học đạo,
Tất
đạt thành sở nguyện.
Tỳ
kheo nên thích thời
Suốt
đời sống thôn kia;
Ở
đó bát-niết-bàn
Dứt
sạch gốc rễ mạng.
“Ở
đây, Tỳ kheo kia hoặc sống giữa nhân gian, thôn xóm nhàn
tĩnh, mà pháp thiện tăng trưởng, pháp ác tiêu diệt, Tỳ
kheo ấy nên suốt đời sống tại thôn xóm đó, không nên
rời bỏ đi xa.”
Khi
ấy A-nan bạch Thế Tôn rằng:
“Như
Lai há không thường nói, bốn đại y thức ăn mà tồn tại,
và y nơi pháp được niệm tưởng trong tâm, các pháp thiện
y tâm mà sinh. Vả, Tỳ kheo kia y thôn xóm mà sống, với tinh
cần khổ nhọc mới tìm cầu được y phục, thức ăn; vị
ấy vì sao pháp thiện phát sinh thì sống ở nơi thôn xóm đó,
chớ nên bỏ đi xa?”
Phật
bảo A-nan:
“Áo
chăn, cơm nước, giường chõng và ngọa cụ, thuốc men, đều
có ba loại. Nếu Tỳ kheo chuyên niệm sự cúng dường bốn
nhu yếu,[63] mà sở cầu không toại; thì sự y tựa ấy là
khổ. Nếu phát khởi tâm tri túc, không móng tâm tham đắm,
chư thiên và loài người thảy đều hoan hỷ. Các Tỳ kheo
hãy học điều này. Ta vì lý do đó mà nói ý nghĩa này. Cho
nên, này A-nan, Tỳ kheo hãy chuyên niệm thiểu dục, tri túc.”
Như
vậy, A-nan nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Bà-la.[64]
Bấy
giờ, đến giờ, đức Thế Tôn khóac y, cầm bát, vào thôn
Bà-la khất thực. Khi ấy Ác ma Ba-tuần suy nghĩ như vầy: ‘Nay
Sa-môn này muốn vào thôn khất thực. Ta hãy tìm cách khiến
đàn ông, đàn bà không bố thí cho.’ Rồi Ác ma Ba-tuần bảo
nhân dân khắp trong nước chớ bố thí đồ ăn cho Sa-môn Cù-đàm.
Khi
Thế Tôn vào thôn khất thực, mọi người [772b] đều không
nói năng gì với Như Lai, cũng không thừa sự cúng dường.
Như Lai khất thực xong mà không nhận được gì, bèn trở
ra khỏi thôn. Lúc bấy giờ Ác ma Ba-tuần đến chỗ Như
Lai, hỏi Phật:
“Sa-môn,
khất thực xong, có được gì không?”
Thế
Tôn đáp:
“Do
hành vi của Ma mà Ta không nhận được thức ăn. Rồi không
bao lâu ngươi cũng sẽ nhận lãnh quả báo này. Này Ma, nay
hãy nghe Ta nói.
“Trong
Hiền kiếp, có Phật hiệu là Câu-lâu-tôn Như Lai, Chí chân,
Đẳng chánh giác, Minh hành túc, Thiện thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sỹ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, hiệu
là Phật Thế Tôn, xuất hiện ở đời.[65] Lúc bấy giờ đức
Phật ấy cũng nương nơi thôn xóm này mà trú ngụ, dẫn theo
đồ chúng bốn mươi vạn người. Bấy giờ Ác ma Ba-tuần
suy nghĩ như vầy: ‘Ta nay hãy khuyến cáo mọi người trong
thôn Bà-la đừng cho Sa-môn này đồ ăn. Khi các Thánh chúng
khóac y, cầm bát vào thôn khất thực, nhưng các Tỳ kheo cuối
cũng không nhận được gì, bèn trở ra khỏi thôn.
