NĂM
PHÁP
32.
PHẨM
THIỆN TỤ
KINH
SỐ 1
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay,
Ta sẽ nói về tụ thiện, các ngươi hãy suy nghĩ kỹ”.
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn.”
Các
Tỳ-kheo vâng theo lời Phật dạy.
Thế
Tôn bảo:
“Sao
gọi pháp ấy là tụ thiện? Đó là năm căn. Thế nào là năm
căn? Đó là tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, huệ
căn. Này Tỳ-kheo, đó gọi là có năm căn này. Nếu có Tỳ-kheo
nào tu hành năm căn, liền thành Tu-đà-hoàn được pháp bất
thối chuyển, ắt thành đạo chí thượng. Tu hành thêm nữa
sẽ thành tựu Tư-đà-hàm, tái sinh đời này một lần rồi
dứt sạch mé khổ kia. Tiến tới đạo này nữa, sẽ thành
tựu A-na-hàm, không còn tái sinh đời này, liền nhập Bát-niết-bàn.
Chuyển tiến tu hành, diệt tận hữu lậu, [674a01] thành tựu
vô lậu tâm giải thoát, huệ giải thoát, tự thân tác chứng,
mà tự an trú, như thật biết rằng, sanh tử đã dứt, phạm
hạnh đã lập, việc cần làm đã xong, không còn tái sinh nữa.”
“Gọi
là tụ thiện, chính là năm căn. Vì sao vậy? Vì đây là tụ
lớn nhất, là vi diệu trong các tụ. Nếu ai không hành pháp
này thì không thành tựu Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm,
A-la-hán, Bích-chi-phật và Như Lai Chí chơn Đẳng chánh giác.
Nếu ai đạt được năm căn này liền có bốn quả, đạo
ba thừa. Nói về tụ thiện, năm căn này là trên hết.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện học những
điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau nghe Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 2[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về tu bất thiện, các ngươi hãy suy nghĩ kỹ.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn.”
Lúc
ấy, các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
“Sao
gọi chúng là tụ bất thiện[2]? Đó là năm triền cái.[3]
Sao gọi là năm? Là tham dục, sân hận, thụy miên, trạo cử,
nghi. Đó gọi là năm triền cái. Ai muốn biết tụ bất thiện,
thì đây gọi là năm triền cái. Vì sao vậy? Các Tỳ-kheo nên
biết, vì nếu có năm triền cái, liền có phần súc sanh, ngạ
quỷ, địa ngục. Các pháp bất thiện đều do đây phát sanh.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện diệt trừ
các triền cái là tham dục, sân hận, thụy miên, điệu hối,
nghi. Các Tỳ-kheo, hãy học những điều này như vậy.”
Sau
khi, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thừa
sự, lạy Phật có năm công đức. Những gì là năm? Một là
xinh đẹp, hai là tiếng hay, ba là lắm tiền nhiều của, bốn
là sanh nhà trưởng giả, năm là chết sanh lên trời, các cõi
lành. Vì sao vậy? Vì Như Lai không ai sánh bằng. Như Lai có
tín, có giới, có văn, có tuệ, có sắc thiện thành tựu,
cho nên thành tựu năm công đức.
“Lại
nữa, vì nhân duyên gì lạy Phật mà được xinh đẹp? Chính
do [674b01] vì thấy hình ảnh Phật mà phát tâm hoan hỷ, vì
lý do nầy nên được xinh đẹp.
“Lại,
vì nhân duyên gì được âm thanh hay? Nhờ thấy hình ảnh Như
Lai, đã tự xưng hiệu niệm ba lần, ‘Nam mô Như Lai Chí chơn
Đẳng chánh giác.’ Vì lý do này nên được âm thanh hay.
“Lại,
vì nhân duyên gì mà được lắm tiền nhiều của? Do thấy
Như Lai mà bố thí lớn, rải hoa, đốt đèn và thí những
vật khác. Vì nhân duyên này được nhiều của báu.
“Lại,
vì nhân duyên gì sanh nhà trưởng giả? Khi thấy thân Như Lai,
tâm không đắm nhiễm, gối phải quỳ sát đất, chấp tay
chí tâm lạy Phật, do nhân duyên này sanh nhà trưởng giả.
“Lại,
vì nhân duyên gì thân họai mạng chung sanh lên trời, cõi lành?
Theo thường pháp của chư Phật Thế Tôn, những chúng sanh
nào đem năm duyên sự lạy Như Lai liền sanh lên trời, cõi
lành.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là có năm nhân duyên này, lạy Phật có
năm công đức. Cho nên, này các Tỳ-kheo, nếu thiện nam tử,
thiện nữ nhân nào muốn lạy Phật, hãy tìm cầu phương tiện
thành tựu năm công đức này.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học những điều này như vậy.”
Các
Tỳ kheo sau khi nghe Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 4[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Giống
như căn nhà có hai cửa đối nhau, có người đứng ở trong,
lại có người đứng ở trên quan sát bên dưới, người ra
vào, đi lại đều biết thấy tất cả. Cũng như vậy, Ta bằng
thiên nhãn nhìn các loại chúng sanh, sanh ra, chết đi, vào cõi
lành, cõi ác, sắc lành, sắc ác, hoặc tốt, hoặc xấu, tùy
theo hành vi được gieo trồng; thảy đều biết tất cả.
“Lại,
nếu có chúng sanh thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ
thiện, không phỉ báng Hiền Thánh, hành chánh kiến tương
ưng với chánh kiến,[5] khi chết sanh lên trời, cõi lành. Đó
gọi là chúng sanh làm thiện.
“Lại,
nếu có chúng sanh hành pháp thiện này, không làm hành vi ác,
khi chết sanh lại trong loài người.
“Lại,
nếu có chúng sanh mà thân, miệng, ý làm ác, tạo hành vi bất
thiện, sau khi chết sanh trong ngạ quỷ.
“Hoặc
lại có chúng sanh mà thân, miệng, ý làm ác, phỉ báng Hiền
Thánh, tương ưng với tà kiến, sau khi chết sanh trong súc sanh.
“Hoặc
lại có chúng sanh mà thân, miệng, ý làm ác, phỉ báng Hiền
[674c01] Thánh, sau khi chết sanh vào địa ngục. Khi ấy, ngục
tốt dẫn tội nhân này đến trình Diêm-la vương và nói: ‘Đại
vương nên biết, người này đời trước có thân, ý tạo
ác, làm các ác hành, đã sanh vào địa ngục này. Đại vương
nên xử, nên trị người này về tội gì?’
“Khi
ấy Diêm vương liền lần lượt hỏi riêng tội kia của người
ấy, bảo người ấy, ‘Thế nào, người nam, đời trước
lúc ngươi mang thân người, há không thấy người khi sanh,
được làm thân người, lúc ở thai rất là nguy khốn, đau
đớn thật khó ở, rồi lớn lên phải nuôi dưỡng, bú mớm,
tắm rửa thân thể hay sao?’
“Tội
nhân đáp, ‘Thật có thấy, Đại vương.’
“Diêm
vương nói, ‘Thế nào, người nam, ngươi không tự biết yếu
hành của pháp sinh hay sao?[6] Vậy theo pháp thân, khẩu, ý mà
tu các đường lành sao?’
“Tội
nhân đáp, ‘Thật vậy, Đại vương, như Đại vương dạy.
Tôi chỉ vì ngu si, không phân biệt được hành vi thiện.’
“Diêm
vương nói, ‘Như lời ngươi nói, việc này không khác. Ta
cũng biết những việc ngươi không làm bởi thân, miệng, ý.
Hôm nay sẽ xét ngươi về tội được làm do phóng dật; chẳng
phải cha mẹ làm, cũng chẳng phải là những việc làm của
vua hay đại thần. Xưa ngươi tự tạo tội, nay tự nhận báo.’
