SÁU
PHÁP
37.
PHẨM
SÁU TRỌNG PHÁP
KINH
SỐ 1
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ngươi hãy suy niệm sáu trọng pháp,[1] kính trọng, tôn trọng,
và ghi nhớ mãi ở trong tâm không cho quên mất.[2] Sao gọi
là sáu? Ở đây, Tỳ-kheo thân hành niệm từ,[3] như soi gương
thấy hình mình, đáng kính, đáng quý, không để quên mất.
“Lại
nữa, khẩu hành niệm từ, ý hành niệm từ, đáng kính, đáng
quý, không để quên mất.
“Lại
nữa, được các thứ lợi lộc đúng pháp thì nên chia cho
các phạm hạnh cùng hưởng, không tưởng tiếc rẻ; pháp này
đáng kính, đáng quí, không để quên mất.
“Lại
nữa, có các giới cấm không hủ, không bại, cực kỳ hoàn
hảo, không sứt, không thủng, được bậc trí quí trọng,
lại muốn đem giới này được phân bố cho người khác cũng
đồng một vị; pháp này đáng kính, đáng quí không để quên
mất.
“Lại
nữa, chánh kiến của Hiền Thánh dẫn đến xuất yếu; có
kiến giải như vậy, và muốn các vị phạm hạnh đồng tu
cùng đồng pháp này, cũng đáng kính, đáng quí, không để
quên mất.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là có sáu trọng pháp này, đáng kính, đáng
quí, không để quên mất. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy thường
xuyên tu tập các hành vi của thân, miệng, ý; nếu được
các thứ lợi dưỡng, cũng nên nghĩ phân đều cho nhau, chớ
khởi tưởng tham.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật ở tại ao A-nậu-đạt[4] cùng chúng Tỳ-kheo
gồm năm trăm vị. Các vị ấy đều là La-hán, tam minh[5],
lục thông, thần túc tự [709a01] tại, tâm không sợ hãi, chỉ
trừ một Tỳ-kheo A-nan.
Bấy
giờ, Thế Tôn ngồi trên hoa sen vàng mà cọng sen được làm
bằng bảy báu. Năm trăm Tỳ-kheo đều ngồi trên hoa sen báu.
Khi ấy, Long vương A-nậu-đạt[6] đến chỗ Thế Tôn, đảnh
lễ sát chân, rồi đứng qua một bên.
Sau
khi quan sát hết Thánh chúng rồi, Long vương bạch Thế Tôn:
“Nay
con thấy trong chúng này, trống, thiếu, không đủ, vì không
có tôn giả Xá-lợi-phất. Cúi xin Thế Tôn sai một Tỳ-kheo
mời tôn giả Xá-lợi-phất đến.”
Lúc
ấy, Xá-lợi-phất đang ngồi vá y cũ tại tinh xá Kỳ-hoàn.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo tôn giả Mục-liên:
“Thầy
đến chỗ Xá-lợi-phất bảo Xá-lợi-phất rằng: ‘Long vương
A-nậu-đạt muốn tương kiến.”
Mục-liên
đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!”
Trong
khoảnh khắc co duỗi cánh tay, Tôn giả Mục-liên đã đến
chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất tại tinh xá Kỳ-hoàn, và nói với
Xá-lợi-phất, Như Lai dạy: ‘Long vương A-nậu-đạt muốn
tương kiến.’
Xá-lợi-phất
đáp:
“Thầy
hãy đi trước. Tôi sẽ đến sau.”
Mục-liên
đáp:
“Hết
thảy Thánh chúng và Long vương A-nậu-đạt mong đợi tôn nhan,
muốn được tương kiến, xin hãy đi ngay, đừng có chậm trễ.”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Thầy
hãy đến đó trước. Tôi sẽ đến sau.”
Lúc
ấy, Mục-liên lại nói lại:
“Thế
nào, Xá-lợi-phất, trong thần túc, có thể hơn được tôi
sao, mà nay lại bảo tôi đi trước? Nếu Thầy không đứng
dậy ngay thì tôi sẽ nắm cánh tay kéo đến suối ấy.”
Lúc
ấy, Xá-lợi-phất nghĩ thầm: ‘Mục-liên đang tìm cách đùa
thử ta vậy!’
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất cởi dây đai kiệt-chi[7] đặt
xuống đất, nói với Mục-liên:
“Nếu
thần túc của Thầy là đệ nhất, thử cất giải y này lên
khỏi mặt đất, sau đó hãy nắm cánh tay tôi dẫn đến ao
A-nậu-đạt.”
Mục-liên
nghĩ thầm:
“Xá-lợi-phất
định đùa với ta nên muốn thử chăng? Nay ông ấy đã cởi
dây đai đặt trên đất bảo ta nếu cất lên được, sau đó
nắm cánh tay dẫn đi.”
Mục-liên
lại nghĩ: ‘Đây ắt có nguyên nhân, nếu không, chẳng việc
gì phải khổ nhọc.’ Lập tức, Tôn giả duỗi tay lấy sợi
đai nâng lên, nhưng không thể khiến dây đai nhúc nhích mảy
may nào. Mục-liên dùng hết sức của mình, vẫn không di chuyển
đai này, không thể làm lay động được. Rồi Xá-lợi-phất
lấy đai ấy buộc chặt vào cành cây [709c01] diêm-phù. Tôn
giả Mục-liên lại dùng hết thần lực của mình muốn nâng
dây này, nhưng không thể làm nó lay động, rốt cuộc không
thể làm di chuyển được. Đang lúc nâng đai này lên, đất
Diêm-phù chấn động.
Xá-lợi-phất
nghĩ thầm: ‘Tỳ-kheo Mục-liên có thể khiến Diêm-phù-đề
này rung động, huống chi dây đai này. Nay ta nên đem đai này
buộc chặt vào hai thiên hạ.’ Bấy giờ, Mục-liên cũng lại
nâng nó. Buộc vào ba thiên hạ cho đến bốn thiên hạ cũng
có thể nâng lên như nâng chiếc y mỏng.
Bấy
giờ, Xá-lợi-phất lại nghĩ thầm: ‘Tỳ-kheo Mục-liên có
thể nâng bốn thiên hạ, cũng không đáng để nói. Nay ta phải
đem đai này buộc chặt vào lưng núi Tu-di.’ Mục-liên lại
làm lay động núi Tu-di này và cung Tứ thiên vương, cung trời
Tam thập tam. Xá-lợi-phất lại buộc chặt đai ấy vào một
ngàn thế giới. Mục-liên cũng làm cho lay động.
Xá-lợi-phất
lại buộc chặt đai này vào hai ngàn thế giới, ba ngàn thế
giới, cũng lại lay động. Khi ấy, trời đất chấn động
mạnh, chỉ có chỗ Như Lai ở ao A-nậu-đạt là không lay động,
giống như người lực sĩ đùa với lá cây, không nghi nan.”
Bấy
giờ, Long vương bạch Thế Tôn :
“Vì
sao trời đất này nay chấn động dữ vậy?”
Thế
Tôn nói hết duyên gốc này cho Long vương.
Long
vương bạch Phật:
“Hai
vị ấy, thần lực của ai là hơn hết?”
Thế
Tôn bảo:
“Thần
lực Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là hơn hết.”
Long
vương bạch Phật:
“Trước
đây Thế Tôn đã từng xác nhận, thần túc của Tỳ-kheo Mục-liên
là bậc nhất, không ai vượt hơn được.”
Thế
Tôn đáp:
“Long
vương nên biết, có bốn thần túc. Sao gọi là bốn? Là tự
tại tam-muội thần lực, tinh tấn tam-muội thần lực, tâm
tam-muội thần lực, giới tam-muội thần lực.[8] Này Long vương,
đó gọi là có bốn thần túc lực này. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
nào có bốn thần lực này, thường xuyên tu hành không hề
buông bỏ, đó là thần lực bậc nhất.”
Long
vương A-nậu-đạt bạch Phật:
“Tỳ-kheo
Mục-liên không được bốn thần túc ấy sao?”
Thế
Tôn bảo:
“Tỳ-kheo
Mục-liên cũng được bốn thần túc lực này và thường xuyên
tu hành không hề buông bỏ. Tỳ-kheo Mục-liên muốn giữ thọ
mạng đến một kiếp, cũng có thể làm được. Nhưng Tỳ-kheo
Mục-liên không biết tên của tam-muội mà Xá-lợi-phất nhập.”
Lúc
ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất lại nghĩ thầm: “Ba ngàn đại
thiên quốc độ, Mục-liên [709c01] đều có thể di chuyển,
làm cho vô số côn trùng bị chết, không tính hết. Nhưng tự
thân ta nghe chỗ ngồi của Như Lai không thể lay động được.
Nay ta có thể dùng đai này buộc chặt vào chỗ ngồi của
Như Lai.” Mục-liên lại dùng thần túc nâng dây đai ấy nhưng
không thể làm lay động. Mục-liên nghĩ thầm như vầy: “Chẳng
lẽ thần túc ta bị sút giảm rồi sao? Nay nâng đai này mà
không thể làm nó lay động. Ta hãy đến chỗ Thế Tôn mà
hỏi ý nghĩa này.”
Mục-liên
sau khi buông đai này, liền dùng thần túc đi đến chỗ Thế
Tôn. Từ xa, trông thấy Xá-lợi-phất đã ngồi ở trước
Như Lai. Thấy vậy, Mục-liên lại nghĩ thầm: “Đệ tử của
Thế Tôn, thần túc bậc nhất không ai vượt qua ta. Nhưng ta
không bằng Xá-lợi-phất sao?”
Bấy
giờ, Mục-liên bạch Phật:
“Không
lẽ với thần túc, con đã có sự sút giảm chăng? Vì sao vậy?
Vì con rời khỏi tinh xá Kỳ-hoàn trước Xá-lợi-phất, sau
đó Xá-lợi-phất mới đi. Nay Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã ngồi
trước Như Lai.”
Phật
bảo:
“Thần
túc của ngươi không hề giảm sút, nhưng ngươi không thể
hiểu được thần túc tam-muội mà Xá-lợi-phất đã nhập.