“Lúc
bấy giờ, đức Phật kia nói với các Tỳ kheo pháp vi diệu
này, ‘Phàm có chín điều để quán sát thức ăn. Bốn lọai
thức ăn của nhân gian, và năm loại thức ăn xuất thế gian.
Bốn loại thức ăn của nhân gian là gì? Một là đoàn thực;
hai là xúc thực; ba là niệm thực; bốn là thức thực. Đó
là bốn loại thức ăn của thế gian. Năm loại thức ăn xuất
thế gian là gì? Một thức ăn bởi thiền; hai, thức ăn bởi
nguyện; ba, thức ăn bởi niệm; bốn, thức ăn bởi tám giải
thoát; năm, thức ăn bởi hỷ. Đó là năm loại thức ăn biểu
hiện cho thức ăn xuất thế gian. Các ngươi hãy chuyên niệm
xả bỏ bốn lọai thức ăn, tìm cầu phương tiện có được
năm lọai thức ăn. Như vậy, Tỳ kheo, hãy học điều này.’
Các Tỳ kheo lúc bấy giờ thọ nhận lời dạy của đức Phật
kia, tự mình khắc kỹ để hoàn thành có năm loại thức ăn.
Vì vậy, Ma Ba-tuần không thừa cơ hội được. Ba-tuần bèn
nghĩ, ‘Ta nay đã không lung lạc được Sa-môn này. Ta hãy
tìm cơ hội nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Ta hãy khuyến
khích mọi người trong thôn khiến cho chúng Sa-môn nhận được
các thứ lợi lộc trước đó chưa hề được; các lợi lộc
đã được càng tăng thêm, cho đến mức khiến lòng tham lợi
dưỡng của các Tỳ kheo kia không thể xả bỏ trong chốc lát.
Rồi ta sẽ thừa cơ hội từ nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý, [772c] được chăng?’
“Bấy
giờ, các Thanh văn của đức Phật kia, đến giờ, khóac y,
cầm bát vào thôn khất thực. Khi ấy nhân dân trong thôn Bà-la[66]
kia cung cấp Tỳ kheo các thứ áo chăn, cơm nước, giường
chõng và ngọa cụ, thuốc men, không để cho thiếu thốn. Mọi
người đến trước, nắm y tăng-già-lê, ép phải nhận
các vật bố thí.
“Đức
Phật kia lúc bấy giờ nói pháp này cho chúng Thanh văn: ‘Phàm
lợi dưỡng khiến người rơi xuống nẻo xấu, không khiến
cho đạt đến chỗ an ổn vô vi. Tỳ kheo các ngươi chớ móng
khởi ý tưởng tham đắm. Hãy chuyên niệm xả ly các thứ
lợi dưỡng. Nếu Tỳ kheo tham đắm lợi dưỡng sẽ không
thể thành tựu năm phần Pháp thân, không đầy đủ giới
đức. Cho nên, này Tỳ kheo, tam lợi dưỡng chưa sinh thì khiến
cho đừng sinh. Tâm lợi dưỡng đã sinh thì hãy nhanh chóng
trừ diệt. Như vậy, Tỳ kheo, hãy học điều này.’”
Lúc
bấy giờ Ma Ba-tuần bèn ẩn hình mà đi mất.
Bấy
giờ, các Tỳ kheo nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại nước Xá-vệ, trong vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ Thế Tôn nói với các Tỳ kheo:
“Hãy
hành tâm từ; trải rộng tâm từ. Do hành tâm từ, những gì
là tâm sân hận thù nghịch tự chúng sẽ tiêu trừ. Vì sao
vậy? Tỳ kheo, nên biết, xưa có một con quỷ cực kỳ xấu
xa hung bạo. Nó đến ngồi trên tòa của Thích Đề-hoàn Nhân.