Sau
khi hỏi tội kia xong, Diêm vương ra lệnh trị tội.
“Đến
lượt thiên sứ thứ hai hỏi[7] người kia, ‘Trước đây,
khi ngươi làm người, há không thấy người già, thân thể
rất yếu, đi lại khó khổ, áo quần dơ bẩn, tiến dừng
run rẩy, hơi thở hào hển, không còn tâm trẻ khỏe?
“Lúc
ấy, tội nhân đáp, ‘Thưa vâng, Đại vương, tôi đã từng
thấy.’
“Diêm
vương bảo, ‘Ngươi đáng lẽ phải tự biết, nay ta cũng
có pháp già nua[8] này. Vì chán ghét tuổi già nên phải tu
hành vi thiện?’
“Tội
nhân đáp, ‘Thật vậy, Đại vương! Nhưng lúc ấy tôi thật
không tin.’
“Diêm
vương bảo:
“Ta
thật biết rõ những việc mà ngươi không làm bởi thân, miệng,
ý. Nay sẽ trị tội ngươi để sau này không tái phạm. Những
việc ác ngươi đã làm, chẳng phải do cha mẹ làm, cũng chẳng
phải do vua, đại thần, nhân dân tạo ra. Nay ngươi tự tạo
tội ấy, hãy tự nhận báo.’
“Diêm
vương sau khi chỉ ra cho thấy Thiên sứ thứ hai, lại đem Thiên
sứ thứ ba ra hỏi người kia, ‘Trước đây, khi ngươi làm
thân người, há không thấy có người bệnh nằm trên phân,
nước tiểu, không thể tự đứng dậy hay sao?’
“Tội
nhân đáp, ‘Thưa vâng, đại vương, tôi thật [675a01] có thấy.’
“Diêm
vương hỏi, ‘Thế nào, người nam, ngươi há không tự biết,
ta cũng sẽ có bệnh này, sẽ không thoát tai họa này sao?’
“Tội
nhân đáp, ‘Thật vậy, thưa Đại vương! Tôi thật sự không
thấy.”
“Diêm
vương nói, ‘Ta cũng biết, ngươi ngu si không hiểu. Nay ta
sẽ trị tội ngươi để sau không còn tái phạm. Tội đã
làm này chẳng phải cha, chẳng phải mẹ làm, cũng chẳng phải
là những việc tạo tác của quốc vương, đại thần.’
“Diêm-la
vương sau khi chỉ ra cho thấy Thiên sứ này rồi, lại hỏi
người kia về Thiên sứ thứ tư, ‘Thế nào, người nam, ngươi
có thấy thân như cây khô, hơi thở dứt, lửa nóng không còn,
tình tưởng không còn, năm thân vây quanh khóc lóc không?’
“Tội
nhân đáp, ‘Thưa vâng, Đại vương, tôi đã thấy.’
“Diêm
vương nói, ‘Vì sao ngươi không nghĩ rằng, ta cũng sẽ không
thoát cái chết này?’
“Tội
nhân đáp:
“Thật
vậy, Đại vương, tôi thật không tỏ ngộ.’
“Diêm
vương nói, ‘Ta cũng tin là ông không tỏ ngộ pháp này. Nay
sẽ trị ngươi, để sau này không tái phạm. Tội bất thiện
này chẳng phải cha, chẳng phải mẹ tạo, cũng chẳng phải
quốc vương, đại thần, nhân dân chỗ tạo ra. Xưa ngươi
tự tạo, nay tự chịu tội.’
“Diêm-la
vương nói với người kia về Thiên sứ thứ năm, ‘Trước
đây, khi làm người, ngươi không thấy có kẻ trộm đào tường,
phá nhà, lấy của báu người khác, hoặc dùng lửa đốt,
hoặc ẩn phục đường cái. Nếu bị vua bắt được thì bị
chặt tay chân, hoặc bị giết, hoặc bị giam vào lao ngục,
hoặc trói ngược mang đến chợ, hoặc sai vác cát đá, hoặc
bị treo ngược, hoặc dùng tên bắn, hoặc rót nước đồng
sôi lên người, hoặc dùng lửa nướng, hoặc lột da rồi
bắt ăn, hoặc mổ bụng lấy cỏ nhét vào, hoặc bỏ vào nước
sôi nấu, hoặc dùng đao chặt, bánh xe cán đầu, hoặc cho
voi chà chết, hoặc treo cổ cho chết, hay không?’
“Tội
nhân đáp, ‘Tôi thật có thấy.’
“Diêm
vương nói, ‘Vì sao ông ăn trộm đồ người? Trong lòng đã
biết có hình phạt ấy, sao còn phạm?’
“Tội
nhân đáp, ‘Thưa vâng, Đại vương, tôi thật ngu muội.’
“Diêm
vương nói:
“Ta
cũng tin lời ông, nay sẽ trị tội ông, để sau không tái
phạm. Tội này chẳng phải do cha mẹ tạo, cũng chẳng phải
vua quan, nhân dân chỗ tạo mà do tự tạo tội này rồi tự
chịu báo.’
“Sau
khi hỏi tội xong, Diêm vương liền sai ngục tốt, ‘Mau đem
giam người này vào ngục.’
“Khi
ấy, ngục tốt vâng [675b01] lệnh của vua, đem tội nhân này
giam vào ngục. Bên trái địa ngục, lửa cháy dữ dội. Thành
quách bằng sắt, đất cũng bằng sắt. Có bốn cửa thành
là nơi cực hôi thối, giống như phân tiểu nhìn thật nhớp
nhơ. Núi dao, rừng kiếm, vây quanh bốn phía. Lại có lồng
sắt chụp bên trên.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Bốn
vách bốn cửa thành,
Dài
rộng thật là chắc.
Lồng
sắt che phủ kín,
Không
cơ hội thoát ra.
Khi
ấy trên đất sắt
Lửa
cháy thật dữ dội.
Tường
vuông trăm do tuần,
Rỗng
suốt chỉ một màu.
Chính
giữa có bốn trụ;
Trông
thật là đáng sợ.
Trên
là rừng cây kiếm,
Nơi
đậu quạ mỏ sắt.
Chỗ
hôi thật khó ngửi;
Trông
đến dựng lông tóc.
Đủ
khí cụ ghê rợn.
Ngăn
thành mười sáu lớp[9].
“Tỳ-kheo
nên biết, lúc này ngục tốt dùng đủ mọi thứ khổ đau
đánh đập người này. Tội nhân kia khi đặt chân vào ngục,
máu thịt văng hết, chỉ còn bộ xương. Khi ấy, ngục tốt
đem tội nhân này, dùng búa bén chặt thân nó, đau khổ không
kể, muốn chết không được, chỉ đến khi hết tội nó mới
thoát
được. Những tội mà nó đã tạo ra ở nhân gian, chỉ khi
phải trừ sạch, sau đó mới ra được.
“Lúc
ấy, ngục tốt kia bắt tội nhân này leo lên, leo xuống rừng
đao kiếm. Khi tội nhân ở trên cây, nó bị quạ mỏ sắt
mổ ăn; hoặc mổ đầu lấy não ăn. Hoặc lấy tay chân, đập
vào xương lấy tủy, mà tội vẫn chưa hết. Khi tội hết,
nó mới được thoát ra.
“Lúc
ấy, ngục tốt đem tội nhân kia bắt ngồi ôm cột đồng
nóng. Do đời trước ưa dâm dật nên đưa đến tội này.
Nó bị tội theo đuổi, không thoát được.
“Lúc
này, ngục tốt rút gân từ gót chân cho đến cổ, kéo về
phía trước, hoặc cho xe chở tới, hoặc lui, không được
tự do. Ở đây, chịu khổ không thể nào tính kể. Chