BẢY
PHÁP
39.
PHẨM ĐẲNG PHÁP
KINH SỐ
1[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo
thành tựu bảy pháp, ở trong hiện tại thọ lạc vô cùng,
muốn dứt sạch các lậu, cũng có thể được. Những gì là
bảy pháp? Ở đây, Tỳ-kheo biết pháp, biết nghĩa, biết thời,
lại có thể tự biết, lại có thể biết đủ, lại biết
và đại chúng, quán sát người.[2] Đó gọi là bảy pháp.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo biết pháp? ỳ-kheo biết pháp là chỉ Khế
kinh, Kỳ-dạ, Kệ, Nhân duyên, Thí dụ, Bổn mạt, Quảng diễn,
Phương đẳng, Vị tằng hữu, Quảng phổ, Thọ quyết, Sanh
kinh. Tỳ-kheo không biết Pháp, không biết mười hai bộ kinh,
đó chẳng phải là Tỳ-kheo. Vì Tỳ-kheo này có thể hiểu
rõ pháp nên gọi là biết pháp. Như vậy, Tỳ-kheo hiểu
rõ pháp.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo biết nghĩa? Ở đây, Tỳ-kheo biết ý thú
của Như Lai, hiểu rõ nghĩa sâu, không có điều gì nghi
ngờ. Tỳ-kheo không hiểu nghĩa, đó chẳng phải là Tỳ-kheo.
Vì Tỳ-kheo này có thể biết nghĩa sâu nên gọi là hiểu nghĩa.
Như vậy, Tỳ-kheo có thể phân biệt nghĩa.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo biết thời nghi? Ở đây, Tỳ-kheo biết thời
tiết khi nên tu quán thì tu quán, khi nên tu chỉ thì tu chỉ,
nên im lặng biết im lặng, nên đi biết đi, nên tụng biết
tụng, nên trao người trước liền trao cho người trước,
nên nói biết nói. Tỳ-kheo không biết những việc ấy, không
biết thời thích hợp tu chỉ, tu quán, tiến, dừng, đó chẳng
phải là Tỳ-kheo. Tỳ-kheo biết thời tiết ấy thì không
để mất thời cơ thích hợp, đó gọi là biết tuỳ thời
thích hợp. Tỳ-kheo như vậy là biết thời nghi.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo có thể sửa mình? Ở đây, Tỳ-kheo có thể
tự biết mình, nay ta có sự thấy, nghe, nghĩ, biết này, có
trí huệ như vậy,[3] đi, bước, tiến, dừng thường theo chánh
pháp. Tỳ-kheo không thể tự biết thích ứng theo trí huệ
mà ra, vào, đi, đến, đó chẳng phải là Tỳ-kheo. Vì Tỳ-kheo
này có thể tự tu, tiến, dừng đều thích hợp, đây gọi
là tự biết tu dưỡng. Đó gọi là Tỳ-kheo tự biết mình.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo biết vừa đủ? Ở đây, Tỳ-kheo có thể
tự điều hòa việc ngủ nghỉ, tỉnh thức, ngồi, nằm, kinh
hành, cách tiến dừng, đều có thể biết dừng đúng lúc.
Tỳ-kheo không thể biết những việc ấy thì chẳng phải là
Tỳ-kheo. Vì Tỳ-kheo này hiểu rõ những việc này nên gọi
là biết đủ. Tỳ-kheo như vậy gọi là Tỳ-kheo biết vừa
đủ.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo biết vào đại chúng? Ở đây, Tỳ-kheo phân
biệt đại chúng: Đây là dòng sát-lợi, đây là chúng bà-la-môn,
đây là chúng trưởng giả, đây là [729a] chúng sa-môn. Ta nên
dùng pháp này mới thích hợp với chúng ấy, nên nói hay nên
im lặng, tất cả đều biết. Tỳ-kheo không biết vào chúng,
đó chẳng phải là Tỳ-kheo. Vì Tỳ-kheo ấy biết vào đại
chúng nên gọi là biết vào chúng. Đó gọi là Tỳ-kheo biết
vào đại chúng.
“Sao
gọi là Tỳ-kheo biết căn nguyên mọi người? Tỳ-kheo
nên biết có hai hạng người. Những gì là hai? Hoặc có một
người muốn đến già-lam để thân cận Tỳ-kheo; người thứ
hai không thích đến đó gặp gỡ Tỳ-kheo. Người muốn đến
trong Tăng viên kia, thân cận Tỳ-kheo, là người tối thượng.
Này Tỳ-kheo, lại có hai hạng người. Những gì là hai? Một
người, tuy đến chỗ Tỳ-kheo song không tùy thích hợp mà
hỏi; người thứ hai cũng không đến trong chùa gặp Tỳ-kheo.
Người đến chùa kia là hơn hết. Này Tỳ-kheo, lại có hai
hạng người. Những gì là hai? Một người, đến chỗ Tỳ-kheo
tỳ thích hợp mà hỏi; người thứ hai, đến chỗ Tỳ-kheo
nhưng không hỏi điều thích hợp. Ngưòi đến chùa kia là
đệ nhất tối tôn, vượt lên trên người kia. Này Tỳ-kheo,
lại có hai hạng người. Những gì là hai? Một người đến
chỗ Tỳ-kheo hết lòng nghe pháp; người thứ hai đến chỗ
Tỳ-kheo, nhưng không hết lòng nghe pháp. Người (hết lòng
nghe pháp) kia là ngưòi hơn hết. Này Tỳ-kheo, lại có hai hạng
người. Những gì là hai? Có một người, có thể quán sát
pháp, thọ trì, đọc tụng; người thứ hai, họ không thể
thọ trì, đọc tụng. Người có thể thọ trì kia, là đệ
nhất tối thượng. Này Tỳ-kheo, lại có hai hạng người.
Những gì là hai? Có một người nghe pháp liền hiểu nghĩa;
người thứ hai, nghe pháp mà không hiểu nghĩa. Người (nghe
pháp mà hiểu nghĩa) này là tối thượng. Này Tỳ-kheo, lại
có hai hạng người. Những gì là hai? Có một người, nghe
pháp (và hiểu nghĩa) liền thành tựu pháp tùy pháp; người
thứ hai, nghe pháp (và hiểu nghãi) nhưng không thành tựu pháp
tùy pháp. Người nghe pháp (hiểu nghĩa) kia, thành tựu pháp
tùy pháp. Người này là tối tôn đệ nhất. Này Tỳ-kheo,
lại có hai người. Những gì là hai? Một người, nghe pháp
có thể kham nhẫn tu hành, phân biệt hộ trì chánh pháp; người
thứ hai không thể kham nhẫn tu hành pháp kia. Người có thể
kham nhẫn tu hành pháp kia, là tối tôn đệ nhất. Giống như
bò có lạc, do lạc có tô, do tô có đề hồ là tối tôn đệ
nhất không gì bằng. Ở đây cũng vậy, nếu người nào có
thể tu hành thì người này là tối đệ nhất, không ai sánh
kịp. Đó gọi là Tỳ-kheo quán sát căn người. Nếu có người
nào không rõ điều này thì chẳng phải là Tỳ-kheo. Vì Tỳ-kheo
kia nghe pháp, phân biệt nghĩa nó, đó là tối thượng. Tỳ-kheo
như vậy là biết quán sát căn ngưòi.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào thành tựu bảy pháp này, ngay trong hiện pháp
an lạc vô vi, ý muốn đoạn trừ lậu cũng không khó khăn.
Cho nên, Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu bảy
pháp này.
“Tỳ-kheo,
hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 2[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn cây Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Cây
Trú độ[5] trên trời Tam thập tam có gốc dọc ngang năm mươi
do tuần, cao một trăm do tuần, bóng râm che đông, tây, nam,
bắc năm mươi do tuần. Trời Tam thập tam vui chơi với
nhau ở đó bốn tháng. Tỳ-kheo, nên biết, đến một lúc hoa
lá cây Trú độ ấy úa vàng, rơi rụng trên mặt đất. Chư
thiên bấy giờ thấy điềm ứng này, tất cả đều hoan hỷ,
tình vui phát sanh: ‘Cây này không bao lâu sẽ sinh ra hoa đầy
trở lại.’
“Tỳ-kheo,
nên biết, đến một lúc hoa của cây này tất cả đều rơi
rụng xuống đất. Bấy giờ, trời Tam thập tam lại càng hoan
hỷ tự bảo với nhau rằng: ‘Cây này không bao lâu sẽ trở
thành màu tro.’
“Tỳ-kheo,
nên biết, qua một thời gian nữa cây ấy liền thành màu tro.
Lúc này, Trời Tam thập tam thấy cây này biến thành màu tro
rồi, lòng rất vui mừng tự bảo với nhau rằng: ‘Nay, cây
này đã biến màu tro, không lâu sẽ nẩy chồi.’[6]
Bấy
giờ, Trời Tam thập tam thấy cây Trú độ này đã nẩy chồi,
không bao lâu nữa sẽ sanh nụ. Bấy giờ, trời Tam thập tam
thấy rồi, chư thiên lại hoan hỷ: ‘Hôm nay cây này
đã sanh nụ, không bao lâu lại sẽ nở đầy.’
“Tỳ-kheo,
nên biết, Trời Tam thập tam thấy rồi, cây này từ từ nở
đầy, lòng chư thiên đều hoan hỷ: ‘Cây này đã dần dần
nở đầy, không lâu sẽ đính đầy hoa.’
“Tỳ-kheo,
nên biết, đến một lúc cây ấy nở đầy khắp, lòng chư
thiên tất cả đều hoan hỷ: ‘Hôm nay, cây này nở [729c]
đầy hoa.’ Bấy giờ, hương của nó bay ngược gió trong vòng
trăm do tuần, không đâu không nghe mùi thơm. Bấy giờ, chư
thiên cùng nhau vui chơi ở đó bốn tháng, vui không thể nói
hết.
“Ở
đây cũng vậy, đệ tử Hiền Thánh khi phát ý muốn xuất
gia học đạo, cũng giống như cây này bắt đầu muốn úa
rụng lá.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền Thánh xả bỏ vợ con, tài sản, với lòng
tin kiên cố cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo, giống như
lá cây kia rụng xuống đất.
“Tỳ-kheo,
nên biết, đệ tử Hiền Thánh không tưởng tham dục, trừ
pháp bất thiện, có hỷ lạc do viễn ly sanh, chứng và an trú
sơ thiền,[7] như cây Trú độ thành màu tro.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền Thánh diệt tầm tứ, nội tĩnh, chuyên
chú nhất tâm, không tầm, không tứ, có hỷ lạc do dịnh sanh,
chứng và an trú nhị thiền, như cây kia nẩy chồi.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền thánh, ly hỷ, an trú xả,tự thân giác
tri lạc, điều mà chư Hiền Thánh nói, xả, niệm, an trú lạc,
chứng và an trú tam thiền, giống như cây kia sanh nụ.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền Thánh diệt khổ lạc, ưu hỷ trước đó
đã trừ, không khổ, không lạc, xả, niệm thanh tịnh, chứng
và an trú tứ thiền, giống như cây kia dần dần mở đầy.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền Thánh dứt sạch hữu lậu, thành vô lậu,
tâm giải thoát, huệ giải thoát, ở trong hiện pháp tự thân
chứng ngộ, như thật biết rằng, sanh tử đã dứt, phạm
hạnh đã lập, việc cần làm đã xong, không còn tái sinh nữa,
điều đó giống như cây kia nở hoa đầy khắp.