Lúc bấy giờ các trời Tam thập tam vô cùng tức giận, rằng
‘Con quỷ này sao dám đến ngồi trên chỗ ngồi của Chúa
chúng ta?’ Khi chư thiên vừa khởi tâm sân hận, con quỷ kia
liền trở thành có dung mạo đẹp đẽ dị thường. Lúc đó,
Thích Đề-hoàn Nhân cùng với các ngọc nữ đang vui đùa tại
giảng đường Phổ tập. Bấy giờ có một thiên tử đi đến
chỗ Thích Đề-hoàn Nhân, tâu với Đế Thích rằng, ‘Cù-dực,[67]
nên biết, nay có một con quỷ đang ngồi trên tôn tòa. Chư
thiên Tam thập tam thảy đều tức giận. Khi chư thiên vừa
khởi tâm sân hận, con quỷ ấy bỗng trở nên có dung mạo
đẹp đẽ khác thường.’ Thích Đề-hòan Nhân liền nghĩ,
‘Con quỷ này tất phải là quỷ thần diệu.’ Rồi Thích
Đề-hoàn Nhân đi đến chỗ con quỷ kia, cách nhau không xa,
cùng xưng tên họ, ‘Ta là Thích Đề-hoàn Nhân, Chúa của
chư thiên.’ Khi Thích Đề-hoàn Nhân tự xưng danh tính, con
quỷ kia liền trở thành có dung mạo xấu xí, dễ ghét. Con
quỷ đó tức thì biến mất.
Tỳ
kheo, do phương tiện này mà biết, [773a] ai hành từ tâm
không rời, thì đức của người ấy là như vậy.
“Lại
nữa, Tỳ kheo, ngày xưa Ta trong bảy năm hằng tu từ tâm, trải
qua bảy kiếp thành, kiếp hoại không qua lại sinh tử. Khi
kiếp sắp hoại, sinh lên trời Quang âm. Khi kiếp sắp thành,
sinh lên trời Vô tưởng. Hoặc làm Phạm thiên thống lãnh
chư thiên, tháng lãnh mười nghìn thế giới. Lại có khi 37
lần làm Thích Đề-hoàn Nhân. Lại vố số lần làm Chuyển
luân Thánh vương. Do phương tiện này mà biết rằng, ai hành
từ tâm, đức của người ấy là như vậy.
“Lại
nữa, ai hành từ tâm, khi thân hoại mạng chung, sinh lên cõi
trời, rời xa ba ác đạo, tránh khỏi tám nạn.
“Lại
nữa, ai hành từ tâm thì sinh vào nước trung chánh.
“Lại
nữa, ai hành từ tâm, có dung mạo xinh đẹp, các căn không
khuyết, hình thể toàn vẹn.
“Lại
nữa, ai hành từ tâm, tự thân được thấy Như Lai, thừa
sự chư Phật, không thích sống tại gia, muốn được xuất
gia học đạo, khóac ba pháp y, cạo bỏ râu tóc, tu hành pháp
sa-môn, tu Phạm hạnh vô thượng.
“Tỳ
kheo, nên biết, cũng như kim cang mà người mang lấy ăn, trọn
không bao giờ tiêu hóa mà phải xổ ra. Người hành từ tâm
cũng vậy. Nếu Như Lai xuất thế, người đó sẽ hành đạo,
tu phạm hạnh vô thượng., cho đến, biết như thật rằng
sinh đã dứt, phạm hạnh đã lập, điều cần làm đã làm
xong, không cần còn tái sinh đời sau.”
Lúc
bấy giờ Tôn giả A-nan bạch Phật rằng:
“Thế
Tôn, giả sử khi Như Lai không xuất thế, mà thiện nam tử
kia không thích sống tại gia, sẽ phải quy hướng về đâu?”
Phật
bảo A-nan:
“Nếu
khi Như Lai không xuất thế, mà thiện nam tử kia không thích
sống tại gia, tự mình cạo bỏ râu tóc, sống nỡi chỗ nhàn
tĩnh, tự khắc kỷ tu tập, tức ngay ở nơi đó mà các lậu
diệt tận, thành vô lậu hành.”