Vì sao vậy? Vì trí huệ của Tỳ-kheo Xá-lợi-phất vô lượng,
tâm được tự tại. Ngươi không được tùy tâm bằng Tỳ-kheo
Xá-lợi-phất. Xá-lợi-phất đã được tự tại nơi tâm thần
túc. Khi Tỳ-kheo Xá-lợi-phất nghĩ đến pháp gì, tâm được
tự tại đối với pháp ấy.” Đại Mục-liên ngay lúc đó
im lặng.
Long
vương A-nậu-đạt vui mừng hớn hở, không tự chế được,
vì nay Tỳ-kheo Xá-lợi-phất có rất nhiều thần lực không
thể nghĩ bàn. Những tam-muội mà ngài nhập, Tỳ-kheo Mục-liên
không thể biết tên được.
Bấy
giờ, Thế Tôn vì Long vương A-nậu-đạt thuyết pháp vi diệu,
khích lệ, làm Long vương hoan hỷ. Ngay tại đó Thế Tôn thuyết
giới. Sáng sớm hôm sau, Thế Tôn dẫn các Tỳ-kheo trở về
vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo nói với nhau: “Từ miệng Thế Tôn đã
ký thuyết, người có thần thông bậc nhất trong các Thanh
văn chính là Tỳ-kheo Mục-liên, nhưng ngày nay không bằng Xá-lợi-phất.”
Khi
ấy, các Tỳ-kheo khởi tưởng khinh mạn đối Mục-liên. Bấy
giờ, Thế Tôn nghĩ thầm: ‘Các Tỳ-kheo này khởi tưởng
khinh mạng đối với Mục-liên, sẽ chịu tội khó kể hết.’
Phật bảo Mục-liên:
“Hãy
hiện thần lực của ngươi khiến cho chúng này thấy, chớ
để cho đại chúng khởi tưởng biếng nhác.”
Mục-liên
đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
Mục-liên
lễ sát chân Thế Tôn, rồi ngay ở trước Như Lai mà biến
mất, đi qua [710a01] bảy hằng hà sa cõi Phật phương Đông.
Ở đó, có Phật tên Kỳ Quang Như Lai Chí chơn Đẳng chánh
giác xuất hiện ở cõi ấy. Mục-liên đến cõi ấy với y
phục phàm thường, rồi ở đó đi quanh trên miệng bát. Nhân
dân ở cõi ấy có hình thể rất lớn. Khi các Tỳ-kheo ở
đó thấy Mục-liên, nói với nhau:
“Các
thầy hãy nhìn xem, con sâu này giống y như Sa-môn.”
Các
Tỳ-kheo bắt xuống cho Phật ấy xem:
“Bạch
Thế Tôn, nay có một con sâu giống y như Sa-môn.”
Kỳ
Quang Như Lai bảo các Tỳ-kheo:
“Cách
đây bảy hằng hà sa quốc độ thế giới kia về phương Tây,
có Phật hiệu là Thích-ca Văn Như Lai Chí chơn Đẳng chánh
giác xuất hiện ở đời. Đây là đệ tử vị ấy, thần
túc bậc nhất.”
Bấy
giờ, đức Phật kia bảo Mục-liên:
“Các
Tỳ-kheo này nảy ý tưởng khinh mạn. Ngươi hãy hiện thần
túc cho đại chúng được thấy.”
Mục-liên
đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
Mục-liên
vâng lời Phật dạy, lấy bình bát đựng năm trăm Tỳ-kheo
kia đem lên trời Phạm thiên. Khi ấy, Mục-liên dùng chân trái
dẫm lên núi Tu-di, chân phải đặt trời Phạm thiên, rồi
nói kệ này:
Thường hãy niệm tinh cần,
Tu hành trong pháp Phật.
Hàng phục Ma, oán địch,
Như dùng móc dạy voi.[9]
Nếu ai nơi pháp này
Thực hành không phóng dật,
Sẽ dứt sạch gốc khổ
Không còn các bức não.[10]
Bấy
giờ, Mục-liên làm cho âm vang này tràn đầy khắp tinh xá
Kỳ-hoàn. Các Tỳ-kheo khi nghe âm thanh này, đến bạch Thế
Tôn:
“Mục-liên
đang ở nơi nào mà nói bài kệ này?”
Thế
Tôn đáp:
“Tỳ-kheo
Mục-liên đang ở cách đây bảy hằng hà sa cõi Phật về
phương Đông, đựng năm trăm Tỳ-kheo trong bình bát, chân trái
dẫm lên núi Tu-di, chân phải đặt lên trời Phạm thiên mà
nói bài kệ này.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo tán thán:
“Thật
là việc chưa từng có, thật là kỳ diệu! Tỳ-kheo Mục-liên
có thần túc lớn như vậy mà đối với Mục-liên chúng con
khởi ý khinh mạn. Xin Thế Tôn bảo Tỳ-kheo Mục-liên đem
năm trăm Tỳ-kheo ấy trở về chốn này.”
Thế
Tôn hiện từ xa đạo lực cho Mục-liên biết ý. Mục-liên
bèn đem năm trăm Tỳ-kheo trở về vườn Cấp Cô Độc, rừng
cây Kỳ-đà thành Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết
Pháp cho hàng nghìn vạn chúng. [710a28] Đại Mục-liên đem năm
trăm Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn. Đệ tử của Phật Thích-ca
Văn ngước lên nhìn các Tỳ-kheo ấy. Lúc ấy, các Tỳ-kheo
ở thế giới phương Đông đảnh lễ sát chân Thế Tôn rồi
ngồi qua một bên. Bấy giờ, Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo ấy:
“Các
vị từ đâu đến và là đệ tử của ai, đi đường mất
bao lâu?”
Năm
trăm Tỳ-kheo kia bạch Phật Thích-ca Văn:
“Thế
giới chúng con hiện ở phương Đông. Phật hiệu là Kỳ Quang
Như Lai. Chúng con là đệ tử của Phật ấy. Nhưng hôm nay
chúng con lại cũng không biết là từ đâu đến và đã trải
bao nhiêu ngày!”
Thế
Tôn hỏi:
“Các
ông có biết thế giới Phật không?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
không, bạch Thế Tôn.”
“Hôm
nay các vị có muốn về lại nơi ấy không?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn. Chúng con muốn trở về lại nơi ấy.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo kia:
“Hôm
nay, Ta sẽ vì các vị nói về pháp sáu giới, hãy suy niệm
kỹ.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, Thế Tôn”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
“Vì
sao pháp ấy được gọi là pháp sáu giới? Tỳ-kheo nên biết,
con người là sáu giới,[11] thụ bẩm tinh khí của cha mẹ
mà sanh ra. Sao gọi là sáu? Đó là địa giới, thủy giới,
hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.[12] Này Tỳ-kheo,
đó gọi là có sáu giới này. Thân người thụ bẩm tinh khí
này mà sanh sáu xứ[13]. Sao gọi là sáu xứ? Đó là xứ của
mắt, xứ của tai, xứ của mũi, xứ của lưỡi, xứ của
thân và xứ của ý. Này Tỳ-kheo, đó gọi là có sáu xứ này,
nhờ cha mẹ mà có được. Y nơi sáu xứ mà có sáu thức thân.
Sao gọi là sáu? Y nơi thức của mắt mà có thức thân của
mắt thân. Y nơi thức của tai, thức của mũi, thức của lưỡi,
thức của thân, thức của ý mà có thức thân của ý.[14]
Này Tỳ-kheo, đó gọi là sáu thức thân. Nếu có Tỳ-kheo nào
hiểu sáu giới, sáu xứ, sáu thức này, có thể vượt qua
sáu cõi trời mà thọ hình trở lại.[15] Nếu ở nơi ấy mạng
chung sẽ sanh vào chốn này, thông minh tài cao, ngay trên hiện
thân dứt sạch kết sử, đạt đến Niết-bàn.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Mục-liên:
“Nay
ngươi hãy đem các Tỳ-kheo này trở về cõi Phật ấy.”
Mục-liên
đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.”
Mục-liên
lại lấy bình bát đựng năm trăm Tỳ-kheo ấy, nhiễu Phật
ba vòng rồi lui đi, trong khoảnh khắc co duỗi cánh tay đã
đến cõi Phật ấy. Mục-liên đặt các Tỳ-kheo này xuống
xong, đảnh lễ sát chân Phật ấy, rồi trở về thế giới
Nhẫn này[16]. Các Tỳ-kheo cõi kia sau khi nghe sáu giới này
đều dứt sạch cấu uế, được mắt pháp [710c01] trong sạch.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo,
“Trong
các đệ tử của ta, Thanh văn có thần thông bậc nhất khó
ai bì kịp, chính là Tỳ-kheo Đại Mục-kiền-liên.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Sư tử,[17] nước Bạt-kỳ.
Lúc ấy, các Tỳ-kheo đức cao có thần túc[18], như hiền giả
Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Ca-diếp, Ly-việt, A-nan,
v.v..., gồm năm trăm người đều có mặt.
Bấy
giờ, vào lúc sáng sớm, Đại Mục-liên, Đại Ca-diếp, A-na-luật,
đi đến chỗ Xá-lợi-phất. A-nan trông thấy ba đại Thanh
văn đến chỗ Xá-lợi-phất, liền bảo Ly-việt:
“Ba
đại Thanh văn đến chỗ Xá-lợi-phất. Hai chúng ta cũng nên
đến chỗ Xá-lợi-phất. Vì sao vậy? Để nghe Xá-lợi-phất
nói pháp vi diệu.”
Ly-việt
đáp:
“Việc
này đáng vậy.”
Lúc
ấy, Ly-việt, A-nan đến chỗ Xá-lợi-phất. Xá-lợi-phất
nói:
“Kinh
chào chư hiền! Mời ngồi xuống chỗ này.”
Xá-lợi-phất
nói với A-nan:
“Nay
tôi có điều muốn hỏi: vườn Ngưu sư tử này thật là khả
ái lạc, hương trời tự nhiên bay khắp bốn phía. Ai có thể
làm cho khu vườn này trở nên khả ái[19]?”
A-nan
đáp:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào nghe nhiều, những điều đã nghe không quên,
tổng trì nghĩa và vị[20] của các pháp, tu hành phạm hạnh
đầy đủ.[21] Các pháp như vậy thảy đều đầy đủ, không
quên sót, vì chúng bốn bộ mà nói pháp không mất thứ lớp,
cũng không sơ sót, không có loạn tưởng. Tỳ-kheo như vậy
làm cho khu vườn Ngưu sư tử này trở nên khả ai lạc.”