“Bấy
giờ, hương giới đức của đệ tử Hiền Thánh nghe khắp
bốn phương, không ai không ca ngợi. Trong bốn tháng tự hưởng
vui thích, tâm an trú tứ thiền, bản hạnh đầy đủ. Cho nên,
các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện thành tựu hương giới
đức.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỔ 3[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
ta sẽ nói bảy dụ về nước. Con người cũng như vậy. Hãy
lắng nghe! Lắng nghe và suy nghĩ kỹ!”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, Thế Tôn.”
Thế
Tôn bảo:
“Sao
gọi là bảy dụ về nước mà tựa người? Giống như có
người chìm ở đáy nước; lại có người tạm ngoi khỏi
nước rồi lại chìm xuống; có người nổi lên khỏi nước
rồi nhìn; lại có người [730a] nổi lên khỏi nước rồi
trụ; có người bơi đi trong nước; có người nổi lên khỏi
nước rồi muốn đến bờ kia; lại có người đã đến bờ
kia. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là bảy sự thí dụ về
nước xuất hiện ở đời.
“Sao
gọi là người chìm dưới đáy nước không nổi lên được?
Ở đây, hoặc có người mà toàn thể đầy khắp pháp bất
thiện, trải qua nhiều kiếp, không thể chữa trị. Đó gọi
là người chìm dưới đáy nước.
“Sao
gọi là người nào nổi lên khỏi nước rồi chìm lại? Hoặc
có người mà tín căn dần mai một, tuy có pháp lành nhưng
không chắc chắn. Thân, miệng, ý hành thiện, nhưng sau đó
thân, miệng, ý lại hành pháp bất thiện, thân hoại mạng
chung sanh vào địa ngục. Đó gọi là người ra khỏi nước
rồi chìm lại.
“Sao
gọi là người nổi lên khỏi nước rồi nhìn ? Ở đây, hoặc
có người có tín thiện căn, nhưng hành vi của thân, khẩu,
ý lại không làm tăng trưởng pháp này, tự thủ mà đứng
yên, thân hoại mạng chung sanh vào A-tu-la. Đó gọi là người
ra khỏi nước mà nhìn.[9]
“Sao
gọi là người ngoi lên khỏi nước rồi trụ? Ở đây, hoặc
có người có lòng tin, tinh tấn dứt ba kết sử,[10] không
thối chuyển nữa, ắt đạt cứu cánh, thành đạo Vô thượng.
Đó gọi là người ngoi lên khỏi nước rồi trụ.[11]
“Sao
gọi là người muốn lội khỏi nước? Ở đây, hoặc có người
tín căn tinh tấn, lòng luôn hổ thẹn, vơi mỏng ba kết sử
dâm, nộ, si, trở lại đời này một lần nữa rồi đoạn
trừ gốc khổ.[12] Đó gọi là người định vượt khỏi nước.
“Sao
gọi là người muốn đến bờ kia? Ở đây, hoặc có người
tín căn tinh tấn, dứt sạch năm hạ phần kết sử, thành
A-na-hàm, không lại thế gian này nữa mà nhập Niết-bàn trên
đó.[13] Đó gọi là người muốn đến bờ kia.
“Sao
gọi là người đã đến bờ kia? Ở đây, hoặc có người
tín căn tinh tấn, mà có lòng hổ thẹn, dứt sạch hữu lậu
thành vô lậu, ở trong hiện pháp, tự thân chứng ngộ, như
thật biết rằng, sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc
cần làm đã xong, không còn tái sinh nữa, ở trong Niết-bàn
giới vô dư mà Bát-niết-bàn. Đó gọi là người đã vượt
qua bờ kia.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là có bảy dụ về nước và người, mà
Ta vừa nói cho các ngươi. Điều mà chư Phật Thế Tôn cần
làm để tiếp độ mọi người, nay Ta đã làm xong. Các ngươi
hãy ở nơi yên tĩnh, hoặc dưới gốc cây, hãy nghĩ đến
việc toạ thiền, chớ sinh biếng nhác. Đó là lời dạy của
Ta.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật [730b] dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 4[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thánh
vương cai trị nước xa xôi,[15] nếu thành tựu bảy pháp,
sẽ không bị kẻ thù, giặc cướp chiếm giữ.
“Những
gì là bảy? Thành quách ấy rất cao, được sửa sang tề chỉnh.
Đó gọi là vị vua kia thành tựu pháp thứ nhất. Lại nữa,
cổng thành kia chắc chắn. Đó gọi là thành kia thành tựu
pháp thứ hai. Lại nữa, ngoài thành kia có hào rất sâu rộng.
Đó gọi là thành kia thành tựu pháp thứ ba. Lại nữa, trong
thành kia nhiều thóc gạo, kho lẫm chứa đầy ắp. Đó gọi
là thành kia thành tựu pháp thứ tư. Lại nữa, thành kia nhiều
củi, cỏ. Đó gọi là thành kia thành tựu pháp thứ năm. Lại
nữa, thành kia nhiều cụ khí, gậy gộc, đầy đủ các chiến
cụ. Đó gọi là thành kia thành tựu pháp thứ sáu. Lại nữa,
chủ thành kia rất thông minh, tài cao, dự biết tình người,
đáng dùng roi thì dùng roi, đáng sửa trị thì sửa trị. Đó
gọi là thành kia thành tựu pháp thứ bảy, cảnh ngoài không
thể đến xâm chiếm. Đó gọi là, này các Tỳ-kheo, chủ nước
thành kia thành tựu bảy pháp, nên người ngoài không thể
tiếp cận quấy nhiễu.
“Ở
đây, Tỳ-kheo cũng lại như vậy, nếu thành tựu bảy pháp
thì tệ ma Ba-tuần không thể tùy tiện được. Những gì là
bảy? Ở đây, Tỳ-kheo thành tựu giới luật, đầy đủ oai
nghi, phạm luật nhỏ còn sợ huống gì là lớn. Đó gọi là
Tỳ-kheo thành tựu pháp thứ nhất này, tệ ác ma không thể
tùy tiện được. Giống như thành kia cao rộng, rất nghiêm
nhặt, không thể phá hoại.
“Lại
nữa, này Tỳ-kheo, khi mắt thấy sắc không khởi tưởng đắm,
cũng không khởi niệm, nhãn căn đầy đủ, thủ hộ nhãn căn
không để khuyết thủng, rò rỉ;[16] tai nghe tiếng, mũi ngửi
mùi, lưỡi niếm vị, thân xúc chạm, ý đối với pháp cũng
lại như vậy, cũng không khởi tưởng, đầy đủ ý căn, mà
không loạn tưởng, thủ hộ đầy đủ ý căn. Đó gọi là
Tỳ-kheo thành tựu pháp thứ hai này, tệ ma Ba-tuần không thể
tùy tiện; như thành quách kia cửa ngõ chắc chắn.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo nghe nhiều không quên, thường nhớ nghĩ tư duy
chánh pháp đạo giáo, những pháp đã nghe qua trước kia thảy
đều thông suốt. Đó gọi là Tỳ-kheo thành tựu pháp thứ
ba này, tệ ma Ba-tuần không thể tùy tiện; như bên ngoài thành
quách kia có hào rất sâu và rộng.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo có nhiều phương tiện,[17] những [730c] pháp
mà khoảng đầu thiện xảo, giữa thiện xảo, cuối cũng thiện
xảo, thanh tịnh đầy đủ, hiển hiện phạm hạnh. Đó gọi
là Tỳ-kheo thành tựu pháp thứ tư này; như thành quách kia,
nhiều lúa gạo, giặc ngoài không dám đến xâm lăng.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo tư duy về bốn pháp tăng thượng tâm[18], cũng
không rỉ thóat.[19] Đó gọi là Tỳ-kheo thành tựu pháp thứ
năm này, tệ ma Ba-tuần không thể tùy tiện; như thành quách
kia, nhiều củi, cỏ, người bên ngoài không thể đến quấy
nhiễu.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo đắc bốn thần túc, thực hiện không khó. Đó
gọi là Tỳ-kheo thành tựu pháp thứ sáu này, tệ ma Ba-tuần
không thể tùy tiện; như trong thành kia đầy đủ vũ
khí.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo có thể phân biệt đầy đủ ấm, nhập, giới,
cũng lại phân biệt pháp do mười hai nhân duyên phát sanh.
Đó gọi là Tỳ-kheo thành tựu pháp thứ bảy này, tệ ma Ba-tuần
không thể tùy tiện; như chủ thành quách kia thông minh, tài
cao, đáng bắt thì bắt, đáng thả thì thả.
“Nay
đây, Tỳ-kheo cũng lại như vậy, biết phân biệt đầy đủ
các bệnh uẩn, giới, xứ. [20] Tỳ-kheo thành tựu bảy pháp
này, tệ ma Ba-tuần không thể tùy tiện. Cho nên, các Tỳ-kheo,
hãy tìm cầu phương tiện phân biệt uẩn, giới, xứ và mười
hai nhân duyên, đừng để mất thứ lớp, liền vượt cảnh
Ma, không có ở trong ấy nữa.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về bảy trú xứ của thức.[21] Các ngươi hãy lắng
nghe và suy nghĩ kỹ.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, Thế Tôn!”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vì
sao được gọi là bảy trú xứ của thức? Chúng sanh với
nhiều loại thân, và nhiều loại tưởng khác nhau, như người
và trời.[22] Lại nữa, chúng sanh hoặc nhiều lọai thân nhưng
chỉ có một tưởng, đó là trời Phạm-ca-di mới xuất
hiện ở thế gian.[23] Lại nữa, chúng sanh một thân nhưng
nhiều tưởng, đó là trời Quang âm. Lại nữa, chúng sanh một
thân, một tưởng, đó là trời Biến tịnh. Lại nữa, chúng
sanh vô lượng không, là trời Không xứ. Lại nữa, chúng sanh
vô lượng thức, là trời Thức xứ. Lại nữa, chúng sanh vô
hữu xứ, là trời Vô sở hữu xứ. Này Tỳ-kheo, đó gọi
là bảy nơi thức trú. Nay [731a] Ta đã nói bảy thức xứ.
“Những
điều mà chư Phật Thế Tôn cần làm để tiếp độ mọi
người, nay Ta đã làm xong. Các ngươi hãy đến dưới bóng
cây vắng vẻ, hãy khéo tu hạnh này, chớ có lười biếng.
Đó là những lời dạy của Ta.”
Các
Tỳ-kheo, sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Vào
lúc bấy giờ, Tôn giả Quân-đầu[25] thân mang bịnh nặng,
nằm liệt giường, không thể tự ngồi dậy. Khi ấy, Quân-đầu
nghĩ: “Hôm nay ta không được Thế Tôn Như Lai rủ lòng thương
xót. Ta đang gặp bệnh nặng, không còn sống bao lâu nữa.
Thuốc thang không tiếp. Lại nghe Thế Tôn nói: ‘Còn một
người chưa độ, Ta quyết không bỏ.’ Song nay chỉ một mình
ta bị bỏ rơi. Còn khổ nào hơn!”
Bấy
giờ, Thế Tôn dùng thiên nhĩ nghe được lời oán trách của
Tỳ-kheo Quân-đầu. Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi hãy tụ họp đi đến chỗ Tỳ-kheo Quân-đầu, hỏi
thăm bệnh Tỳ-kheo ấy.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, Thế Tôn!”
Rồi
Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo đi lần đến phòng Tỳ-kheo Quân-đầu.
Quân-đầu từ xa nhìn thấy Như Lai đến, liền tự gieo mình
xuống đất. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Quân-đầu:
“Nay
ngươi mang bệnh rất là nặng, không cần xuống giường. Ta
tự có chỗ ngồi.”