A-nan
bạch Phật:
“Thế
Tôn, người tự mình tu phạm hạnh, hành theo ba thừa kia sẽ
quy hướng về đâu?”
Phật
bảo A-nan:
“Như
điều ông nói, Ta hằng thuyết hành của ba thừa. Chư Phật
trong ba đời, quá khứ và vị lai, cũng thuyết hành của ba
thừa.
“A-nan,
nên biết, có một thời, các loài chúng sinh có dung mạo và
thọ mạng càng lúc càng giảm thiểu, thân hình gầy yếu,
không co uy thần, nhiều sân, nộ, tật đố, nhuế, si, gian
ngụy, huyễn hoặc, sở hành không chân chánh. Hoặc có chúng
sinh có các căn linh lợi, nhanh nhẹn, chúng tranh giành lẫn
nhau, đấu tranh kiện tụng nhau; hoặc chúng nắm tay, [773b]
hoặc lấy ngói, đá, dao, gậy, tàn hại nhau. Các loài chúng
sinh vào lúc bấy giờ khi cầm đến cọng cỏ, cỏ liền biến
thành đao kiếm, cắt đứt mạng căn kẻ khác. Trong số đó,
chúng sinh nào hành từ tâm, không có sân nộ, thấy sự biến
quái này, trong lòng kinh sợ, thảy cùng nhau bỏ chạy, tránh
xa chỗn hung ác này. Trong chốn núi non, chúng tự nhiên cạo
bỏ râu tóc, khóac ba pháp y, tu phạm hạnh vô thượng, tự
mình khắc kỷ tu tập, tâm được giải thoát khỏi các lậu
mà nhập cảnh giới vô lậu. Mỗi mỗi nói với nhau rằng,
‘Chúng ta đã thắng kẻ thù.’ A-nan, nên biết, những người
đó được nói là tối thắng.”
A-nan
bạch Phật:
“Những
vị ấy thuộc vào bộ nào, Thanh văn bộ, Bích-chi-phật bộ
hay Phật bộ?”
Phật
bảo A-nan:
“Những
vị ấy cần được nói là thuộc Bích-chi bộ. Vì sao vậy?
Những người ấy đều do tạo các công đức, hành các gốc
rễ thiện, tu thanh tịnh bốn đế, phân biệt các pháp. Phàm
hành pháp thiện ở đây là hành từ tâm vậy. Vì sao vậy?
Bước đi nhân ái, hành từ tâm, đức ấy rộng lớn. Ngày
xưa Ta khóac khôi giáp nhân từ này mà hàng phục Ma và quan
thuộc của nó, ngồi dưới gốc thọ vương, thành Đạo vô
thượng. Do phương tiện này mà biết từ là tối đệ nhất;
từ là pháp tối thắng. A-nan, nên biết, do đó mà nói ai tối
thắng hành từ tâm, đức của người ấy là như vậy, không
thể ước tính. Vậy hãy nên tầm cầu phương tiện hành từ
tâm. Như vậy, A-nan, hãy học điều này.”
Bấy
giờ A nan nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6[68]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phạt ở tại nước Xá-về, trontg vườn Cấp Cô Độc,
rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất, vào lúc sáng sớm, rời tĩnh
thất, đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lạy dưới chân, rồi
ngồi xuống một bên. Khi ấy Phật nói với Xá-lợi-phất:
“Ông
hôm nay có các căn thanh tịnh, nhan sắc khác người. Ông đang
an trú trong tam-muội nào?”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn, con hằng an trú Không tam-muội.”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Lành
thay, lành thay, như Xá-lợi-phất mới có thể an trú nơi Không
tam-muội. Vì sao vậy? Trong các tam-muội, Không[69] tam-muội
là tối thượng đệ nhất. Tỳ kheo an trú Không tam-muội không
chấp trước ngã, nhân, thọ mạng, cũng không thấy có chúng
sinh, cũng không thấy có bản mạt của các hành. Do không thấy
có, nên không tạo gốc rễ của hành. Do không có [773c]
hành nên không còn tái sinh đời sau. Do không còn tái sinh đời
sau nên không chòn thọ nhận quả báo khổ lạc. Xá-lợi-phất,
nên biết, ngày xưa khi Ta chưa hành Đạo, ngồi dưới gốc
thọ vương, suy nghĩ như vầy: Các loài chúng sinh này do không
nắm
bắt được pháp gì mà phải trôi lăn trong sinh tử, không
được giải thoát? Khi ấy, Ta lại nghĩ, vì không có Không
tam-muội nên phải trôi nổi sinh tử, không được giải thoát.
Có Không tam-muội này, nhưng chúng sinh chưa đạt được, khiến
chúng sinh khởi tưởng niệm đắm trước. Do khởi tưởng
thế gian nên thọ nhận phần sinh tử. Nếu đạt được Không
tam-muội này, không có gì là sở nguyện, do đó đạt được
Vô nguyện tam-muội. Do đạt được Vô nguyện tam-muội, không
mong cầu chết nơi này sinh về nơi kia; hoàn toàn không có
tưởng niệm. Bấy giời hành giả ấy lại đạt được và
an trú trong Vô tướng tam-muội.
“Các
loài chúng sanh này do không đạt được ba tam-muội này nên
trôi nổi sinh tử.
“Sau
khi quán sát các pháp, Ta liền đắc Không tam-muội. Sau khi
đắc Khong tam-muội, Ta liền thành A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ
đề. Ta lúc bấy giờ do đạt được Không tam-muội, bảy
ngảy bảy đêm quán sát cây Đạo thọ, mắt không hề nháy.
“Xá-lợi-phất,
do phương tiện này mà biết rằng Không tam-muội là tối đệ
nhất trong các tam-muội. Vua trong các tam-muội là Không tam-muội
vậy. Cho nên, xá-lợi-phất, hãy tìm cầu phương tiện hoàn
thành Không tam-muội. Như vậy, Xá-lợi-phất, hãy học điều
này.”
Bấy
giờ Xá-lợi-phất nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật trú tại Ca-lan-đà Trúc viên, thành La-duyệt, cùng
với chúng đại tỳ kheo 2500 vị.
Lúc
bấy giờ trong thành La-duyệt có một trưởng giả tên là
Thi-lợi-quật, có nhiều của cải, nhiều bảo vật, vàng,
bạc, châu báu, xa cừ, mã não, không sao kể xiết. Nhưng ông
lơ là Phật pháp, chỉ phụng sự ngoại đạo là Ni-kiền tử.
Quốc vương, đại thần, thảy đều quen biết ông.
Lúc
bấy giờ, các hàng tại gia và xuất gia ngoại đạo và các
đệ tử xuất gia và tại giả của Ni-kiền Tử tự nói lời
phỉ báng rằng, có ngã, và chấp có thân của ngã. Chúng cùng
với các nhóm sáu tôn sư ngoại đạo tập họp tại một nơi,
bàn luận như vầy:
“Nay
Sa-môn Cù-đàm không việc gì mà không biết. Ông ấy có Nhất
thiết trí. Song, chúng ta không được lợi dưỡng, mà Sa-môn
ấy lại có nhiều lợi dưỡng. Phải tìm phương tiện không
cho ông ấy không được lợi dưỡng. Chúng ta hãy đến [774a]
nhà Thi-lợi-quật, khiến trưởng giả ấy bày kế sách.”
Rồi
ngoại đạo xuất gia, Ni-kiền Tử, cùng với sáu Tôn sư, đi
đến nhà trưởng giả Thi-lợi-quật, nói với trưởng giả
này rằng:
“Đại
gia nên biết, ông là người được sinh bởi Phạm thi