Bấy
giờ, Xá-lợi-phất nói với Ly-việt[22]:
“Hôm
nay, A-nan đã nói rồi. Nay tôi lại muốn hỏi ý nghĩa nơi
Thầy. Vườn Ngưu sư tử mà trở thành khả ái lạc, Thầy
hãy nói, có nghĩa như thế nào?”[23]
Ly-việt
đáp:
“Tỳ-kheo
vui thích sống nơi nhàn tĩnh, tọa thiền tư duy, cùng tương
ưng chỉ quán. Tỳ-kheo như vậy làm cho khu vườn Ngưu sư tử
trở thành khả ái.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất lại nói với A-na-luật[24]:
“Nay
Thầy hãy nói về ý nghĩa làm cho khả ái.”
A-na-luật
đáp:
“Nếu
Tỳ-kheo nào dùng thiên nhãn quan sát trông suốt các chúng sanh
kẻ chết người sống, sắc đẹp, sắc xấu, đường lành,
đường ác, hoặc tốt hoặc xấu; thảy đều biết tất cả.
Hoặc có chúng sanh thân, [711a01] miệng, ý hành ác, phỉ báng
Hiền thánh, thân hoại mạng chung sinh trong địa ngục; hoặc
lại có chúng sanh thân, miệng, ý hành thiện, không phỉ báng
Hiền Thánh. Giống như một người nhìn không trung, thấy không
thiếu thứ gì.[25] Tỳ-kheo có thiên nhãn cũng lại như vậy,
xem thấy thế giới không chút nghi ngờ. Tỳ-kheo làm cho khu
vườn Ngưu sư tử trở thành khả ái.”
Xá-lợi-phất
lại nói với Ca-diếp:
“Nay
tôi hỏi Thầy, các hiền giả đã nói ý nghĩa làm cho khả
ái như vậy. Nay đến lượt Thầy nói việc ấy.”
Ca-diếp
đáp:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào sống hành a-lan-nhã, lại khuyến khích người
khác hành A-lan-nhã, tán thán đức nhàn tĩnh, tự thân đắp
y vá nhiều mảnh,[26] lại khuyến khích người khác hành đầu-đà,
thân tự biết đủ, sống nơi nhàn tĩnh, lại khuyến khích
người khác tu hạnh ấy. Tự thân đầy đủ giới đức, thành
tựu tam-muội, thành tựu trí huệ, thành tựu giải thoát,
thành tựu giải thoát tri kiến,[27] lại dạy người khác khiến
hành pháp này, tán thán pháp này, đã có thể khuyến hóa,
lại dạy người khác khiến hành pháp này, giáo hóa không
biết mệt mỏi. Tỳ-kheo như vậy làm cho vườn Ngưu sư tử
trở thành khả ái không gì bằng.”
Tôn
giả Xá-lợi-phất nói Đại Mục-liên:
“Các
Hiền thánh đã nói ý nghĩa làm cho khả ái. Nay đến lượt
Thầy nói về ý nghĩa làm cho khả ái. Khu vườn Ngưu sư tử
này khoái lạc vô song, nay Thầy muốn nói thế nào điều đó?”
Mục-liên
đáp:
“Ở
đây, Tỳ-kheo nào có đại thần túc, được tự tại nơi
thần túc, vị ấy có thể biến hóa vô số ngàn việc mà
không có gì nghi ngờ. Cũng có thể phân một thân thành vô
số thân, hoặc hoàn lại thành một thân. Có thể đi xuyên
qua vách đá. Vọt lên, chìm xuống, một cách tự tại. Cũng
như thuyền lướt trên sông, giống như chim bay trên không,
chẳng lưu dấu vết. Giống như lửa dữ thiêu đốt núi hoang.
Cũng như mặt trời mặt trăng chiếu khắp mọi nơi. Cũng có
thể đưa tay sờ mặt trời, mặt trăng. Cũng có thể hóa thân
cao đến trời Phạm thiên. Tỳ-kheo như vậy khiến vườn Ngưu
sư tử khả ái[28].
Bấy
giờ, Mục-liên nói với Xá-lợi-phất:
“Chúng
tôi đều đã nói rõ ý kiến của mình. Nay chúng tôi hỏi
ý nghĩa nơi Xá-lợi-phất, Tỳ-kheo như thế nào làm cho khu
vườn Ngưu sư tử này trở thành rất là khả ái?”[29]
Xá-lợi-phất
nói:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào có khả năng hàng phục tâm, chứ không phải[30]
Tỳ-kheo không thể hàng phục tâm kia. Nếu Tỳ-kheo kia muốn
đạt tam-muội tức thì Tỳ-kheo kia có thể được [711b01]
tam-muội, tùy ý xa gần thành tựu tam-muội, tức có thể thành
tựu việc ấy. Giống như nhà trưởng giả có y phục đẹp
đựng đầy trong rương. Bấy giờ, trưởng giả kia tùy ý
muốn lấy những áo nào thì lấy tùy ý mà không có gì nghi
ngờ. Ở đây cũng vậy, có thể tùy ý nhập vào tam muội.
Tỳ-kheo có thể vận dụng tâm, chứ không phải Tỳ-kheo không
thể vận dụng tâm,[31] tùy ý nhập định cũng không có gì
nghi ngờ. Như vậy, Tỳ-kheo có thể vận dụng tâm, chứ không
phải Tỳ-kheo không thể vận dụng tâm. Tỳ-kheo như vậy sẽ
khiến vườn Ngưu sư tử khả ái.”
Rồi
Xá-lợi-phất nói với các hiền giả:
“Chúng
ta đã tùy theo biện tài của mình mà nói, và cũng tùy theo
chỗ thích hợp mà khéo nói ý nghĩa này. Chúng ta hãy cùng
đến hỏi Thế Tôn: ‘Tỳ-kheo như thế nào khiến vườn Ngưu
sư tử này khả ái?’ Nếu Thế Tôn có dạy điều gì thì
chúng ta sẽ phụng hành.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, Tôn giả Xá-lợi-phất!”
Lúc
ấy, các đại Thanh văn cùng nhau đi đến chỗ Thế Tôn. Đến
nơi, các ngài đảnh lễ sát chân Phật, rồi ngồi qua một
bên. Bấy giờ các đại Thanh văn đem nhân duyên này bạch
đầy đủ lên Phật.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo:
“Lành
thay, đúng như những gì A-nan nói. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo
A-nan nghe pháp có thể ghi nhớ, tổng trì các pháp mà đầy
đủ sự tu hành phạm hạnh. Với pháp như vậy, được khéo
nghe, không quên sót, cũng không có tà kiến, vì chúng bốn
bộ mà nói lại, lời lẽ không thác loạn, cũng không sơ suất.
“Những
điều Tỳ-kheo Ly-việt nói lại cũng thích thay! Vì sao vậy?
Ly-việt ưa thích nơi nhàn tĩnh, không ở giữa người đời,
thường niệm tọa thiền, không có tranh cải, cùng tương ưng
chỉ quán, sống an tịch mịch nhàn tĩnh.
“Tỳ-kheo
A-na-luật nói cũng lại thích thay! Vì sao vậy? Tỳ-kheo A-na-luật
thiên nhãn bậc nhất. Vị ấy dùng thiên nhãn quan sát ba ngàn
thế giới. Giống như người sáng mắt xem hạt ngọc trong
lòng bàn tay, Tỳ-kheo A-na-luật cũng lại như vậy, dùng thiên
nhãn quan sát khắp ba ngàn đại thiên thế giới này không
chút đáng ngờ.
“Nay
Tỳ-kheo Ca-diếp cũng lại thích thay! Vì sao vậy? Tỳ-kheo Ca-diếp
tự thân sống hành a-lan-nhã, lại hay tán thán đời sống
ở nơi nhàn tĩnh. Tự mình khất thực, lại có thể ca ngợi
đức khất thực. Tự thân mặc y rách vá, lại hay tán thán
về đức mặc y rách vá. Tự thân biết đủ, lại tán thán
về đức biết đủ Tự thân ở nơi hang núi, lại hay tán
thán về đức ở hang núi. Tự thân thành tựu giới, thành
tựu tam-muội, thành tựu trí huệ, [711c01] thành tựu giải
thoát, thành tựu giải thoát tri kiến*, lại hay dạy người
thành tựu năm phần Pháp thân này. Tự thân có thể giáo hóa,
lại hay khiến mọi người thực hành Pháp ấy.
“Lành
thay! Lành thay! Như những gì Mục-liên đã nói. Vì sao vậy?
Tỳ-kheo Mục-liên có oai lực lớn, thần thông bậc nhất,
tâm được tự tại, ý muốn kia làm gì đều có thể thành
ngay. Hoặc hóa một thân phân làm vạn ức, hoặc hợp trở
lại làm một. Đi xuyên qua vách đá mà không có trở ngại.
Vọt lên, chìm xuống tự tại. Cũng như thuyền lướt trên
nước, không chướng ngại. Như chim giữa hư không, không để
lại dấu vết. Giống như mặt trời, mặt trăng, không chỗ
nào không chiếu. Có thể hóa thân cho đến trời Phạm thiên.
“Lành
thay! Như những gì Xá-lợi-phất nói. Vì sao vậy? Xá-lợi-phất
có thể hàng phục tâm, không phải không hàng phục tâm. Xá-lợi-phất
khi muốn nhập định thì có thể thành tựu không có khó ngại.
Giống như trưởng giả có y phục đẹp, tùy ý lấy mà không
có khó ngại. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất cũng lại như vậy, có
thể hàng phục tâm, không phải không có thể hàng phục. Xá-lợi-phất
tùy ý nhập tam-muội, tất cả đều hiện tiền.
“Lành
thay! Lành thay! các Tỳ-kheo, các Thầy đã nói những gì theo
chỗ thích hợp của mình. Nhưng bây giờ hãy nghe những gì
Ta nói. Tỳ-kheo làm sao khiến vườn Ngưu sư tử khả ái? Tỳ-kheo
sống nương theo làng xóm, đến giờ, vị ấy đắp y mang bát,
vào làng khất thực. Sau khi khất thực xong, vị ấy trở về
chỗ ở, rửa mặt và tay, ngồi dưới bóng một gốc cây,
chánh thân, chánh ý, ngồi kiết già, buộc niệm trước mặt.