Thế
Tôn bảo Quân-đầu:
“Bệnh
của ngươi tăng hay giảm, hay không tăng giảm? Ngươi có thể
nghe Ta dạy được không?”
Tỳ-kheo
Quân-đầu bạch Phật:
“Bệnh
hôm nay của đệ tử rất nặng, chỉ có tăng, không có giảm.
Thuốc uống không thấm vào đâu.”
Thế
Tôn hỏi:
“Người
chăm sóc bệnh là ai vậy?”
Quân-đầu
bạch:
“Các
vị phạm hạnh đến, gặp thì chăm sóc.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Quân-đầu:
“Nay
ngươi có thể nói cho Ta nghe bảy giác chi không?”
Quân-đầu
nêu tên bảy giác chi ba lần:
“Nay
con có thể ở trước Như Lai nói pháp bảy giác chi.”
Thế
Tôn bảo:
“Nếu
có thể nói cho Như Lai nghe thì cứ nói.”
Quân-đầu
bạch Phật:
“Bảy
giác chi. Những gì là bảy? Như Lai đã nói, đó là niệm giác
chi, pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an* giác
chi, định giác chi, xả* giác chi. Bạch Thế Tôn, nói là có
bảy giác chi này, chính là như vậy.”
Sau
khi Tôn giả Quân-đầu nói những lời này xong, mọi bệnh
tật đều được trừ khỏi, không còn khổ não.[26] Bấy giờ,
Quân-đầu bạch Thế Tôn:
“Hiệu
nghiệm nhất trong các thứ thuốc, đó chính là pháp bảy
giác chi này. Muốn nói là thuốc hay nhất không qua bảy giác
chi này. Con nhờ tư duy về bảy giác chi mà bệnh gì cũng khỏi
cả.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi thọ trì pháp bảy giác chi này, khéo nhớ phúng tụng,
chớ có hồ nghi đối với Phật, Pháp, Tăng. Mọi bệnh họan
của chúng sanh kia được trừ khỏi. Vì sao vậy? Vì bảy giác
chi này rất khó lường hết, nhưng nhờ đó tất cả các pháp
đều được thấu rõ, hết thảy các pháp đều được soi
sáng. Cũng như thuốc hay chữa trị hết thảy các bệnh. Giống
như cam lồ ăn không biết chán. Nếu không được bảy giác
chi này, các loài chúng sanh sẽ trôi lăn sanh tử. Các Tỳ-kheo,
hãy tìm cầu phương tiện tu bảy giác chi.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo, sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Khi
Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở thế gian, liền có
bảy báu xuất hiện thế gian. Bảy báu đó là bánh xe báu,
voi báu, ngựa báu, minh châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu,
điển binh báu. Đó là nói khi Chuyển luân Thánh vương xuất
hiện ở đời thì bảy báu cũng xuất hiện, truyền khắp
ở thế gian.
“Khi
Như Lai xuất hiện ở thế gian thì có bảy báu giác chi xuất
hiện thế gian. Những gì là bảy? Niệm giác chi, pháp giác
chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an* giác chi, định
giác chi, xả* giác chi xuất hiện ở thế gian. Khi Như Lai xuất
hiện ở thế gian thì, báu bảy giác chi này cũng xuất hiện
ở thế gian. Cho nên, các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện
tu bảy giác chi này.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo, sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Khi
Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở thế gian, liền chọn
lựa đất tốt mà xây thành quách, từ đông, tây mười hai
do tuần; nam, bắc bảy do tuần. Đất đai màu mỡ, được
mùa, hạnh phúc không thể nói hết. [731b] Bấy giờ, bên ngoài
thành được bao bọc bảy lớp xen kẽ bởi bảy báu. Bảy
loại báu ấy là vàng, bạc, thuỷ tinh, lưu ly, hổ phách, mã
não, xà cừ. Đó gọi là bảy báu. Thành lại được bao quanh
bởi bảy lớp hào rất sâu tạo thành bởi báu, khó mà vượt
qua; trong hào toàn cát vàng. Lại có bảy lớp cây mọc chen
giữa; các loại cây ấy có bảy loại màu là vàng, bạc, thuỷ
tinh, lưu ly, xa cừ, mã não, hổ phách. Thành trong được bao
bọc bởi bảy lớp cửa kiên cố, cũng được làm bằng bảy
báu. Khung cửa bằng bạc thì cánh cửa vàng, khung cửa bằng
vàng thì cánh cửa bạc, khung cửa thuỷ tinh thì cánh cửa
lưu ly, khung cửa bằng lưu ly thì cánh cửa thuỷ tinh, khung
cửa bằng mã não thì cánh cửa hổ phách, rất là khóai lạc,
thật không thể nói hết. Bốn mặt trong thành ấy có bốn
ao tắm, mỗi một ao tắm dọc ngang một do tuần, có nước
vàng, bạc, thuỷ tinh tự nhiên tạo thành. Ao nước bạc đông
lại trở thành báu bạc, ao nước vàng đông lại trở thành
báu vàng, Chuyển luân Thánh vương lấy đó mà sử dụng.
“Bấy
giờ, trong thành kia có bảy loại âm thanh. Đó là tiếng tù
và, tiếng trống, tiếng trống con, tiếng chuông, tiếng trống
eo, tiếng múa, tiếng ca. Đó gọi là bảy loại âm thanh. Bấy
giờ, nhân dân thường vui chơi theo đó. Chúng sanh nơi đó
không bị nóng lạnh, cũng không bị đói khát, cũng không bịnh
tật. Chuyển luân Thánh vương sống ở đời, thành tựu bảy
báu này và bốn thần túc, không có giảm khuyết, không bao
giờ mất. Nững gì là bảy báu mà Chuyển luân Thánh vương
thành tựu? Đó là bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu,
người nữ báu, cư sĩ báu, điển binh báu. Lại có ngàn người
con rất dũng mãnh, có thể hàng phục giặc ngoài. Cõi Diêm-phù-lý-địa
này, không dùng dao gậy để giáo hóa dân trong nước.”
Khi
ấy có một Tỳ-kheo hỏi Thế Tôn:
“Chuyển
luân Thánh vương thành tựu bánh xe báu như thế nào?”
Thế
Tôn bảo:
“Bấy
giờ, Chuyển luân Thánh vương, vào sáng sớm ngày rằm, tắm
rửa, gội đầu lên trên đại điện, có ngọc nữ vây quanh.
Khi, bánh xe báu đủ ngàn căm từ phương đông bay đến trước
điện, ánh sáng rực rỡ huy hòang, chẳng phải do người tạo,
cách mặt đất bảy nhẫn, từ từ đến trước vua, rồi dừng
lại. Thấy vậy, Chuyển luân Thánh vương liền nói: ‘Ta nghe
người xưa nói, vua Chuyển luân vào ngày rằm, tắm rửa, gội
đầu, [732a] lên ngồi trên điện. Lúc ấy, bánh xe báu tự
nhiên từ phương Đông đến trước vua dừng lại. Nay ta phải
thử bánh xe báu này.’ Rồi vua Chuyển luân dùng tay phải
nắm bánh xe báu mà nói rằng, ‘Giờ ngươi quay lăn cho đúng
pháp, chớ đừng phi pháp.’ Bánh xe báu tự nhiên lăn quay
và dừng trên không trung. Chuyển luân Thánh vương liền dẫn
binh bốn bộ, cũng ở trên hư không. Khi ấy, bánh xe báu quay
hướng về Đông, Chuyển luân Thánh vương cũng theo bánh xe
báu mà đi. Khi bánh xe báu dừng, Chuyển luân Thánh vương và
bốn bộ binh cũng dừng trên hư không. Bấy giờ, vua Túc tán[28]
và nhân dân từ xa trông thấy vua đến, tất cả đều đứng
dậy nghinh đón, lại dùng bát vàng đựng bạc mụn, bát bạc
đựng vàng mụn, dâng lên cho Chuyển luân Thánh vương mà tâu
với vua rằng, ‘Hoan nghênh Thánh vương! Nay nhân dân thành
phương này rất đông đúc, an vui vô hạn. Cúi xin đại vương
hãy ở lại đây cai trị.’ Chuyển luân Thánh vương bảo
dân nước ấy, ‘Các ngươi hãy dùng pháp cai trị giáo hóa,
chớ có dùng phi pháp, cũng chớ có sát sanh, trộm cắp, tà
dâm, cẩn thận chớ có dùng phi pháp cai trị giáo hóa.’ Sau
đó, bánh xe báu lại di chuyển đến phương Nam, phương Tây,
phương Bắc, vỗ về giáo hoá hết thảy nhân dân rồi trở
về nơi vua đang trị vì, đi cách mặt đất bảy nhẫn và
dừng lại. Này Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh vương thành tựu
bánh xe báu như vậy.”
Tỳ-kheo
lại bạch Thế Tôn:
“Chuyển
luân Thánh vương thành tựu voi báu như thế nào?”
Thế
Tôn bảo:
“Tỳ-kheo,
nên biết, vào ngày rằm, Chuyển luân Thánh vương tắm rửa,
gội đầu, rồi lên trên đại điện. Bấy giờ, voi báu từ
phương Nam đến, có sáu ngà, lông trắng buốt, có bảy chỗ
bằng phẳng, được trang sức bằng vàng, bạc, châu báu, có
thể bay trên hư không. Thấy vậy, Chuyển luân Thánh vương
liền tự nghĩ: ‘Voi báu này rất kỳ diệu, hiếm có trên
đời, thể tánh nhu hoà, không hung bạo. Nay ta phải thử
voi báu này.’ Rồi thì, sáng sớm, khi mặt trời sắp mọc,
Chuyển luân Thánh vương liền cưỡi voi báu này dạo khắp
bốn biển, giáo hoá nhân dân. Chuyển luân Thánh vương thành
tựu voi báu như vậy.”
Tỳ-kheo
lại bạch Thế Tôn:
“Chuyển
luân Thánh vương thành tựu ngựa báu như thế nào?”
Thế
Tôn nói:
“Khi
Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở đời, ngựa báu bay
từ phía Tây đến, lông màu xanh đậm, lông đuôi có ánh đỏ,
đi không lắc lư, [732b] có thể bay trên hư không, không có
gì trở ngại. Thấy vậy, lòng rất vui mừng: ‘Ngựa báu
này thật là kỳ lạ. Nay phải sai khiến nó. Thể tánh khôn
và lành, không có bạo chứng. Ta phải thí nghiệm ngựa báu
này.’ Rồi Chuyển luân Thánh vương liền cởi ngựa báu này
đi khắp bốn châu thiên hạ, dạy dỗ nhân dân rồi trở về
nơi chỗ ấy trị vì. Này các Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh vương
thành tựu ngựa báu như vậy.”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Lại
thành tựu ngọc báu như thế nào?”
Thế
Tôn bảo:
“Ở
đây, Tỳ-kheo, khi Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở đời,
lúc đó ngọc báu từ phương Đông bay đến, có tám góc, bốn
mặt có ánh sáng, dài một thước sáu tấc. Chuyển luân Thánh
vương thấy vậy, liền tự nghĩ: ‘Ngọc báu này rất kỳ
lạ, ta phải thử nó.’ Rồi vào lúc nửa đêm, Chuyển luân
Thánh vương tập hợp bốn bộ binh, đem ma-ni báu này gắn
vào đầu ngọn cờ cao. Lúc đó, ánh sáng chiếu mười hai
do tuần trong đất nước ấy. Bấy giờ, nhân dân trong thành
thấy ánh sáng này, mọi người bảo nhau rằng: “Giờ mặt
trời đã mọc, hãy lo liệu việc nhà.’ Chuyển luân Thánh
vương ngồi trên điện, nhìn khắp nhân dân rồi trở vào
trong cung. Sau đó, Chuyển luân Thánh vương đem ma ni này cất
vào trong cung; cả trong ngoài đều sáng khắp, không đâu là
không sáng. Này Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh vương thành tựu
ngọc báu này như vậy.
Bấy
giờ, Tỳ-kheo bạch Phật:
“Chuyển
luân Thánh vương thành tựu người nữ báu như thế nào?”
Thế
Tôn nói:
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở đời,
tự nhiên hiện ngọc nữ xuất báu này, dung mạo xinh đẹp,
mặt như màu hoa đào, không cao, không thấp, không trắng, không
đen, tánh tình nhu hòa, không hung bạo, hơi miệng có mùi hương
hoa sen, thân phát mùi hương chiên đàn, thường theo hầu
hạ Thánh vương, không quên thời khắc, thường tỏ ra hòa
nhã vui cười nhìn vua. Này Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh
vương thành tựu ngọc nữ như vậy.”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật rằng:
“Chuyển
luân Thánh vương thành tựu cư sĩ báu như thế nào?”
Thế
Tôn bảo:
“Ở
đây, này Tỳ-kheo, khi Chuyển luân Thánh vương xuất hiện
ở đời liền có cư sĩ báu xuất hiện ở thế gian, không
cao, không thấp, thân thể màu hồng, tài cao, trí tột, không
việc gì không suốt, lại đạt thiên nhãn thông. Bấy giờ,
cư sĩ đi đến chỗ vua tâu với vua rằng, ‘Cúi [732c] mong
Thánh vương sống lâu vô cùng! Nếu vua muốn cần vàng, bạc,
châu báu gì, thần sẽ cung cấp hết thảy.’ Cư sĩ dùng thiên
nhãn quán sát nơi có kho báu và nơi không có kho báu, đều
thấy tất cả. Vua có cần báu gì, tùy thời cung cấp. Khi
ấy, Chuyển luân Thánh vương muốn thử cư sĩ báu kia, liền
dẫn cư sĩ này qua sông, chưa đến bờ bên kia, liền nói với
cư sĩ rằng, ‘Nay ta cần vàng, bạc, châu báu. Hãy làm sao
có ngay bây giờ.’ Cư sĩ đáp, ‘Đến trên bờ trước, thần
sẽ cung cấp.’ Chuyển luân Thánh vương nói, ‘Nay ta cần
báu ở đây, chứ không cần khi đến trên bờ.’ Khi ấy,
cư sĩ liền quỳ xuống, chấp tay hướng xuống nước, tức
thì bảy báu trong nước liền vọt lên. Bấy giờ, Chuyển
luân Thánh vương bảo trưởng giả, ‘Thôi, Thôi, Cư sĩ! Không
cần báu nữa.’ Này các Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh vương
thành tựu cư sĩ báu như vậy.”
Tỳ-kheo
lại bạch Phật:
“Chuyển
luân Thánh vương thành tựu điển binh báu như thế nào?”
Thế
Tôn bảo:
“
Ở đây, Tỳ-kheo, khi Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở
đời liền có điển binh báu tự nhiên hiện đến, thông minh,
cái thế, biết trước tình người, thân thể hồng hào, đi
đến chỗ Chuyển luân Thánh vương, tâu Thánh vương: ‘Cúi
mong Thánh vương cứ tự nhiên hưởng lạc thú. Nếu Thánh
vương muốn cần binh chúng, tiến thoái đúng lúc, thần sẽ
cung cấp ngay.’ Rồi điển binh báu theo ý vua, tập họp binh
chúng ở cạnh vua. Bấy giờ, Chuyển luân Thánh vương muốn
thử điển binh báu, liền tự nghĩ: ‘Hãy tập họp binh chúng
của ta ngay bây giờ!’ Lập tức binh chúng liền ở ngoài
cửa vua. Nếu ý muốn Chuyển luân Thánh vương khiến binh chúng
đứng yên, liền đứng yên; muốn tiến thì, liền tiến. Này
Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh vương thành tựu điển binh báu
như vậy.
“Tỳ-kheo
nên biết, Chuyển luân Thánh vương thành tựu bảy báu này
như vậy.”
Bấy
giờ, Tỳ-kheo kia bạch Thế Tôn:
“Thế
nào là Chuyển luân Thánh vương thành tựu bốn thần túc,
được nhiều thiện lợi?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ở
đây, Chuyển luân Thánh vương tướng mạo đoan chánh, hiếm
có trên đời, hơn hẳn người thường. Giống như thiên tử
kia, không ai sánh kịp. Đó gọi là Chuyển luân Thánh vương
thành tựu thần túc thứ nhất này.
“Lại
nữa, Chuyển luân Thánh vương thông minh, cái thế, không gì
không điêu luyện; là bậc hùng mãnh trong người. Bấy giờ,
không ai hơn trí huệ phong phú cùa Chuyển luân Thánh vương
này. Đó gọi là (Chuyền luân Thánh vương) thành tựu thần
túc thứ hai.
[733a]
“Lại nữa Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh vương không hề có
bệnh tật; thân thể khoẻ mạnh, mọi thứ đồ ăn thức uống
tự nhiên tiêu hoá, không lo các chứng đại tiểu tiện. Đó
gọi là Chuyển luân Thánh vương thành tựu thần túc thứ
ba.
“Lại
nữa Tỳ-kheo, Chuyển luân Thánh vương thọ mạng rất dài,
tuối thọ không thể tính. Tuổi thọ con người lúc ấy không
ai hơn tuổi thọ Chuyển luân Thánh vương. Này Tỳ-kheo, đó
gọi là Chuyển luân Thánh vương thành tựu thần túc thứ
tư này.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là Chuyển luân Thánh vương có bốn thần
túc.”
Tỳ-kheo
kia lại bạch Phật:
“Sau
khi Chuyển luân Thánh vương mạng chung, sẽ sanh nơi nào?”
Thế
Tôn nói:
“Chuyển
luân Thánh vương, sau khi mạng chung, sẽ sanh lên trời Tam thập
tam, thọ mạng ngàn tuổi. Vì sao vậy? Vì tự thân Chuyển
luân Thánh vương không sát sanh, lại dạy người khác khiến
không sát sanh; tự mình không trộm cướp, lại dạy người
khiến không trộm cướp; tự mình không dâm dật, lại dạy
người khiến không dâm dật; tự mình không nói dối, lại
dạy người khiến không nói dối; tự mình hành pháp thập
thiện, lại dạy người khiến hành pháp thập thiện.
“Các
Tỳ-kheo, nên biết, Chuyển luân Thánh vương nhờ công đức
này, sau khi mạng chung, sanh lên trời Tam thập tam.”
Bấy
giờ, Tỳ-kheo kia liền tự nghĩ:
“Chuyển
luân Thánh vương thật đáng được hâm mộ. Muốn nói đó
là con người, lại chẳng phải là người; nhưng kỳ thật
chẳng phải là trời mà lại thi hành việc trời, hưởng thụ
lạc thú vi diệu, không đoạ ba đường dữ. Nếu hôm nay ta
dũng mãnh giữ giới, chắc sẽ có phước để đời tương
lai được làm Chuyển luân Thánh vương, không thích hay sao?”
Bấy
giờ, Thế Tôn biết được những ý nghĩ trong tâm Tỳ-kheo
kia, bảo tỳ-kheo kia:
“Ở
trước Như Lai, đừng có ý nghĩ như vậy. Vì sao vậy? Chuyển
luân Thánh vương tuy thành tựu bảy báu, có bốn thần túc
không ai sánh kịp, nhưng vẫn không thóat khỏi ba đường dữ
là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì sao vậy? Vì Chuyển
luân Thánh vương không đắc bốn thiền, bốn thần túc, không
chứng đắc bốn đế. Vì nhân duyên này, sau lại đoạ vào
ba đưòng dữ. Thân người rất khó được, gặp phải tám
nạn, muốn thoát ra rất khó; sinh ở chính giữa nước cũng
lại không dễ; muốn có bạn lương thiện cũng lại không
phải dễ; muốn cùng thiện tri thức gặp nhau cũng lại không
dễ; muốn theo học đạo trong giáo pháp Như Lai cũng lại khó
gặp; Như Lai xuất hiện thật không thể gặp; giáo pháp được
giảng dạy cũng khó gặp như vậy; hiểu bốn đế và bốn
phi thường, thật khó mà được nghe. Chuyển luân Thánh vương
cũng không được cứu cánh bốn pháp này.
“Này
Tỳ-kheo, nếu khi Như Lai xuất hiện ở đời, khi ấy có bảy
báu này xuất hiện ở thế gian; đó là báu bảy giác chi của
Như Lai, dẫn đến cứu cánh vô biên, chỗ trời người khen
ngợi.
“Này
Tỳ-kheo, nay khéo tu phạm hạnh, ngay hiện thân này sẽ
chấm dứt được biên tế khổ, thì cần gì đến bảy báu
của Chuyển luân Thánh vương?
Bấy
giờ, Tỳ-kheo kia nghe những lời dạy của Như Lai như vậy,
ở tại nơi vắng vẻ tư duy đạo pháp, vì mục đích mà thiện
gia nam tử sở dĩ cạo bỏ râu tóc xuất gia học đạo,
tu chánh nghiệp vô thượng, để như thật biết rằng, sinh
tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã xong,
không còn tái sinh đời sau. Bấy giờ, Tỳ-kheo kia thành A-la-hán.
Tỳ-kheo
kia sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9[29]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, tôn giả Đồng Chân Ca-diếp[30] ở trong vườn Trú ám,[31]
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, vào nửa đêm, Ca-diếp kinh hành. Khi ấy có vị trời
đến chỗ Ca-diếp, ở giữa hư không nói với Ca-diếp:
“Tỳ-kheo
nên biết, ngôi nhà[32] này ban đêm bốc khói, ban ngày bị
lửa cháy[33]. Có người Bà-la-môn nói vơi một người có
trí: ‘Giờ ông hãy cầm đao đục núi[34]. Khi đang đục núi
tất sẽ thấy một đồ gánh[35] thì hãy nhổ nó lên. Rồi
ông đục lại núi; khi đang đục núi tất sẽ thấy núi. Giờ
hãy hãy bỏ núi. Ông lại đục núi; khi đang đục núi tất
thấy con ễnh ương. Bấy giờ ông hãy bỏ[36] con ễnh ương.
Ông lại đục núi; khi đang đục núi sẽ thấy đống thịt.
Thấy đống thịt, hãy bỏ nó. Bây giờ ông lại đục núi;
khi đang đục núi sẽ gặp cái gông. Thấy cái gông, hãy bỏ
nó. Bây giờ, ông lại đục núi; khi đục núi sẽ thấy hai
con đường.[37] Khi thấy hai đường, hãy bỏ nó. Bây giờ
ông lại đục núi; khi đục núi sẽ thấy cành cây. Thấy
cành cây, hãy bỏ nó. Bây giờ ông lại đục núi; khi đục
núi sẽ thấy con rồng.[38] Thấy con rồng rồi, chớ nói gì
với nó, hãy lo tự quy mạng,[39] và để yên nó đó.[40]
“Này
Tỳ-kheo! Hãy suy nghĩ kỹ nghĩa này. Nếu không hiểu thì lập
tức đến thành Xá-vệ, đến chỗ Thế Tôn hỏi điều này.
Nếu Như Lai có dạy điều gì thì khéo nhớ nghĩ mà thực
hành. Vì sao vậy? Vì hiện tại tôi cũng không thấy có người,
sa-môn, bà-la-môn, [733c] Ma hoặc Thiên ma nào có thể hiểu
nghĩa này, trừ Như Lai và đệ tử Như Lai, hoặc nghe từ tôi[41].”
Ca-diếp
bảo vị thiên:
“Việc
này thật hay!”
Bấy
giờ, vào lúc sáng sớm, Ca-diếp đến chỗ Thế Tôn; đảnh
lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên, đem nhân duyên này bạch
đầy đủ lên Thế Tôn. Ca-diếp hỏi Thế Tôn:
“Nay
con muốn hỏi nghĩa Như Lai. Những điều vị trời nói, ý
nghĩa nhắm đến cái gì? Vì sao nói nhà này ban đêm bốc khói,
ban ngày lửa cháy? Tại sao nói là Bà-la-môn? Tại sao nói là
người trí? Lại nói đục núi, ý nghĩa này nhắm đến cái
gì? Nói về con dao, con cũng không hiểu. Tại sao nói là đồ
gánh? Lại nói về núi, nghĩa này thế nào? Tại sao lại nói
con ễnh ương? Tại sao lại nói đống thịt? Tại sao lại
nói cái gông? Tại sao nói hai con đường? Cành cây, nghĩa nó
thế nào? Tại sao nói là con rồng?”
Thế
Tôn bảo:
“Nhà
tức là hình thể do sắc bốn đại tạo thành, nhận huyết
mạch cha mẹ dần dần lớn lên, thường được nuôi dưỡng
bằng thức ăn không để thiếu thốn, là pháp phân tán. Ban
đêm có khói là chỉ cho tâm niệm của các loài chúng sanh.
Ban ngày lửa cháy là chỉ cho hành động do thân, miệng, ý
đã tạo. Bà-la-môn là A-la-hán. Người trí là người học.[42]
Đục núi là chỉ tâm tinh tấn. Con dao chính là chỉ trí huệ.
Đồ gánh là năm kết sử.[43] Núi là kiêu mạn.[44] Con ếch
là chỉ tâm sân hận. Đống thịt là chỉ tham dục. Cái gông
chỉ năm dục.[45] Hai đường là chỉ nghi ngờ. Cành cây là
vô minh.[46] Rồng là chỉ Như Lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác.[47]
Những lời vị thiên kia nói, nghĩa nó như vậy. Nay ngươi
hãy suy nghĩ cho kỹ, không lâu sẽ dứt sạch hữu lậu.”
Sau
khi vâng lời Như Lai dạy, Ca-diếp ở nơi vắng vẻ mà tự
tu hành, vì mục đích mà thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc
xuất gia học đạo, tu phạm hạnh, biết như thật rằng, sanh
tử đã dứt, Phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã xong,
không còn tái sinh đời sau. Bấy giờ, Ca-diếp thành A-la-hán.
Ca-diếp
sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 10[48]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trua tại Ca-lan-đà trong vườn Trúc, thành
La-duyệt, cùng chúng đại Tỳ kheo năm trăm Tỳ-kheo vị. Mãn
Nguyện Tử[49] cũng dẫn theo [734a] năm trăm Tỳ-kheo an cư ở
sanh quán.[50]
Bấy
giờ, sau khi kiết hạ chín mươi ngày ở thành La-duyệt, Thế
Tôn đi du hoá trong nhân gian dần dần đến vườn cây Cấp
Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Các Tỳ-kheo phân
tán trong nhân gian cũng đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát
chân, rồi ngồi qua một bên.
Thế
Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi hạ an cư ở đâu?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Chúng
con hạ an cư tại quê nhà.”
Thế
Tôn bảo:
“Trong
số các Tỳ kheo các ngươi an cư tại sanh quán, ai là người
sống với hạnh a-lan-nhã, lại hay khen ngợi a-lan-nhã, tự
hành khất thực, lại khuyến khích người khiến hành khất
thực không mất thời nghi, tự đắp y vá nhiều mảnh,[51]
lại khuyến khích người khiến đắp y vá nhiều mảnh, tự
tu tri túc, lại cũng ca ngợi hạnh tri túc, tự mình sống ít
ham muốn, cũng lại ca ngợi hạnh ít ham muốn, tự thích nơi
nhàn tĩnh, lại khuyến khích người khác ở nơi nhàn tĩnh;
tự giữ hạnh ấy, lại khuyến khích người khác khiến giữ
hạnh ấy, tự thân giới thanh tịnh đầy đủ, lại khuyến
khích người khác khiến tu giới ấy, tự thân thành tựu
tam-muội, lại khuyến khích người khác khiến hành tam-muội,
tự thân thành tựu trí huệ, lại dạy người khác khiến
hành trí huệ, tự thân thành tự giải thoát, lại khuyến
khích người khác khiến hành giải thoát, tự thân thành tựu
giải thoát tri kiến[52], lại khuyến khích người khác khiến
hành pháp này, tự thân cò thể giáo hoá không biết chán đủ,
nói pháp không lười mỏi?”
Ccác
Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:
“Tỳ-kheo
Mãn Nguyện Tử ở trong chúng Tỳ-kheo này kham nhận giáo hoá.
Tự thân tu hạnh a-lan-nhã, cũng lại khen ngợi hạnh a-lan-nhã,
tự thân mặc y vá, ít ham muốn, biết đủ, tinh tấn, dũng
mãnh, khất thực, thích ở nơi vắng vẻ, thành tựu giới,
tam-muội, trí huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến*, lại
khuyến khích người khác khiến hành pháp này, tự mình có
thể giáo hoá, nói pháp không biết chán đủ.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói pháp vi diệu cho các Tỳ-kheo nghe.
Sau khi nghe pháp xong, các Tỳ-kheo ngồi lại một lát, rồi
từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu Phật ba vòng và ra đi.
Trong
lúc ấy, cách Thế Tôn không xa, Xá-lợi-phất ngồi kiết già,
chánh thân chánh ý, buộc niệm trước mặt. Khi ấy, Xá-lợi-phất
[734a] suy nghĩ như vầy: “Hôm nay Mãn Nguyện Tử được nhiều
thiện lợi. Vì sao vậy? Các Tỳ-kheo phạm hạnh khen ngợi
đức kia và Thế Tôn lại xác nhận lời này, cũng không phản
đối. Ngày nào ta sẽ cùng vị ấy được gặp nhau và đàm
luận với vị ấy?”
Bấy
giờ, tại quê hương mình, Mãn Nguyện Tử giáo hoá đã xong,
sau đó đi giáo hoá trong nhân gian, lần hồi đi đến
chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Thế
Tôn thứ tự nói pháp cho nghe. Mãn Nguyện Tử sau khi nghe pháp
xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân rồi
ra đi, lấy ni-sư-đàn vắt trên vai hữu, đi đến trong vườn
Trú ám.
Khi
ấy, có một Tỳ-kheo từ xa trông thấy Mãn Nguyện Tử lấy
ni-sư-đàn vắt trên vai hữu, đi đến trong vườn kia. Thấy
vậy, ông liền đến chỗ Xá-lợi-phất, bạch rằng:[53]
“Thế
Tôn thường khen ngợi Mãn Nguyện Tử. Thầy ấy vừa đến
chỗ Như Lai nghe Phật nói pháp, nay đang đi vào trong rừng.
Tôn giả nên biết thời thích hợp.”
Sau
khi nghe Tỳ-kheo ấy nói, Xá-lợi-phất liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, lấy ni-sư-đàn vắt lên vai phải và đi đến
trong khu rừng kia.
Bấy
giờ, Mãn Nguyện Tử ngồi kiết già dưới một bóng cây.
Xá-lợi-phất cũng lại ngồi kiết già tư duy ở dưới một
bóng cây. Sau đó, Xá-lợi-phất liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đến chỗ Mãn Nguyện Tử. Đến nơi, sau khi cùng hỏi
thăm nhau, rồi ngồi qua một bên. Xá-lợi-phất hỏi Mãn Nguyện
Tử:
“Thế
nào, Mãn Nguyện Tử, có phải do[54] Thế Tôn mà ngài làm đệ
tử tu phạm hạnh không?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Đúng
vậy, đúng vậy.”
Xá-lợi-phất
lại hỏi:
“Lại
có phải nhân bởi[55] Thế Tôn mà được tu giới thanh tịnh[56]
không?”
Mãn
Nguyện Tử nói:
“Không
phải.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Có
phải do tâm thanh tịnh[57] nên nương nơi Như Lai mà tu phạm
hạnh không?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Không
phải.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Có
phải vì kiến thanh tịnh nên nương nơi Như Lai mà tu phạm
hạnh không?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Không
phải”
Xá-lợi-phất
nói:
“Thế
nào, có phải vì không do dự[58] mà được tu phạm hạnh không?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Không
phải.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Có
phải do hành tích thanh tịnh[59] mà được tu phạm hạnh không?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Không
phải.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Thế
nào, có phải vì trí thanh tịnh ở trong đạo[60] mà được
tu phạm hạnh không?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Không
phải.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Thế
nào, có phải vì tri kiến thanh tịnh [734c] mà được tu phạm
hạnh không?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Không
phải.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Những
câu hỏi vừa rồi của tôi, ‘Có phải ở nơi Như Lai mà
được tu phạm hạnh không?’ Thầy lại đáp tôi rằng: ‘Đúng
vậy.’ Tôi lại hỏi: ‘Có phải do trí tuệ, tâm thanh tịnh,
đạo tri kiến thanh tịnh, được tu phạm hạnh không?’ Thầy
lại nói: ‘Không phải.’ Vậy vì sao thầy ở nơi Như Lai
mà được tu phạm hạnh?”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Nghĩa[61]
giới thanh tịnh là để khiến tâm thanh tịnh. Nghĩa* tâm thanh
tịnh là để khiến kiến thanh tịnh. Nghĩa* kiến thanh tịnh
là để khiến không do dự thanh tịnh. Nghĩa* không do dự thanh
tịnh là để khiến hành tích thanh tịnh. Nghĩa* hành tích
thanh tịnh là để khiến đạo thanh tịnh. Nghĩa* đạo thanh
tịnh là để khiến tri kiến thanh tịnh. Nghĩa* tri kiến thanh
tịnh là để khiến nhập nghĩa Niết-bàn.[62] Đó gọi là
ở nơi Như Lai mà được tu phạm hạnh.”
Xá-lợi-phất
hỏi:
“Nghĩa
thầy nói hôm nay nhắm về đâu?”
Mãn
Nguyện Tử nói:
“Nay
tôi sẽ đưa ra thí dụ để giải thích nghĩa này. Người
trí nhờ thí dụ mà hiểu nghĩa đó, người trí tự ngộ.
Giống như hôm nay vua Ba-tư-nặc đi từ thành Xá-vệ đến
nước Bà-kì, khoảng giữa hai nước bố trí bảy chiếc xe.
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc ra khỏi thành, lên chiếc xe thứ nhất,
đến chiếc thứ hai; lên chiếc thứ hai, bỏ chiếc thứ nhất
lại; đi về trước một lát, lại lên chiếc thứ ba và bỏ
chiếc thứ hai lại; đi về trước một lát, lại lên chiếc
thứ tư và bỏ chiếc thứ ba lại; đi về trước một lát,
lại lên chiếc thứ năm và bỏ chiếc thứ tư lại, đi về
trước một lát, lại lên chiếc thứ sáu và bỏ chiếc thứ
năm lại; đi về trước một lát, lại lên chiếc thứ bảy
và bỏ chiếc thứ sáu lại để vào nước Bà-kì. Bấy giờ,
vua Ba-tư-nặc đã đến trong cung, nếu có người hỏi: ‘Hôm
nay Đại vương đi cỗ xe nào đến cung này?’ thì vua ấy
sẽ đáp thế nào?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Nếu
có người hỏi thì sẽ đáp như vầy: ‘Tôi ra khỏi thành
nước Xá-vệ, trước lên xe thứ nhất đến xe thứ hai; lại
bỏ xe thứ hai, lên xe thứ ba; lại bỏ xe thứ ba, lên xe thứ
tư; lại bỏ xe thứ tư, lên xe thứ năm; lại bỏ xe thứ năm,
lên xe thứ sáu; lại bỏ xe thứ sáu, lên xe thứ bảy đến
nước Bà-kỳ. Vì sao vậy? Vì tất cả nhờ xe trước đến
xe thứ hai, lần lượt làm nhân cho nhau đến được nước
kia.’ Nếu có người hỏi thì nên trả lời như vậy.”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Nghĩa*
giới thanh tịnh cũng lại như [735a] vậy. Do tâm thanh tịnh
mà được kiến thanh tịnh; do kiến thanh tịnh mà đạt được
trừ do dự; do nghĩa không do dự mà đạt được hành tích
thanh tịnh; do nghĩa hành tích thanh tịnh mà đạt được đạo
thanh tịnh; do nghĩa đạo thanh tịnh mà đạt được tri kiến
thanh tịnh; do nghĩa tri kiến thanh tịnh mà đạt được nghĩa
Niết-bàn, do đó mà ở nơi Như Lai được tu phạm hạnh. Vì
sao vậy? Vì nghĩa giới thanh tịnh là tướng chấp thủ[63],
nhưng Như Lai dạy khiến trừ chấp thủ*. Nghĩa tâm thanh tịnh
cũng là tướng chấp thủ, nhưng Như Lai dạy trừ chấp thủ
cho đến nghĩa tri kiến cũng là chấp thủ. Như Lai dạy trừ
chấp thủ cho đến Niết-bàn, do đó mà ở nơi Như Lai được
tu phạm hạnh. Nếu chỉ vì giới thanh tịnh mà nương nơi
Như Lai tu phạm hạnh, thì ngay kẻ phàm phu cũng sẽ diệt độ.[64]
Vì sao vậy? Vì kẻ phàm phu cũng có giới pháp này.[65] Thế
Tôn đã dạy, theo thứ lớp thành đạo mà đến được Niết-bàn
giới, chẳng phải chỉ có giới thanh tịnh mà đến được
diệt độ. Giống như có người muốn lên trên lầu bảy tầng,
phải theo thứ bậc mà đi lên. Nghĩa giới thanh tịnh cũng
lại như vậy; dần dần mới đến tâm. Do tâm mà đạt đến
kiến. Do kiến mà đạt đến không do dự. Do không do dự mà
đạt đến hành tích thanh tịnh. Do hành tích thanh tịnh mà
đến được đạo. Do đạo thanh tịnh mà đạt đến tri kiến.
Do tri kiến mà đạt đến Niết-bàn.”
Bấy
giờ, Xá-lợi-phất liền khen:
“Lành
thay, lành thay, nghĩa này được nói thật kheo léo. Thầy tên
là gì? Các Tỳ-kheo phạm hạnh gọi thầy hiệu gì?”
Mãn
Nguyện Tử nói:
“Tôi
tên là Mãn Nguyện Tử. Họ mẹ là Di-đa-na-ni.[66]”
Xá-lợi-phất
nói:
“Lành
thay, lành thay, Mãn Nguyện Tử! Trong pháp Hiền thánh thật
không ai sánh bằng thầy; trong lòng chứa đựng cam lồ, lại
ban phát vô cùng. Nay tôi đã hỏi nghĩa rất sâu, thầy đều
đã giải đáp tất cả. Cho dù các vị phạm hạnh đội thầy
trên đầu mà đi khắp thế gian, cũng không thể báo đáp được
ơn này. Những ai đến thân cận, hỏi han, người ấy sẽ
được nhiều thiện lợi. Nay tôi cũng được lợi nhiều nhờ
sự chỉ giáo đó.”
Mãn
Nguyện Tử đáp:
“Lành
thay, lành thay, như những lời thầy nói! Thầy tên là gì?
Các Tỳ-kheo gọi thầy là gì?”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Tôi
tên Ưu-ba-đề-xá. Mẹ tên Xá-lợi. Các Tỳ-kheo gọi tôi là
Xá-lợi-phất.”
[735b]
Mãn Nguyện Tử nói:
“Hôm
nay tôi cùng đã bàn luận với bậc Đại nhân. Vậy mà trước
đó tôi không biết vị Đại tướng[67] của pháp đến nơi
này! Nếu tôi biết tôn giả Xá-lợi-phất đến đây thì không
dám cùng biện luận đối đáp như vậy. Nhưng tôn giả hỏi
nghĩa rất sâu này, nên tiếp theo đó tôi đã giải đáp.
“Lành
thay, Xá-lợi-phất! Vị Thượng thủ trong các đệ tử của
Phật, thường an trú với pháp vị cam lồ. Dù cho các vị
phạm hạnh đội tôn giả Xá-lợi-phất trên đầu mà đi khắp
thế gian, từ năm này qua năm khác, cũng không thể báo đáp
được ơn ấy chút nào. Ở đây, có chúng sanh nào đến hỏi
thăm, thân cận tôn giả, người ấy sẽ có được nhiều
lợi. Chúng tôi cũng được lợi nhiều.”
Bấy
giờ, hai hiền giả đàm luận với nhau trong khu ấy ấy như
vậy.
Sau
khi hai vị nghe điều đã được nói, đều hoan hỷ phụng
hành.
Kệ
tóm tắt
Đẳng
pháp và Trú độ,
Dụ
nước và thành quách,
Thức,
Quân-đầu, hai luân,
Bà-mật
và bảy xe.[68]
40
. PHẨM BẢY NGÀY
KINH
SỐ 1[69]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, sau giờ ăn, các Tỳ-kheo tập trung ở giảng đường
Phổ hội bàn luận như vầy: “Núi Tu-di này rất là rộng
lớn, các núi khác không thể sánh, hết sức kỳ lạ, cao rộng
hùng vĩ. Như vậy mà không bao lâu nữa sẽ bị tan rã, không
còn sót thứ gì. Các núi lớn khác y tựa vào núi Tu-di, cũng
sẽ tan rã.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bằng thiên nhĩ nghe các Tỳ-kheo bàn luận như
vậy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ giảng
đường kia và ngồi xuống. Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi ở đây đang bàn luận những gì? Đang định làm gì?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Chúng
con tụ tập ở đây luận về pháp sự kia. Những điều vừa
được thảo luận đều đúng như pháp.”
Thế
Tôn bảo:
“Lành
thay, [735c] Tỳ-kheo! Các ngươi xuất gia cần phải phải thảo
luận chánh pháp. Nhưng cũng không bỏ sự im lặng của Hiền
Thánh. Vì sao vậy? Khi các Tỳ-kheo tụ tập một chỗ thì nên
làm hai việc. Nhừng gì là hai? Một là luận bàn như pháp;
hai là im lặng như Thánh Hiền. Các ngươi làm hai việc này,
luôn luôn được an ổn, không mất thời nghi. Vừa rồi, các
ngươi đã luận nghĩa như pháp những gì vậy?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Hôm
nay, các Tỳ-kheo tụ tập tại giảng đường này để luận
nghĩa như vầy: ‘Thật là kỳ lạ, núi Tu-di này hết sức
cao rộng, nhưng núi Tu-di này như vậy không bao lâu sẽ bị
tan rã. Các núi Thiết vi ở bốn phía cũng sẽ bị tan rã như
vậy.’ Vừa rồi chúng con tụ tập ở đây bàn luận như
pháp vậy.”
Thế
Tôn bảo:
“Các
ngươi có muốn nghe sự biến chuyển đưa đến bại hoại
của cảnh giới thế gian này không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Nay
là lúc thích hợp, cúi xin Thế Tôn hợp thời giảng nói, để
cho chúng sanh được tâm giải thoát.”
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi hãy khéo suy nghĩ và ghi nhớ luôn trong lòng.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, Thế Tôn.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo vâng theo lời Phật dạy.
Thế
Tôn bảo:
“Núi
Tu-di thật rộng lớn, không núi nào có thể sánh bằng. Tỳ-kheo,
nên biết, núi Tu-di nhô khỏi mặt nước cao tám vạn bốn
ngàn do tuần và chìm dưới nước sâu cũng tám vạn bốn ngàn
do tuần. Núi Tu-di được tạo nên do bốn loại báu là vàng,
bạc, thuỷ tinh, lưu ly. Lại có bốn góc cũng được tạo
thành do bốn loại báu là vàng, bạc, thuỷ tinh, lưu ly. Thành
vàng, quách bạc; thành bạc, quách vàng; thành thuỷ tinh, quách
lưu ly; thành lưu ly, quách thuỷ tinh. Trên núi Tu-di có năm
loại trời cư trú ở đó, đều do túc duyên mà sống nơi
này. Những gì là năm? Trong thành bạc kia có trời Tế cước[70]
cư trú; trong thành vàng kia có trời Thi-lợi-sa[71] cư trú;
trong thành thuỷ tinh kia có trời Hoan duyệt[72] cư trú; trong
thành lưu ly kia có trời Lực thạnh[73] cư trú. Giữa thành
vàng và bạc có Tì-sa-môn Thiên vương cư trú cùng với số
lượng Dạ-xoa không thể đếm xuể. Giữa thành vàng và thuỷ
tinh có Tì-lưu-bác-xoa Thiên vương cư trú cùng với các Long
thần. Giữa thành thuỷ tinh và lưu ly có Tì-lưu-lặc-xoa Thiên
vương cư trú. Giữa thành lưu ly và vàng có Đề-đầu-lại-tra
Thiên vương cư trú .
“Tỳ-kheo,
nên biết, [736a] dưới núi Tu-di có A-tu-la cư trú. Khi A-tu-la
muốn đánh nhau với trời Tâm thập tam thì trước cùng đánh
nhau với trời Tế cước. Nếu thắng, tiến đến thành vàng
cùng đánh nhau với trời Thi-lợi-sa. Khi đã thắng trời Thi-lợi-sa,
lại đến thành thuỷ tinh cùng đánh nhau với trời Hoan duyệt.
Thắng rồi, chúng tiến đến thành lưu ly. Thắng đây rồi,
chúng đánh nhau với trời Tam thập tam.[74]
“Tỳ-kheo,
nên biết, trời Tam thập tam cư trú trên đỉnh núi Tu-di, ngày
đêm phát ra ánh sáng; tự chiếu sáng cho nên như vậy. Nương
vào núi Tu-di mà mặt trời, mặt trăng trôi đi. Nhật thiên
tử có thành quách dài rộng năm mươi mốt do tuần. Nguyệt
thiên tử có thành quách dài rộng ba mươi chín do tuần. Ngôi
sao lớn nhất dài rộng một do tuần, sao nhỏ nhất dài rộng
hai trăm bộ. Đỉnh núi Tu-di từ đông sang tây,từ nam đến
bắc, dài rộng tám vạn bốn nghìn do tuần. Gần núi Tu-di,
phía nam có núi Đại thiết vi[75] dài rộng dài tám vạn bốn
nghìn dặm, cao tám vạn dặm. Thêm nữa, ngoài núi này có núi
Ni-di-đà[76] bọc quanh núi ấy, cách núi Ni-di-đà lại có núi
tên là Khư-la,[77] cách núi này lại còn có núi tên Ti-sa,[78]
cách núi này lại còn có núi tên Mã đầu,[79] lại có núi
tên Tì-na-da, kế núi Tì-na-da[80] lại có núi tên Thiết vi,
Đại thiết vi.
“Chính
giữa núi Thiết vi có tám địa ngục lớn, mỗi[81] địa ngục
có mười sáu ngục phụ.[82] Núi Thiết vi này giúp ích rất
nhiều cho Diêm-phù-đề-lý-địa. Nếu không có núi Thiết
vi này, Diêm-phù-đề-lý-địa thường là nơi hôi thối. Bên
ngòai núi Thiết vi có núi Hương tích;[83] cạnh đó có tám
vạn bốn ngàn voi chúa trắng sinh sống nơi này. Mỗi con có
sáu ngà được trang sức bằng vàng, bạc. Trong núi ấy có
tám vạn bốn ngàn hang, các voi ấy cư trú ở đó. Con voi tối
thượng được tạo bởi vàng, bạc, thuỷ tinh, lưu ly. Thích
Đề-hoàn Nhân thường tự thân cởi nó. Chuyển luân Thánh
vương cởi voi nhỏ nhất. Cạnh núi Hương tích có ao nước
Ma-đà, sinh tòan hoa sen ưu-bát, hoa câu-mâu-đầu; những con
voi kia nhổ rễ ăn. Cạnh ao nước Ma-đà có núi tên Ưu-xà-già-la.
Núi này sanh ra đủ loại cây cỏ, chim, thú, sâu bọ, hổ báo
đều nương vào núi này mà ở, có nhiều người đắc thần
thông cũng đều sống ở đây. Kế đó lại có núi tên Bàn-trà-bà,
tiếp lại có núi tên Kỳ-xà-quật. [736a] Đây là chỗ y cứ
của mà Diêm-phù-lý-địa.
“Các
Tỳ-kheo nên biết, cho đến một lúc, khi thế gian này sắp
băng hoại, trời không mưa, những lúa mạ đã gieo không tăng
trưởng, các con sông suối nhỏ đều bị khô cạn, tất cả
các hành đều qui về vô thường, không tồn tại lâu.
“Tỳ-kheo
nên biết, hoặc có lúc bốn sông lớn như Hằng hà, Tư-đầu,
Tử-đà, Bà-xoa cũng lại khô cạn không còn gì sót lại. Cũng
vậy Tỳ-kheo, vô thường trăm lần biến đổi chính là vậy.
“Tỳ-kheo,
cho đến một lúc, khi thế gian này có hai mặt trời xuất
hiện, lúc ấy các loại cây cối thảo mộc đều điêu tàn.
Cũng vậy Tỳ-kheo, vô thường biến dịch, không được tồn
tại lâu dài. Lúc ấy, nước các nguồn suối nhỏ đều khô
cạn. Tỳ-kheo, nên biết, khi hai mặt trời xuất hiện, nước
trong bốn biển lớn tất cả đều khô cạn đến cả trăm
do tuần, dần dần đến bảy trăm do tuần, nước tự nhiên
khô.
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi ba mặt trời xuất hiện ở thế gian, nước
bốn biển lớn trong vòng ngàn do tuần, tự nhiên khô cạn,
dần dần cho đến bảy ngàn do tuần, nước tự nhiên khô
cạn.
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi bốn mặt trời xuất hiện, nước bốn biển
lớn chỉ còn sâu khoảng một ngàn do tuần. Như vậy, Tỳ-kheo,
tất cả các hành đều vô thường không tồn tại lâu dài
được.
“Tỳ-kheo,
cho đến một lúc, khi thế gian có năm mặt trời xuất hiện,
lúc ấy nước trong bốn biển lớn chỉ còn bảy trăm do tuần
nước, dần dần còn lại một trăm do tuần. Tỳ-kheo, nên
biết, khi năm mặt trời xuất hiện, nước biển chỉ còn
một do tuần; dần dần nước khô không còn gì hết. Khi năm
mặt trời xuất hiện, nước chỉ còn bảy thước. Khi năm
mặt trời xuất hiện, nước biển khô hết không còn gì.
Tỳ-kheo, nên biết, tất cả các hành đều vô thường, không
tồn tại lâu dài được.
“Tỳ-kheo,
cho đến một lúc, khi sáu mặt trời xuất hiện, mặt đất
dày sáu vạn tám ngàn do tuần này đều bốc khói hết. Núi
Tu-di cũng dần dần bị sụp lở. Khi sáu mặt trời xuất hiện,
ba ngàn đại thiên quốc độ này đều băng họai. Giống như
người thợ gốm nung đồ gốm. Lúc ấy, ba ngàn đại thiên
quốc độ cũng lại như vậy, lửa cháy bừng bừng, lan khắp
nơi.
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi sáu mặt trời xuất hiện, tám địa ngục lớn
cũng bị tiêu diệt, nhân dân qua đời. Năm loại trời nương
vào núi Tu-di cũng mạng chung. Trời Tam thập tam, trời Diêm
thiên, cho đến trời Tha hoá [736c] tự tại cũng mạng chung;
cung điện đều trống. Khi sáu mặt trời xuất hiện, núi
Tu-di và ba ngàn đại thiên quốc độ đều trống không, không
còn gì. Như vậy, Tỳ-kheo, các hành đều vô thường, không
tồn tại lâu dài được.
“Tỳ-kheo,
nên biết, cho đến một lúc, khi bảy mặt trời xuất hiện,
bấy giờ đất tuy dày sáu vạn tám ngàn do tuần và ba ngàn
đại thiên quốc độ đều bốc lửa. Khi bảy mặt trời xuất
hiện, núi Tu-di này dần dần tan họai, trăm ngàn do tuần tự
nhiên sụp lở hòan tòan không còn gì, cũng không còn thấy
mảy may khói bụi, huống gì là thấy tro!
“Khi
ấy, cung điện trời Tam thập tam cho đến trời Tha hoá tự
tại đều bốc lửa. Lửa bốc cháy nơi này cho đến trên
Phạm thiên. Các thiên tử mới sinh ở thiên cung kia, vì xưa
nay không thấy kiếp thiêu, nên khi thấy ánh lửa bốc cháy
này trong lòng kinh hãi, lo bị lửa đốt. Song những vị thiên
tử sống lâu, đã từng thấy kiếp thiêu liền đến an ủi
những thiên tử mới sanh: ‘Các ông chớ có lo sợ. Lửa này
hòan tòan không thể lan đến nơi này.’
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi bảy mặt trời xuất hiện, từ nơi này đến
sáu trời Dục giới, cho đến ba ngàn đại thiên quốc độ,
đều thành tro bụi, cũng không còn dấu vết hình chất. Như
vậy, Tỳ-kheo, tất cả các hành đều vô thường, không thể
bảo tồn lâu, đều đưa đến hoại diệt. Bấy giờ, nhân
dân qua đời, sinh về quốc độ khác, hoặc sinh lên trời.
Chúng sanh nào trong địa ngục, nếu tội trước đã hết thì
sinh lên trời, hoặc quốc độ khác. Nếu chúng sanh địa ngục
kia chưa hết tội thì lại dời đến quốc độ khác.
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi bảy mặt trời xuất hiện, không còn dấu vết
ánh sáng mặt trời, mặt trăng và tinh tú. Khi ấy mặt trời
mặt trăng đã diệt, không còn ngày và đêm. Này Tỳ-kheo,
đó gọi là vì quả báo nên đưa đến tan rã này.
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi thành tựu kiếp trở lại, cho đến một lúc
lửa tự nó tắt mất, trong hư không nổi lên mây lớn, dần
dần mưa xuống. Khi ấy, ba ngàn đại thiên quốc độ này
đều ngập nước. Nước dâng lên cõi Phạm thiên.
“Tỳ-kheo,
nên biết, bấy giờ nước này dần dần ngưng lại và tự
tiêu hết. Lại có cơn gió khởi lên tên là Tuỳ lam, thổi
nước này tụ lại một chỗ. Lúc bấy giờ, gió này lại
thổi dậy một ngàn núi Tu-di, một ngàn núi Kì-di-đà,[84]
một ngàn núi Ni-di-đà, một ngàn núi Khư-la, một ngàn núi
Y-sa, một ngàn núi Tỳ-na, một ngàn núi Thiết vi, một ngàn
núi Đại thiết vi. Lại sinh tám ngàn địa ngục, [737a] lại
sanh một ngàn núi Mã đầu, một ngàn núi Hương tích, một
ngàn núi Bàn-trà-bà, một ngàn núi Ưu-xà-già, một ngàn cõi
Diêm-phù-đề, một ngàn cõi Cù-da-ni, một ngàn cõi Phất-vu-đãi,
một ngàn cõi Uất-đơn-việt. Lại sinh nước một ngàn biển,
lại sinh một ngàn cung Tứ thiên vương, một ngàn trời Tam
thập tam, một ngàn Diệm thiên, một ngàn trời Đâu-suất,
một ngàn trời Hoá tự tại, một ngàn trời Tha hoá tự tại.
“Tỳ-kheo,
nên biết, cho đến một lúc, nước rút, đất bày trở lại.
Khi ấy trên đất tự nhiên có lớp chất béo đất,[85] rất
thơm ngon hơn cả cam lồ. Nên biết chất béo đất kia có mùi
vị giống như rượu ngọt bồ đào.
“Tỳ-kheo,
nên biết, cho đến một lúc, các vị trời Quang âm nói với
nhau: ‘Chúng ta xuống Diêm-phù-đề để xem mặt đất kia
khi phục hồi trở lại.’ Thiên tử Quang âm xuống đến thế
gian, thấy trên mặt đất có béo đất này liền dùng ngón
tay quết đưa vào miệng mà ăn thử. Khi ấy, thiên tử ăn
nhiều béo đất nên không còn oai thần và ánh sáng nữa, thân
thể trở nên nặng mà sanh ra xương thịt, mất thần túc không
còn bay được. Thiên tử nào ăn ít béo đất thì thân thể
không nặng, cũng không mất thần túc, có thể bay lại trên
hư không.
“Lúc
ấy, những thiên tử mất thần túc đều cùng nhau than khóc,
nói với nhau: ‘Nay chúng ta thật là cùng khốn, lại mất
thần túc, phải ở lại thế gian, không thể trở lên trời
lại được.’ Rồi họ ăn chất béo đất này, và để ý
nhan sắc nhau. Khi ấy, thiên tử nào có nhiều dục ý thì trở
thành thành người nữ, rồi làm tình dục cùng nhau vui thích.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là lúc thế gian mới hình thành có pháp
dâm này lưu truyền thế gian, là thường pháp tối sơ, khi
người nữ xuất hiện ở đời; cũng lại là pháp xưa chẳng
phải mới ngày nay.
“Lúc
ấy, các vị trời Quang âm khác thấy các thiên tử đoạ lạc
liền đến quở trách rằng: ‘Vì sao các ông lại làm hạnh
bất tịnh này.’ Lúc này, các chúng sanh lại tự nghĩ: ‘Chúng
ta phải tìm cách nào để có thể nghỉ đêm với nhau mà mọi
người không thấy.’ Dần dần chúng làm nhà cửa để tự
che thân thể. Này Tỳ-kheo, đó gọi là do nhân duyên này mà
ngày nay có nhà cửa.
“Tỳ-kheo,
nên biết, cho đến một lúc chất béo đất tự nhiên lẩn
xuống đất, sau đó sanh ra lúa gạo rất tươi sạch, cũng
không có vỏ ngòai, hết sức thơm ngon khiến người ăn được
mập trắng. Sáng thu hoạch, chiều lại sinh; chiều thu họach,
sáng lại sinh. Này Tỳ-kheo, bấy giờ mới có tên lúa gạo
này xuất hiện.
[737b]“Tỳ-kheo,
cho đến một lúc nhơn dân biếng nhác, không chuyên cần sinh
họat. Có một người suy nghĩ: ‘Vì sao ngày nào ta cũng phải
gặt hái lúa thóc này. Nên thu một lần cho cả hai ngày.’
Người đó liền đi thu hoạch lúa một lần cho hai ngày.
“Bấy
giờ, nhân dân lần lượt mang thai, và do đó có sự sanh đẻ.
“Một
lúc nọ, có một chúng sanh bảo chúng sanh kia: ‘Chúng ta cùng
đi gặt lúa.’ Người kia đáp: ‘Tôi đã lấy lương
thực đủ cho hai ngày.’ Người này nghe xong bèn nghĩ nghĩ:
‘Ta phải chứa lương thực bốn ngày.’ Người ấy liền
lo lương thực đủ bốn ngày. Lại có chúng sanh nói với chúng
sanh ấy rằng: ‘Chúng ta cùng ra ngòai thâu lúa.’ Người
này đáp: ‘Tôi đã lấy lương thực bốn ngày.’ Người
kia nghe rồi liền nghĩ như vầy: ‘Ta phải lo lương thực
tám ngày.’ Nó liền lo chứa thức ăn tám ngày. Do vậy, lúa
kia không sinh trở lại. Bấy giờ, mọi người suy nghĩ như
vầy: ‘Thế gian có tai hoạ lớn. Giờ lúa thóc này không
như xưa nữa. Nay phải phân chia lúa thóc này.’ Tức thì chúng
phân chia lúa thóc. Lúc ấy, có chúng sanh suy nghĩ như vầy:
‘Giờ ta hãy giấu lúa thóc mình. Nên ăn trộm lúa thóc người
khác.’ Rồi chúng sanh ấy giấu lúa thóc mình, ăn trộm lúa
thóc người khác. Chủ kia bắt gặp nó ăn trộm lúa thóc,
liền nói với nó: ‘Sao ông lấy lúa thóc của tôi? Giờ tha
tội ông, sau này chớ tái phạm.’ Bấy giờ, thế gian bắt
đầu có tâm trộm cắp này. Lúc này, lại có chúng sanh nghe
lời này rồi liền nghĩ như vầy: ‘Giờ ta hãy giấu lúa
thóc mình. Nên trộm lúa thóc người khác.’ Rồi, chúng sanh
ấy liền cất vật của mình mà lấy vật người khác. Người
chủ kia thấy vậy, nói với nó: ‘Sao ông lại lấy lúa thóc
tôi?’ Nhưng người kia im lặng không đáp. Lúc ấy, chủ vật
liền giơ nắm tay đánh: ‘Từ nay về sau chớ có xâm lấn
nữa!’ Bấy giờ, mọi người dân nghe chúng sanh trộm lẫn
nhau, bền tụ tập và cùng bàn bạc: ‘Thế gian có phi
pháp này, chúng trộm lẫn nhau. Nay phải lập người giữ ruộng
để giữ gìn ruộng. Có chúng sanh kia thông minh tài giỏi nên
lập làm chủ ruộng.’ Rồi họ bầu chọn chủ ruộng mà
nói rằng: ‘Các vị nên biết, thế gian có sự trộm cắp
phi pháp này. Nay ông hãy giữ ruộng, chúng tôi sẽ trả công
cho. Những người dân nào đến lấy trộm lúa thóc người
khác, hãy trị tội họ.’ Bấy giờ chủ ruộng được lập.
“Tỳ-kheo,
nên biết, người giữ ruộng kia bấy giờ [737c] được gọi
là dòng sát-lợi, đều là pháp xưa chẳng phải pháp bây giờ.”
Rồi
Thế Tôn liền nói kệ này:
Dòng
sát-lợi bắt đầu,
Đứng
đầu trong các họ.
Người
thông minh tài giỏi,
Được
trời người kính đãi.
“Bấy
giờ, có người kia xâm phạm vật người khác, nó liền bị
sát-lợi bắt trị phạt. Nhưng người ấy lại không sửa
đổi lỗi mà vẫn tái phạm. Chúa sát-lợi ra lệnh làm đao
trượng, bắt người kia mà bêu đầu. Bấy giờ thế gian bắt
đầu có sự sát sanh này. Khi ấy, mọi người dân nghe giáo
lệnh này: ‘Nếu có ai trộm cướp lúa thóc người khác,
Chua sát-lợi sẽ bắt giết.’ Tất cả sợ hãi, lông tóc
đều dựng đứng.
“Có
người dựng am cỏ, ở trong ấy toạ thiền, tu phạm hạnh,
nhất quyết xả bỏ gia nghiệp, vợ con thê thiếp. Độc cư
nhàn tịnh quyết chí tu phạm hạnh. Nhân từ đó về sau có
dòng họ bà-la-môn. Bấy giờ liền có hai dòng họ xuất hiện
ở đời.
“Tỳ-kheo,
nên biết, thời bấy giờ do trộm cắp nên có sát sanh; do
sát nên có đao trượng.
“Bấy
giờ, chúa sát-lợi bố cáo nhân dân: ‘Người nào dẹp đẽ,
tài cao, sẽ được giáo thống lĩnh nhân dân này.’ Lại bố
cáo: ‘Nếu người dân nào trộm cắp sẽ bị trừng trị.’
Sau đó liền có dòng họ tỳ-xá này xuất hiện ở đời.
“Bấy
giờ, có nhiều chúng sanh nghĩ như vầy: ‘Nay mọi người
sát hại nhau, đều là do nghề nghiêp mà ra. Nay ta phải lui
tới khắp nơi để mưu tự nuôi sống.’ Khi ấy liền có
dòng họ Thủ-đà-la xuất hiện ở đời.”
Rồi
Thế Tôn liền nói kệ này:
Đầu
tiên dòng sát-lợi;
Kế
đến bà-la-môn;
Thứ
ba là tỳ-xá;
Tiếp
nữa dòng thủ-đà.
Có
bốn dòng dõi này,
Dần
dần sanh lẫn nhau,
Đều
từ thân trời đến,
Và
cùng một sắc da.
“Tỳ-kheo,
nên biết, khi có tâm sát sanh, trộm cắp này, nên không còn
có lúa thóc tự nhiên này nữa. Bấy giờ, có năm loại hạt
giống, một là hạt từ rễ, hai là hạt từ thân, ba [738a]
là hạt từ cành, bốn là hạt từ hoa, năm là hạt từ quả
và sinh những loại hạt giống khác. Đó gọi là năm loại
giống, đều do gió thổi từ các quốc độ nơi khác đến,
được dùng để trồng, lấy đó để tự nuôi sống.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, thế gian có điềm báo này liền có sanh, già,
bệnh, chết, cho đến khiến cho ngày nay có thân năm thủ uẩn
này, không dứt được biên tế khổ.
“Đó
gọi là sự biến đổi lúc kiếp thành bại của thế giới
mà Ta nói cho các ngươi. Những điều mà chư Phật Thế Tôn
cần làm, nay Ta đã nói hết cho các ngươi. Hãy vui sống
nơi chỗ nhàn tĩnh, nên nhớ nghĩ ngồi thiền, chớ sinh giải
đãi. Nay không tinh thành, sau hối hận vô ích. Đây là những
lời dạy dỗ của Ta.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 2[86]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở tại Ca-lan-đà trong vườn Trúc,
tại thành La-duyệt, cùng chúng đại Tỳ kheo năm trăm vị.
Bấy
giờ, vua nước Ma-kiệt-đà là A-xà-thế ở giữa quần thần
nói rằng:
“Nước
Bạt-kỳ rất thịnh vượng, dân chúng đông đúc. Ta sẽ chinh
phạt để thu phục nước ấy.”
Rồi
vua A-xà-thế bảo bà-la-môn Bà-lợi-ca[87] rằng:
“Ông
hãy đến chỗ Thế Tôn, xưng tên họ ta mà hỏi thăm Thế
Tôn, đảnh lễ, thừa sự rồi thưa: ‘Vua A-xà-thế bạch
Thế Tôn, vua có ý muốn chinh phạt nước Bạt-kỳ, không biết
có được không?’ Nếu Như Lai có dạy gì, ông hãy nhớ kỹ
rồi về nói lại cho ta. Vì sao vậy? Như Lai không có nói hai
lời.”
Bà-la-môn
vâng lệnh vua, đến chỗ Thế Tôn, thăm hỏi rồi ngồi qua
một bên. Bà-la-môn bạch Phật rằng:
“Vua
A-xà-thế kính lạy Thế Tôn, thừa sự, hỏi thăm.”
Rồi
lại bạch:
“Ý
muốn vua muốn công phạt nước Bạt-kỳ, trước hết đến
hỏi Phật, không biết có được không?”
Bấy
giờ, Bà-la-môn kia lấy y che kín đầu, chân mang giày ngà voi,
hông đeo kiếm bén, không nên vì ông nói pháp.
Khi
ấy, Thế Tôn bảo A-nan:
“Nếu
nhân dân nước Bạt-kỳ tu bảy pháp, quyết không bị giặc
cướp bên ngoài tiêu diệt. Những gì là bảy? Nếu nhân dân
nước Bạt-kỳ tập họp lại một chỗ không phân tán, sẽ
không bị nước khác phá hoại. Đó gọi là pháp thứ nhất
không bị giặc cướp bên ngoài phá hoại.
“Lại
nữa, A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ trên dưới hoà [738b]
thuận, nhân dân nước Bạt-kỳ sẽ không bị người ngoài
cầm giữ. Này A-nan, đó gọi là pháp thứ hai không bị giặc
cướp bên ngoài phá hoại.
“Lại
nữa, A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ không tà dâm, đắm
sắc người nữ khác, đó gọi là pháp thứ ba không bị giặc
ngoại xâm phá hoại.
“Lại
nữa, A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ không đem việc nơi
này truyền đến nơi kia, cũng lại không đem việc nơi kia
truyền đến nơi này, đó gọi là pháp thứ tư không bị giặc
cướp bên ngoài phá hoại.
“Lại
nữa, A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ cúng dường sa-môn,
Bà-la-môn, thừa sự, kính lễ đồng phạm hạnh, đó gọi
là pháp thứ năm không bị giặc cướp bên ngoài phá hoại.
“Lại
nữa, A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ không tham đắm của
báu người khác, đó gọi là pháp thứ sáu không bị giặc
cướp bên ngoài phá hoại.
“Lại
nữa, A-nan, nếu người nước Bạt-kỳ đều cùng một lòng,
hướng[88] đến miếu thần, mà chuyên tinh ý mình, sẽ không
bị giặc cướp bên ngoài phá hoại. Đó gọi là pháp thứ
bảy không bị giặc ngoại xâm phá hoại.
“A-nan,
đó gọi là người Bạt-kỳ tu bảy pháp này, quyết không
bị giặc cướp bên ngoài phá hoại.”
Khi
ấy, bà-la-môn bạch Phật:
“Giả
sử ng