Tỳ-kheo ấy nghĩ thầm: ‘Nay ta sẽ không dời bỏ chỗ ngồi
này, cho đến khi diệt tận hữu lậu, thành vô lậu.’
“Bấy
giờ, Tỳ-kheo kia sạch hữu lậu, tâm được giải thoát. Tỳ-kheo
như vậy khiến vườn Ngưu sư tử khả ái. Vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy luôn siêng năng tinh tấn, chớ có biếng nhác.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay,
Ta sẽ nói về sự chú nguyện có sáu đức, các vị hãy lắng
nghe và suy nghĩ kỹ.”
các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo vâng theo lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
“Sáu
đức ấy là gì? Ở đây, đàn việt thí chủ thành tựu ba
[0712a01] pháp. Thế nào là đàn-việt thí chủ thành tựu ba
pháp? Ở đây, đàn việt thí chủ thành tựu tín căn, thành
tựu giới đức, thành tựu pháp nghe. Đó gọi là đàn việt
thí chủ thành tựu ba pháp này.
“Vật
được thí cũng thành tựu ba pháp. Sao gọi là ba? Vật kia
thành tựu sắc, thành tựu vị, thành tựu hương. Có ba pháp
thành tựu này.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là có sáu sự này được công đức lớn,
danh đức vang xa, đạt được báo cam lồ. Cho nên, các Tỳ-kheo,
nếu muốn thành tựu sáu sự này, hãy niệm bố thí.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho vô số người. Lúc ấy
có một Tỳ-kheo ở trên chỗ ngồi, nghĩ thầm: “Mong Như
Lai nói với ta điều gì đó.” Bấy giờ Như Lai biết những
ý nghĩ trong tâm vị ấy, nên bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
có Tỳ-kheo nào nghĩ như vầy: ‘Ước mong Như Lai đích thân
giáo huấn ta;’ Tỳ-kheo ấy hãy đầy đủ giới thanh tịnh,
không có tỳ vết, tu hành chỉ quán, thích ở nơi nhàn tĩnh.
“Nếu
Tỳ-kheo nào có ý muốn cầu y phục, đồ ăn thức uống, giường
nằm, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh, hãy thành tựu giới
đức, ở nơi nhàn tĩnh mà tự tu hành, cùng chỉ quán tương
ưng.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại muốn cầu sự biết đủ, hãy niệm giới
đức đầy đủ, ở nơi nhàn tĩnh mà tự tu hành, cùng tương
ưng với chỉ quán.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại mong cầu sao cho chúng bốn bộ, quốc vương,
nhân dân, các loài có hình hài trong thấy nhận biết mình,
vị ấy hãy niệm tưởng đầy đủ giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào ý muốn cầu bốn thiền, trong đó không tâm hối
tiếc, không dời đổi, hãy niệm thành tựu giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn cầu bốn thần túc, hãy đầy đủ
giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn cầu tám giải thoát môn mà không
trở ngại, vị ấy cũng hãy niệm đầy đủ giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn cầu thiên nhĩ nghe hết tiếng trời
người, hãy niệm đầy đủ giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn cầu biết những ý nghĩ trong tâm
người khác, các căn thiếu sót, vị ấy cũng hãy niệm đầy
đủ giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn cầu biết tâm ý chúng sanh là tâm
hữu dục hay tâm vô dục, tâm có sân hận hay tâm không sân
hận, [712b01] tâm có ngu si hay tâm không ngu si, như thật biết
chúng. Tâm có ái hay tâm không ái, tâm có thọ hay tâm không
thọ, như thật biết chúng. Tâm có loạn hay tâm không loạn,
tâm có ganh ghét hay tâm không ganh ghét, tâm có nhỏ mọn hay
tâm không nhỏ mọn, tâm hạn lượng hay tâm không hạn lượng,
tâm có cảm thọ hay tâm không cảm thọ, tâm có định hay
tâm không định, tâm có giải thoát hay tâm không giải thoát,
người nào muốn biết như thật như vậy cũng phải đầy
đủ giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn được vô lượng thần túc, phân
một thân thành vô số và hợp trở lại thành một, vọt lên
và chìm xuống tự tại, có thể hóa thân cho đến Phạm thiên,
vị ấy cũng phải niệm đầy đủ giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn cầu tự mình nhớ lại những việc
trong vô số đời trước, hoặc một đời, hai đời cho đến
ngàn đời, trăm ngàn ức đời, trong một kiếp thành, kiếp
bại, kiếp thành bại không thể đếm hết. ‘Ta đã từng
chết đây, sanh kia, tên ấy, họ ấy, hoặc từ nơi kia chết
sanh đến chốn này.’ Tự nhớ những việc vô số kiếp như
vậy, hãy niệm đầy đủ giới đức mà không có niệm khác.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn được thiên nhãn trông thấy hết
chúng sanh, đường lành đường dữ, sắc đẹp sắc xấu,
hoặc tốt, hoặc xấu, như thật mà biết. Hoặc lại có chúng
sanh thân, miệng, ý hành ác, phỉ báng Hiền thánh, thân hoại
mạng chung sinh trong địa ngục; hoặc lại có chúng sanh thân,
miệng, ý hành thiện, không phỉ báng Hiền thánh, tâm ý chánh
kiến, thân hoại mạng chung sinh lên trời nơi lành; người
có ý muốn như vậy, hãy niệm đầy đủ giới đức.
“Nếu
Tỳ-kheo nào lại ý muốn cầu diệt tận hữu lậu, thành vô
lậu, tâm giải thoát, trí huệ giải thoát, biết như thật
rằng, Sanh tử đã dứt, Phạm hạnh đã lập, việc cần làm
đã làm xong, không còn tái sinh đời sau; hãy niệm đầy đủ
giới đức, trong tự tư duy không có loạn tưởng, sống ở
nơi nhàn tĩnh.[32]
“Các
Tỳ-kheo, hãy niệm đầy đủ giới đức, không có niệm khác,
thành tựu đầy đủ oai nghi, sợ cả những lỗi nhỏ huống
gì là lỗi lớn.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào ý muốn được Như Lai nói đến, hãy niệm
đầy đủ giới đức. Giới đức đã đầy đủ, hãy niệm
nghe đầy đủ. Nghe đã đầy đủ thì, hãy niệm bố thí đầy
đủ. Thí đã đầy đủ thì, hãy niệm đầy đủ trí huệ,
và giải thoát tri kiến, thảy đều đầy đủ.
“Nếu
có Tỳ-kheo nào đầy đủ các thân giới, thân định, tuệ,
thân giải thoát, thân giải thoát tri kiến, được trời rồng,
quỷ thần trông thấy cúng dường, là chỗ đáng kính, đáng
quí, được trời người cung phụng. Cho nên, này các Tỳ-kheo,
ai niệm đầy đủ năm phần Pháp thân, người ấy là ruộng
phước thế gian, không gì hơn được.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.[33]
KINH
SỐ 6
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ
sát chân, rồi ngồi qua một bên. Lúc ấy, Xá-lợi-phất bạch
Thế Tôn rằng:
“Nay
con đã kết hạ tại thành Xá-vệ. Ý con muốn đi du hóa trong
nhân gian.”
Thế
Tôn bảo:
“Nay
là lúc thích hợp.”
Xá-lợi-phất
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật,
rồi ra đi.
Xá-lợi-phất
đi chưa lâu, có một Tỳ-kheo ôm ý phỉ báng, bạch Thế Tôn:
“Xá-lợi-phất
gây gỗ với các Tỳ-kheo, rồi không sám hối. Nay bỏ đi du
hành trong nhân gian.”[34]
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
“Ngươi
hãy mau đem lời của Ta gọi Xá-lợi-phất.”
Tỳ-kheo
đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!”
Phật
bảo Mục-liên, A-nan:
“Các
ngươi hãy đến các phòng tập hợp các Tỳ-kheo về chỗ Thế
Tôn. Vì sao vậy? Bằng tam-muội đã chứng nhập, Xá-lợi-phất
nay sẽ rống tiếng sư tử trước Như Lai.”
Lúc
ấy, các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, đều tập hợp về
chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi ngồi qua một bên.
Tỳ-kheo kia vâng lời Thế Tôn dạy, đi đến chỗ Xá-lợi-phất,
nói với Xá-lợi-phất:
“Như
Lai muốn gặp Thầy!”
Bấy
giờ, Xá-lợi-phất đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân, rồi
ngồi qua một bên. Phật bảo Xá-lợi-phất:
“Vừa
rồi, thầy vừa đi chưa lâu, có một Tỳ-kheo đến chỗ Ta,
bạch Ta rằng: ‘Tỳ-kheo Xá-lợi-phất [713a01] gây gỗ với
các Tỳ-kheo. Chưa sám hối mà bỏ đi du hành nhân gian.’ Điều
đó có thật không?”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Như
Lai đã biết điều đó.”
Thế
Tôn bảo:
“Ta
đã biết rồi. Nhưng nay đại chúng đều có lòng hoài nghi.
Nay, ở giữa đại chúng, ông hãy dùng biện tài của mình
mà làm sáng tỏ việc này.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Từ
khi ra khỏi thai mẹ đến tám mươi tuổi, con thường tự tư
duy, là chưa từng sát sanh, cũng chưa nói dối. Ngay cả trong
khi đùa vui cũng không nói láo. Con cũng chưa từng gây đấu
loạn người này với người kia. Hoặc giả có lúc không chuyên
ý, mới có thể làm việc này. Nhưng, bạch Thế Tôn, nay tâm
ý con thanh tịnh, há cùng đấu tranh với các vị phạm hạnh
sao?
“Cũng
như đất này, nhận cả sạch lẫn dơ. Phân, nước tiểu,
mọi thứ ô uế, thảy đều nhận hết. Máu mủ, đàm dãi,
cũng không hề khước từ. Thế nhưng, đất này cũng không
nói đó là xấu, cũng không nói đó là tốt. Con cũng như vậy,
bạch Thế Tôn, tâm không lay động, làm sao lại có tranh chấp
với đồng phạm hạnh, rồi bỏ đi đi xa? Người mà tâm không
chuyên nhất, mới có thể có việc này. Nay tâm con đã chánh,
làm sao lại có tranh chấp với đồng phạm hạnh, rồi bỏ
đi đi xa?
“Cũng
như nước, cũng có thể rửa sạch vật tốt, cũng có thể
rửa sạch vật không tốt. Nhưng nước kia không nghĩ rằng:
‘Ta làm sạch vật này; bỏ qua vật này.’ Con cũng như vậy,
không có tưởng khác, làm sao lại có tranh chấp với đồng
phạm hạnh, rồi bỏ đi đi xa?
“Giống
như ngọn lửa dữ thiêu đốt núi rừng, không lựa chọn tốt
xấu, không hề tưởng niệm gì. Con cũng như vậy, há lại
có tranh chấp với đồng phạm hạnh, rồi bỏ đi đi xa?
“Cũng
như chỗi quét, không có lựa tốt xấu, đều có thể quét
sạch, không hề tưởng niệm gì.[35]
“Giống
như bò không có hai sừng, hết sức hiền lành, không chút
hung bạo, rất dễ điều khiển, dẫn đi đâu tùy ý,
không có gì nghi ngại. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, tâm con như
vậy, không khởi tưởng gây tổn hại gì, há lại có tranh
chấp với đồng phạm hạnh, rồi bỏ đi đi xa?
“Cũng
như con gái dòng chiên-đà-la mặc áo rách nát, đi xin ăn giữa
người đời; không có gì phải cấm kỵ nó. Con cũng như vậy,
bạch Thế Tôn, cũng không có tưởng niệm rằng: ‘Cứ gây
gỗ rồi bỏ đi xa.’
“Cũng
như cái nồi đựng mỡ bị rò rỉ nhiều chỗ, người có
mắt thảy đều thấy chỗ rĩ ra. Con cũng như vậy, bạch Thế
Tôn, từ trong chín lỗ rỉ ra chất bất tịnh, há cùng đồng
phạm hạnh tranh cãi nhau.
“Giống
như thiếu nữ xinh đẹp, lại lấy xác chết quấn lên [713b01]
cổ rồi sanh ghê tởm nó. Thế Tôn, con cũng như vậy, nhờm
tởm thân này như thiếu nữ ấy không khác, há cùng đồng
phạm hạnh tranh cãi nhau rồi bỏ đi xa? Việc này không hề
có. Thế Tôn đã biết điều này. Tỳ-kheo kia cũng biết rõ
điều đó. Nếu có việc này, xin Tỳ-kheo ấy nhận sự sám
hối của con!”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo kia:
“Nay
ngươi nên tự hối lỗi. Vì sao vây? Vì nếu không sám hối,
đầu ông sẽ bị vỡ thành bảy mảnh.”
Lúc
ấy, Tỳ-kheo kia trong lòng sợ hãi, lông tóc đều dựng đứng,
vội rời chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Như Lai,
bạch Thế Tôn:
“Nay,
con tự biết xúc phạm Xá-lợi-phất. Cúi xin Thế Tôn nhận
sự sám hối của con.”
Thế
Tôn bảo:
“Tỳ-kheo,
ngươi hãy tự hướng về Xá-lợi-phất mà sám hối. Nếu
không đầu ngươi sẽ vỡ thành bảy mảnh.”
Lúc
ấy, Tỳ-kheo kia liền hướng đến Xá-lợi-phất đảnh lễ
sát chân, bạch Xá-lợi-phất:
“Cúi
xin ngài nhận sự sám hối của con. Vì ngu muội, không phân
biệt được sự thật.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:
“Nay
ông hãy nhận sự hối lỗi của Tỳ-kheo này, lại phải dùng
tay xoa đầu. Vì sao vậy? Vì nếu ông không nhận sự sám hối
của Tỳ-kheo này, đầu kia sẽ bị vỡ thành bảy mảnh.”
Xá-lợi-phất
dùng tay xoa đầu, nói Tỳ-kheo:
“Cho
phép Thầy sám hối! Như ngu, như si, trong Phật pháp này rất
là rộng rãi, có thể tùy thời hối lỗi. Lành thay! Nay ta
nhận sự sám hối của Thầy, sau này chớ tái phạm.” Xá-lợi-phất
nói như vậy ba lần.
Rồi
Xá-lợi-phất bảo Tỳ-kheo kia:
“Thầy
chớ có tái phạm. Vì sao vậy? Vì có sáu pháp dẫn vào địa
ngục, sáu pháp sanh thiên, sáu pháp dẫn đến Niết-bàn. Thế
nào là sáu? Muốn hại người khác. Vui mừng hớn hở, không
tự chế được, rằng: ‘Ta đã khởi hại tâm.’ Ở trong
đó khởi tâm hại rằng: ‘Ta sẽ dạy bảo người khiến
hại người khác.’ Khi đã hại được người, ở trong đó
khởi vui mừng: ‘Ta sẽ được câu hỏi về sự không thơm[36]
này’. Sự việc ấy chưa xảy ra, trong lòng ưu sầu. Đó gọi
là có sáu pháp khiến người rơi vào đường dữ.
“Sao
gọi là sáu pháp đưa người đến cõi lành? Thân giới đầy
đủ, khẩu giới đầy đủ, ý giới đầy đủ, mạng căn
thanh tịnh, không tâm giết hại, không tâm ganh ghét. Đó gọi
là có sáu pháp này sanh vào nơi lành.
“Sao
gọi là tu sáu pháp dẫn đến Niết-bàn? Đó là sáu pháp tư
niệm. Thế nào là sáu? Thân hành từ không hoen ố, miệng
hành từ không hoen ố [713c01], ý hành từ không hoen ố. Nếu
được đồ lợi dưỡng thì có thể phân chia đồng đều
cho người khác mà không có tưởng tiếc rẻ. Giữ gìn giới
cấm không có lầm lỗi; thành tựu đầy đủ giới mà người
trí quý trọng. Điều gì là tà kiến, chánh kiến, xuất yếu
của Hiền Thánh, dứt sạch gốc khổ; các kiến giải như
vậy, thảy đều phân minh.[37] Đó gọi là sáu pháp được
đến Niết-bàn. Nay Tỳ-kheo, thầy hãy tìm cầu phương tiện
hành sáu pháp này.
“Các
Tỳ-kheo, hãy phải học điều này như vậy.”
Bấy
giờ, Tỳ-kheo kia lại rời chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
sát chân Xá-lợi-phất: “Nay con lại tự sám hối. Vì như
ngu, như si mà không phân biệt được sự thật. Cúi xin Xá-lợi-phất
nhận sự hối lỗi của con. Sau này con sẽ không tái phạm.”
Xá-lợi-phất
nói:
“Cho
phép Thầy hối lỗi. Trong pháp Hiền thánh rất rộng rãi,
hãy tự sửa đổi. Từ nay về sau, chớ có tái phạm lại.”
Tỳ-kheo
kia sau khi nghe những gì Xá-lợi-phất dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói pháp Không tối thượng đệ nhất. Các ngươi hãy
lắng nghe và suy niệm kỹ!”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!”
Như
vậy, các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy.
Thế
Tôn bảo:
“Sao
gọi là pháp Không tối thượng đệ nhất[38]? Nếu khi mắt
khởi thì nó khởi, nhưng không thấy từ đâu đến. Khi mắt
diệt thì nó diệt, nhưng không thấy nơi nó diệt, trừ pháp
giả hiệu, pháp nhân duyên. Sao gọi là giả hiệu, nhân duyên?
Cái này có, thì (cái kia) có; cái này sanh, thì (cái kia) sinh.
Tức là, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh
sắc, danh sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc[39], xúc duyên
thọ[40], thọ duyên ái, ái duyên thủ[41], thủ duyên hữu,
hữu duyên sanh, sanh duyên chết, chết duyên sầu ưu khổ não
không thể đếm hết. Khổ ấm như vậy được tác thành.
“Nhân
duyên này không thì không (kia), đây diệt thì (kia) diệt, vô
minh diệt thì hành diệt; hành diệt thì thức diệt; thức
diệt thì danh sắc diệt; danh sắc diệt thì sáu xứ diệt;
sáu xứ diệt thì xúc* diệt; xúc diệt thì thọ* diệt; thọ
diệt thì ái diệt; ái diệt thì thủ* diệt; thủ diệt thì
hữu diệt; hữu diệt thì sanh diệt; sanh diệt thì chết diệt;
chết diệt thì sầu ưu khổ não đều bị diệt sạch ngoại
trừ pháp giả hiệu. Pháp tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng lại
như vậy. Khi khởi thì khởi, nhưng không biết nó từ đâu
đến. Khi diệt thì diệt cũng không biết nơi nó diệt, trừ
pháp giả hiệu kia. Pháp giả hiệu kia là, đây khởi thì (kia)
khởi, đây diệt thì (kia) diệt. Sáu xứ này cũng không có
người tạo tác, cũng vậy danh sắc.[42] Pháp sáu xứ là do
cha mẹ mà có thai, cũng không nhân duyên mà có. Đây cũng là
giả hiệu. Trước phải có đối đãi, sau đó mới có. Giống
như dùi cây tìm lửa. Vì trước có đối đãi, sau đó lửa
sanh. Lửa không từ cây ra, cũng không ở ngoài cây. Nếu có
người nào bổ cây tìm lửa, cũng không thể được. Đều
do nhân duyên hội hợp, sau đó có lửa. Sáu tình này khởi
bịnh cũng lại như vậy, đều do duyên hợp ở trong đó khởi
bệnh. Khi sáu xứ này khởi thì khởi, cũng không thấy nó
đến. Khi diệt thì diệt, cũng không thấy nó diệt, trừ pháp
giả hiệu kia. Nhân vì cha mẹ hội hợp mà có.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Trước
phải thọ bào thai,
Dần
dần như giọt sữa.
Rồi
giống như khối thịt.
Sau
mới tượng ra hình.
Trước
tiên sanh đầu cổ;
Kế
sanh tay, chân, ngón;
Và
sanh các bộ phận:
Lông,
tóc, móng, răng thành.
Nếu
khi mẹ ăn uống,
Các
thứ món ăn ngon,
Tinh
khí dùng nuôi mạng;
Nguồn
gốc của thọ thai.
Hình
hài thành đầy đủ,
Các
căn không thiếu sót;
Nhờ
mẹ được sanh ra
Thọ
thai khổ như vậy.
“Các
Tỳ-kheo nên biết, nhân duyên hội hợp mới có thân này. Lại
nữa, Tỳ-kheo, trong một thân người có ba trăm sáu mươi đốt
xương, chín vạn chín ngàn lỗ chân lông, năm trăm mạch máu,
năm trăm dây gân, tám vạn hộ trùng. Tỳ-kheo nên biết, thân
sáu xứ có những tai biến như vậy. Tỳ-kheo hãy niệm tư
duy về tai hoạn như vậy. Ai tạo ra bộ xương này? Ai hợp
gân mạch này? Ai tạo ra tám vạn hộ trùng này?
“Khi
Tỳ-kheo kia tư duy như vậy liền đắc hai quả A-na-hàm hoặc
A-la-hán,”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ này:
Ba
trăm sáu đốt xương,
Ở
trong thân người này.
Điều
mà Cổ Phật đã diễn,
Nay
ta cũng nói lại.
[714b01]
Gân gồm năm trăm dây;
Mạch
cũng cùng như vậy.
Trùng
có tám vạn loại.
Chín
vạn chín ngàn lông.
Hãy
quán thân như vậy;
Tỳ-kheo
cần tinh tấn,
Chóng
đắc đạo La-hán,
Đi
đến cõi Niết-bàn.
Pháp
này đều Không tịch,
Nhưng
người ngu tham đắm.
Người
trí tâm vui vẻ
Nghe
gốc pháp Không này.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là pháp Không tối thượng đệ nhất. Ta
đã nói cho các ngươi pháp được Như Lai thi hành[43]. Nay Ta
đã khởi lòng từ thương xót, điều cần làm Ta đã làm xong.
Các ngươi thường phải niệm tu hành pháp này. Ở chỗ nhàn
tĩnh, tọa thiền tư duy, chớ có biếng nhác. Nay không tu hành,
sau hối vô ích. Đó là lời giáo huấn của Ta.[44]
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, bà-la-môn Sanh Lậu đến chỗ Thế Tôn, thăm hỏi Phật
rồi, ngồi qua một bên. Bà-la-môn Sanh Lậu[45] bạch Thế Tôn:
“Thưa
Cù-đàm, ngày nay tâm ý của người sát-lợi muốn cầu sự
gì? Có hành nghiệp gì? Chấp theo giáo nghĩa nào?[46] Theo đuổi
mục đích gì? Tâm ý của người bà-la-môn ý muốn cầu sự
gì? Có hành nghiệp gì? Làm theo lời dạy nào? Theo đuổi gì?
Quốc vương ngày nay, ý muốn cầu gì? Có hành nghiệp gì?
Chấp theo giáo nghĩa nào? Theo đuổi mục đích gì? Kẻ trộm
ngày nay, ý muốn cầu gì? Có hành nghiệp gì? Chấp theo giáo
nghĩa nào? Theo đuổi mục đích gì? Người nữ ngày nay, ý
muốn cầu gì? Có hành nghiệp gì? Chấp theo giáo nghĩa nào?
Theo đuổi mục đích gì?”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo bà-la-môn:
“Sát-lợi
thường thích tranh tụng, nhiều kỹ thuật, ham thích làm việc,
việc làm phải đạt cứu cánh, không nghỉ giữa chừng.”
Bà-la-môn
hỏi:
“bà-la-môn,
ý cầu gì?”
Thế
Tôn bảo:
“Bà-la-môn,
ý thích chú thuật, ưa thích nơi chốn nhàn tĩnh, mục đích
cư gia, ý nơi Phạm thiên.”
Lại
hỏi:
“Quốc
vương, ý cầu những gì?”
Thế
Tôn bảo:
“Bà-la-môn
nên biết, ý muốn của vua là được quyền cai trị, ý đặt
tại binh đao, tham đắm tài bảo.”
“Kẻ
trộm, ý cầu gì?”
Thế
Tôn bảo:
“Kẻ
trộm, ý trộm cướp, tâm gian tà, muốn cho mọi [714c01] người
không biết việc làm của mình.”
“Người
nữ, ý cầu điều gì?”
Thế
Tôn bảo:
“Người
nữ, ý để nơi người nam, tham đắm tài bảo, tâm lụy nam
nữ, tâm muốn tự do.”
Bấy
giờ, bà-la-môn bạch Thế Tôn:
“Thật
là kỳ diệu! Thật hy hữu! Ngài biết ngần ấy sự kiện,
như thật không hư. Ngày nay, ý Tỳ-kheo cầu điều gì?”
Thế
Tôn bảo:
“Giới
đức đầy đủ, tâm an trú đạo pháp, ý ở bốn Đế, ước
muốn đến Niết-bàn. Đây là những điều cầu của Tỳ-kheo.”
Lúc
ấy, bà-la-môn Sanh Lậu bạch Thế Tôn:
“Thật
vậy, Thế Tôn, việc làm của Tỳ-kheo, ý không thể dời đổi.
Ý nghĩa thật như vậy, thưa Cù-đàm, Niết-bàn thật là an
lạc. Những gì Như Lai đã thuyết là quá nhiều. Giống như
kẻ mù được thấy, người điếc được nghe, người ở
trong tối thấy sáng. Những điều Như Lai nói hôm nay, cũng
như vậy, không đổi khác. Nay tôi việc nước quá nhiều,
muốn trở về nơi ở.”
Thế
Tôn bảo:
“Nên
biết đúng lúc.”
bà-la-môn
Sanh Lậu rời từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu Phật ba vòng
rồi lui đi.
bà-la-môn
Sanh Lậu sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, bà-la-môn Sanh Lậu đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát
chân, ngồi qua một bên. Bấy giờ bà-la-môn bạch Thế Tôn:
“Ở
trong đây có Tỳ-kheo nào tu hành thế nào mà phạm hạnh không
sứt, không rò rỉ; thanh tịnh tu phạm hạnh?”
Thế
Tôn bảo:
“Nếu
có người nào giới luật đầy đủ, không có điều vi phạm,
người đó được nói là thanh tịnh tu hành phạm hạnh.
“Lại
nữa, bà-la-môn, khi mắt thấy sắc, không khởi tưởng đắm,
không khởi niệm tưởng phân biệt,[47] trừ tưởng ác, bỏ
pháp bất thiện, được nhãn căn trọn vẹn; người này được
nói là tu phạm hạnh thanh tịnh. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi
mùi, lưỡi biết vị, thân biết mịn trơn, ý biết pháp, đều
không có tưởng của thức,[48] không khởi niệm của tưởng[49],
tu phạm hạnh thanh tịnh, thành tựu ý căn.”
Bà-la-môn
bạch Phật:
“Những
người như thế nào là không tu phạm hạnh, không đầy đủ
thanh tịnh hạnh[50]?”
Thế
Tôn đáp:
“Nếu
có giao hội[51] với người, đó gọi phi phạm hạnh.”
Bà-la-môn
bạch Phật:
“Những
người như thế nào là rò rỉ,[52] không đầy đủ?”
Thế
Tôn đáp:
“Nếu
có người giao tiếp với người nữ, hoặc sờ nắm tay chân
nhau,[53] [715a01] ấp ủ trong lòng, nhớ mãi không quên; người
đó, này bà-la-môn, được nói là hành không trọn vẹn, bị
rò rỉ, các sự dâm dật[54] cùng tương ưng với dâm, nộ,
si.
“Lại
nữa, bà-la-môn, hoặc người ấy đùa cợt,[55] đối đáp
với người nữ. Này bà-la-môn, người đó được nói là
người này hành không trọn vẹn, bị rò rỉ, có dâm, sân,
si; phạm hạnh không đầy đủ để tu thanh tịnh hạnh.
“Lại
nữa, bà-la-môn, hoặc có người trừng mắt nhìn[56] người
nữ không di chuyển rồi ở trong đó khởi tưởng dâm, nộ,
si, sanh các loạn niệm; này bà-la-môn, người này được nói
là phạm hạnh không thanh tịnh, không tu phạm hạnh.
“Lại
nữa, này bà-la-môn, hoặc có người từ xa nghe, hoặc nghe
tiếng khóc, hoặc nghe tiếng cười,[57] bèn ở trong đó khởi
các loạn tưởng dâm, nộ, si; này bà-la-môn, người này được
nói là không thanh tịnh, tu phạm hạnh, cùng tương ưng với
dâm, nộ, si, phạm hạnh không toàn đủ.
“Lại
nữa, này bà-la-môn, hoặc có người đã từng gặp người
nữ,[58] sau đó sinh tưởng nhớ hoặc, hoặc con mắt người
nữ, ở trong đó sinh tưởng, tại nơi khuất kín vắng vẻ,
khởi dâm, nộ, si, cùng ác hạnh tương ưng; này bà-la-môn,
người này được nói là không tu Phạm hạnh.”
Bấy
giờ, bà-la-môn Sanh Lậu bạch Thế Tôn:
“Kỳ
diệu thay, hy hữu thay! Sa-môn Cù-đàm này biết rõ phạm hạnh,
cũng biết không phạm hạnh; biết rõ phạm hạnh rò rỉ, cũng
biết rõ phạm hạnh không rò rỉ. Vì sao vậy? Vì nay tôi cũng
có ý nghĩ này, khi thấy có người nào cùng người nữ chân
tay đụng chạm nhau, khởi các loạn tưởng, khi ấy tôi nghĩ
rằng người này hành bất tịnh hạnh, cùng dâm, nộ, si tương
ưng. Cảm thọ bậc nhất, là người nữ. Khả dục bậc nhất,
đó chính là mắt với mắt nhìn nhau, người nữ kia hoặc
nói, hoặc cười, hoặc nắm chéo áo người nam; hoặc cùng
nói chuyện vừa nắm chéo áo người nam.[59] Khi ấy, tôi liền
sanh ý nghĩ này: ‘Sáu điều này, người đều hành hạnh
bất tịnh hết.’
“Hôm
nay, Như Lai đã dạy rất nhiều. Giống như người mù được
mắt, người mê thấy đường, người ngu được nghe đạo,
người có mắt thấy sắc; Như Lai thuyết Pháp lại cũng như
vậy. Nay con xin tự quy y Phật, Pháp, Tăng. Từ nay trở về
sau không sát sinh nữa. Cúi xin nhận con làm Ưu-bà-tắc.
bà-la-môn
Sanh Lậu sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 10[60]
Tôi
Tôi nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại rừng bên ngoài thành Tỳ-xá-ly
cùng với chúng năm trăm đại Tỳ-kheo. Bấy giờ, Tôn giả
Mã Sư[61] đến [715b01] giờ khất thực, đắp y mang bát vào
thành khất thực. Khi ấy, Ni-kiền Tử Tát-già[62] thấy Tôn
giả Mã Sư đến, liền đến hỏi:
“Thầy
ông nói những nghĩa gì? Có những giáo huấn gì? Giáo giới
đệ tử bằng pháp thuyết gì?”
Tôn
giả Mã Sư đáp:
“Này
bà-la-môn, sắc là vô thường. Cái gì vô thường, cái đó
tức là khổ. Cái gì là khổ, cái đó tức là vô ngã. Cái
gì vô ngã, cái đó tức là không. Không có nghĩa là ‘Cái
kia không phải của tôi; tôi không phải của cái kia.’ Đó
là điều mà người trí đã học. Thọ*, tưởng, hành, thức
là vô thường. Năm thủ uẩn này là vô thường, tức là khổ.
Cái gì là khổ, cái đó tức là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái
đó tức là không. Không có nghĩa là ‘Cái kia không phải
của tôi; tôi không phải của cái kia.’ Ông muốn biết thì,
ý nghĩa mà Thầy tôi giáo giới là như vậy, vì các đệ tử
dạy nghĩa như vậy.”
Khi
ấy, Ni-kiền Tử lấy hai tay che tai nói:
“Thôi,
thôi! Mã Sư! Tôi không thích nghe những lời này. Nếu Sa-môn
Cù-đàm có dạy điều này, thì tôi thật không muốn nghe.
Vì sao vậy? Theo nghĩa của tôi thì sắc là thường. Nghĩa
của Sa-môn thì vô thường. Ngày nào đó tôi sẽ gặp Sa-môn
Cù-đàm để biện luận. Tôi sẽ trừ khử tâm điên đảo
Sa-môn Cù-đàm.”
Bấy
giờ, trong thành Tỳ-xá-ly có năm trăm đồng tử cùng tập
hợp lại một chỗ để bàn luận. Lúc này, Ni-kiền Tử đến
chỗ năm trăm đồng tử, nói với các đồng tử: “Các cậu
với tôi cùng đến chỗ Sa-môn Cù-đàm. Vì sao vậy? Vì tôi
muốn biện luận với Sa-môn Cù-đàm kia, để cho Sa-môn kia
thấy được đường chính chân thật. Sa-môn nói sắc là vô
thường. Theo nghĩa ta thì sắc là thường. Giống như lực
sĩ tay nắm lấy lông của con dê lông dài, rồi dẫn đi đâu
tùy ý, không có gì khó ngại. Nay ta cũng vậy, hôm nay ta sẽ
cùng Sa-môn Cù-đàm kia biện luận, ta buông hay bắt tùy ý,
không có gì nghi ngờ.
“Giống
như con voi mạnh hung bạo có sáu ngà, ở trong núi sâu nô đùa
không có gì trở ngại. Nay ta cũng vậy, ta sẽ cùng Sa-môn
kia biện luận, không có gì nghi nan. Giống như hai tráng sĩ
bắt một người yếu, nướng trên ngọn lửa, trở qua trở
lại tùy ý, cũng không có gì khó ngại. Nay ta cùng vị kia
luận nghĩa cũng vậy, không có gì khó ngại. Trong luận nghĩa
của ta, voi còn có thể bị hại, huống gì là người. Ta cũng
có thể khiến voi đi về Đông, Tây, Nam, Bắc há không bằng
người sao? Nay những vật vô tình như các cột kèo trong giảng
đường này, ta còn khiến cho [715c01] di chuyển, huống chi cùng
người biện luận, mà có thể thắng ta sao? Ta sẽ khiến ông
ấy trào máu miệng ra mà chết.”
Trong
số đó, hoặc có đồng tử nói như vậy:
“Ni-kiền
Tử nhất định không có khả năng luận nghị[63] với Sa-môn.
Nhưng chỉ sợ Sa-môn Cù-đàm mới cùng luận nghị với Ni-kiền
Tử thôi.”
Có
người lại nói:
“Sa-môn
Cù-đàm không luận nghị cùng với Ni-kiền Tử Chỉ có Ni-kiền
Tử mới có khả năng luận nghị với Sa-môn thôi.”
Khi
ấy, Ni-kiền Tử suy nghĩ như vầy:
“Giả
sử những điều Sa-môn Cù-đàm nói như Tỳ-kheo Mã Sư, thế
thì đủ cho ta đối đáp. Nếu có nghĩa gì khác, cứ nghe rồi
sẽ biết.”
Bấy
giờ Ni-kiền Tử dẫn năm trăm đồng tử trước sau vây quanh
đi đến chỗ Thế Tôn, cùng thăm hỏi nhau, rồi ngồi qua một
bên.
Ni-kiền
Tử bạch Thế Tôn:
“Thế
nào, Cù-đàm, Ngài có giáo giới gì? Dùng giáo giới gì để
dạy cho các đệ tử?”
Phật
bảo Ni-kiền Tử:
“Những
điều ta nói là, sắc là vô thường. Cái gì vô thường, cái
đó tức là khổ. Cái gì là khổ, cái đó tức là vô ngã.
Cái gì vô ngã, cái đó tức là không. Không có nghĩa là ‘Cái
kia không phải của tôi; tôi không phải của cái kia.’ Đó
là điều mà người trí đã học. Thọ*, tưởng, hành, thức
là vô thường. Năm thủ uẩn này là vô thường, tức là khổ.
Cái gì là khổ, cái đó tức là vô ngã. Cái gì vô ngã, cái
đó tức là không. Không có nghĩa là ‘Cái kia không phải
của tôi; tôi không phải của cái kia.’ Giáo giới của Ta,
ý nghĩa là như vậy.”
Ni-kiền
Tử đáp:
“Tôi
không ưa nghe ý nghĩa này. Vì sao vậy? Vì theo nghĩa tôi hiểu,
sắc là thường.”
Thế
Tôn bảo:
“Nay
ông hãy chuyên tâm ý suy tư diệu lý, sau đó hãy nói!”
Ni-kiền
Tử nói:
“Nay
tôi nói sắc là thường. Với năm trăm đồng tử này, ý nghĩa
ấy cũng vậy.”
Thế
Tôn bảo:
“Nay
ông nói sắc là thường. Với năm trăm đồng tử này, ý nghĩa
ấy cũng vậy.”
Thế
Tôn bảo:
“Hôm
nay ông đã tự biện thuyết rồi, sao lại dẫn theo năm trăm
đồng tử kia?”
Ni-kiền
Tử nói:
“Nay
tôi nói sắc là thường. Sa-môn muốn biện luận thế nào?”
Thế
Tôn đáp:
“Nay
Ta nói sắc là vô thường, cũng là vô ngã. Giả tạm họp
lại mà có tên sắc này chứ không chân thật, không chắc,
không bền, cũng như nắm tuyết, chúng là pháp diệt vong, là
pháp biến dịch. Nay ông nói sắc là thường, vậy Ta hỏi
lại ông, tùy ý mà trả lời Ta.
“Thế
nào, Ni-kiền Tử, Chuyển luân Thánh vương lại có được
tự tại ở trong quốc độ của mình không? Lại nữa, [716a01]
Đại vương kia, muốn thả ai thì thả, muốn trói ai thì trói,
có được vậy không?”
Ni-kiền
Tử đáp:
“Thánh
vương này có quyền lực tự tại đó, muốn giết ai thì giết;
muốn trói ai thì trói.”
Thế
Tôn bảo:
“Thế
nào, Ni-kiền Tử, Chuyển luân Thánh vương rồi sẽ già không?
Đầu có bạc, mặt có nhăn nhăn, y phục cáu bẩn không?”
Khi
ấy, Ni-kiền Tử im lặng không đáp. Thế Tôn hỏi lại ba
lần, ông cũng ba lần im lặng không đáp lại.
Lúc
ấy, lực sĩ Kim cang Mật Tích cầm chày kim cương ở giữa
hư không, bảo rằng:
“Nếu
ông không trả lời, ta sẽ đập đầu ông vỡ thành bảy mảnh
ngay trước mặt Như Lai.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Ni-kiền Tử:
“Ông
hãy quan sát giữa hư không!”
Lúc
ấy, Ni-kiền Tử ngước nhìn lên hư không, thấy lực sĩ kim
cang Mật Tích, lại nghe trên hư không có tiếng nói rằng:
‘Nếu ông không trả lời Như Lai, ta sẽ đập đầu ông vỡ
thành bảy mảnh.’ Nghe xong, hoảng sợ, y lông dựng đứng,
bạch với Thế Tôn:
“Cúi
xin Cù-đàm hãy cứu vớt. Xin hỏi lại. Con sẽ đáp ngay.”
Lúc
ấy, Thế Tôn hỏi:
“Thế
nào, Ni-kiền Tử, Chuyển luân Thánh vương sẽ lại già không?
Cũng sẽ tóc bạc, răng rụng, da chùn, mặt nhăn hay không?”
Ni-kiền
Tử đáp:
“Tuy
Sa-môn Cù-đàm nói vậy, nhưng theo tôi hiểu thì sắc là thường.”
Thế
Tôn bảo:
“Ông
hãy suy nghĩ cho kỹ, sau đó mới nói. Nghĩa trước và sau không
tương ưng với nhau. Ta chỉ luận, Thánh vương sẽ già không?
Đầu sẽ bạc, răng sẽ rụng, da chùn, mặt nhăn hay không?”
Ni-kiền
Tử nói:
“Chuyển
luân Thánh vương vẫn bị già.”
Thế
Tôn nói:
“Chuyển
luân Thánh vương có thể tự tại trong nước của mình, vì
sao lại không thể trừ khử già, bịnh, chết; nói rằng: ‘Ta
không cần cái già, bệnh, chết. Ta thường hằng.’? Giả
sử có như vậy, nhưng nghĩa này có hứa khả được chăng?”
Ni-kiền
Tử im lặng không đáp, buồn rầu không vui, im lặng không
nói. Khi này, thân thể Ni-kiền Tử toát mồ hôi hột,
mồ hôi ra ướt cả áo, thấm chỗ ngồi, cho đến dưới đất.
Thế
Tôn bảo:
“Ni-kiền
Tử lúc ở giữa đại chúng, ông đã rống tiếng sư tử bảo:
‘Các đồng tử, hãy cùng tôi đến chỗ Cù-đàm để tranh
luận. Tôi sẽ hàng phục Cù-đàm như nắm lông một con dê
lông dài, kéo đi phía Đông hay phía Tây tùy ý. Cũng như voi
đi lại tự do ở trong rừng sâu, không có gì phải [716b01]
sợ hãi. Cũng như hai người lực lưỡng bắt một người
yếu ớt nướng trên lửa, xoay qua xoay lại tùy ý.’ Ông còn
nói rằng, ‘Luận nghị của tôi còn có thể giết con voi
lớn. Khi tôi luận nghị với những thứ vô tình như cây cỏ,
cột kèo các thứ, tôi cũng có thể khiến chúng phải cúi
đầu khuất phục, làm cho chúng toát mồ hôi nách.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn vén ba y cho Ni-kiền Tử xem, rồi nói:
“Ông
hãy xem, nách của Như Lai không có một giọt mồ hôi. Còn
ông thì ngược lại, mình đầy mồ hôi, thậm chí rơi xuống
đất.”
Lúc
ấy, Ni-kiền Tử vẫn im lặng không đáp.
Bấy
giờ, ở trong chúng đó có một đồng tử tên Đầu-ma[64].
Đồng tử Đầu-ma bạch Thế Tôn:
“Nay
con nhận thấy có điều có thể áp dụng, và con muốn nói.”
Thế
Tôn đáp:
“Hãy
nói tùy ý.”
Đồng
tử Đầu-ma bạch Phật:
“Giống
như cách thôn làng không xa, có ao tắm tốt. Trong ao tắm kia
có một con cua.[65] Nhân dân già trẻ, nam nữ, trong thôn đến
ao tắm đó vớt con trùng này ra, rồi lấy gạch đá đập
nát chân tay của nó. Trùng này dù muốn trở xuống nước,
rốt cuộc không làm được việc này. Ni-kiền Tử này cũng
như vậy, ban đầu rất mạnh bạo tranh luận với Như Lai,
lòng ôm tật đố, ý ôm kiêu mạn. Như Lai đã diệt trừ sạch
chúng vĩnh viễn không còn sót. Ni-kiền Tử này không bao giờ
còn dám trở lại chỗ Như Lai để biện luận nữa.”
Khi
ấy, Ni-kiền Tử nói với đồng tử Đầu-ma:
“Ngươi
ngu si không phân biệt chân hay ngụy. Ta không nói chuyện với
ngươi, mà ta đang biện luận với Sa-môn Cù-đàm.”
Ni-kiền
Tử bạch Phật:
“Tôi
chỉ hỏi nghĩa lý. Xin Ngài nói lại.”
Thế
Tôn đáp:
“Thế
nào, Ni-kiền Tử, Chuyển luân Thánh vương muốn khiến cho
già bệnh chết không đến, có thể được vậy không? Thánh
vương kia có được toại nguyện không?”
Ni-kiền
Tử đáp:
“Không
thể toại nguyện như vậy được.”
“Muốn
cho có sắc này, muốn cho không có sắc này, có được toại
nguyện không?
Ni-kiền
Tử đáp:
“Không
được, thưa Cù-đàm.”
Thế
Tôn bảo:
“Thế
nào, Ni-kiền Tử, sắc là thường hay vô thường?”
Ni-kiền
Tử đáp:
“Sắc
là vô thường.”
“Nếu
vô thường, nó là pháp biến dịch. Ông có thấy ‘Cái này
là ta; ta là của cái kia’ không?”
Đáp:
“Không,
thưa Cù-đàm.”
“Thọ*,
tưởng, hành, thức, là thường hay là vô thường?”
Đáp:
“Vô
thường.”
“Nếu
vô thường, nó là pháp biến dịch, [716c01] ông có thấy nó
có không?”
Đáp:
“Không.”
Thế
Tôn hỏi:
“Năm
thủ uẩn này là thường hay vô thường?”
Ni-kiền
Tử đáp:
“Là
vô thường.”
Phật
hỏi:
“Nếu
là vô thường, nó là pháp biến dịch, ông có thấy nó có
không?”
Đáp:
“Không.”
“Thế
nào, Ni-kiền Tử, ông đã nói là thường, như vậy không phải
là trái ngược với nghĩa lý này hay sao?”
Lúc
ấy, Ni-kiền Tử bạch Thế Tôn:
“Nay
con ngu si không phân biệt chân đế nên khởi ý muốn này,
là cùng tranh luận với Cù-đàm rằng ‘Sắc là thường.’
Giống như mãnh thú sư tử từ xa trông thấy người đến
mà có tâm sợ hãi sao? Hoàn toàn không có việc này. Hôm nay
Như Lai cũng như vậy, không có mảy may nào. Nay con say mê chưa
hiểu nghĩa sâu mới dám xúc phạm. Sa-môn Cù-đàm đã dạy
quá nhiều. Giống kẻ mù được mắt, người điếc được
nghe thấu, người mê thấy đường, người không mắt thấy
sắc. Cũng như vậy, Sa-môn Cù-đàm đã dùng vô số phương
tiện thuyết pháp cho con. Nay con xin tự quy y Phật, Pháp, Tăng,
từ nay trở về sau trọn đời làm người Ưu-bà-tắc, không
sát sanh nữa. Cúi xin Phật và Tỳ-kheo Tăng nhận lời thỉnh
của con, muốn cúng bữa ăn cho Phật và Tỳ-kheo Tăng.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi Ni-kiền Tử thấy Thế
Tôn im lặng nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu
quanh Phật ba vòng, đảnh lễ sát chân rồi đi. Đến chỗ
các đồng tử ở thành Tỳ-xá-ly, ông nói các đồng tử:
“Các
cậu có cúng ta vật gì thì hãy mang đến ngay cho tôi để
tôi bày biện, chớ để trễ thời. Nay tôi đã thỉnh Phật
và Tỳ-kheo tăng, ngày mai sẽ tôi cúng bữa ăn.”
Lúc
ấy, các đồng tử liền mang các thứ đồ ăn thức uống
đến cho ông. Đêm ấy, Ni-kiền Tử chuẩn bị soạn các loại
đồ ăn thức uống ngon lành, trải tọa cụ tốt, rồi đến
bạch: “Đã đến giờ, cúi xin hạ cố.”
Đến
giờ, Thế Tôn đắp y, mang bát, dẫn chúng tăng vào thành Tỳ-xá-ly,
đến nhà Ni-kiền Tử. Đến rồi, ngồi vào chỗ ngồi. Các
Tỳ-kheo cũng ngồi theo thứ lớp. Lúc này, Ni-kiền Tử thấy
Phật và chúng tăng đã an tọa, tự tay dâng các thứ đồ
ăn thức uống. Sau khi thấy Phật và Tỳ-kheo tăng thọ trai
xong, đã dùng nước rửa, ông lấy một chiếc ghế nhỏ, ngồi
trước Như Lai để nghe pháp.
Bấy
giờ, Thế Tôn tuần tự thuyết giảng cho ông các đề tài
vi diệu; các đề tài về bố thí, [717a01] về trì giới, về
sanh thiên; dục là ô uế, dâm là hạnh bất tịnh, giải thoát
là an lạc. Khi Thế Tôn thấy tâm ý của Ni-kiền Tử đã khai
mở, như những gì mà chư Phật Thế Tôn thường thuyết pháp,
về khổ, tập, tận, đạo, Ngài cũng vì Ni-kiền Tử nói hết.
Lúc ấy, Ni-kiền Tử liền ngay trên chỗ ngồi các trần cấu
sạch hết, được mắt pháp trong sạch.
Lúc
này, Thế Tôn liền nói kệ:
Cúng
tế, lửa hơn hết;
Thi
thơ, tụng đứng đầu;
Vua,
tôn quý loài người;
Biển
là nguồn các sông;
Các
sao, trăng sáng nhất;
Ánh
sáng, mặt trời nhất.
Trên
dưới và bốn phương,
Mọi
vật sanh bởi đất,
Trời
cùng với Nhân loại:
Phật
là vô thượng tôn.
Ai
muốn cầu đức kia,
Tam-phật*
là tối thượng.
Sau
khi Thế Tôn nói bài kệ này xong, Ngài đứng dậy ra đi.
Lúc
ấy, năm trăm đệ tử của Ni-kiền Tử nghe thầy mình nhận
sự giáo hóa của Phật, mọi người bảo nhau: “Sao Đại
sư của chúng ta lại tôn Cù-đàm làm Thầy?” Rồi các đệ
tử ấy ra khỏi thành Tỳ-xá-ly, đứng chờ ở giữa đường.
Trong lúc đó, Ni-kiền Tử đến chỗ Phật để nghe Pháp. Bấy
giờ, Thế Tôn nói pháp cho Ni-kiền Tử, khích lệ khiến hoan
hỷ. Ni-kiền Tử sau khi nghe pháp xong, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ sát chân liền lui đi.
Lúc
ấy, các đệ tử của Ni-kiền Tử từ xa thấy thầy mình
đến, mọi người bảo nhau: “Đệ tử của Sa-môn Cù-đàm
đang đi đến. Chúng ta hãy lấy gạch đá giết chết ông ta.”
Khi
nghe tin Ni-kiền Tử bị các đệ tử giết, các đồng tử
liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một
bên. Các đồng tử bạch Thế Tôn: “Ni-kiền Tử mà Như Lai
đã giáo hóa nay đã bị các đệ tử giết. Nay đã qua đời,
ông ấy sanh nơi nào?”
Thế
Tôn nói:
“Ông
ấy là một người có đức, đầy đủ bốn Đế, đã dứt
sạch ba kết sử,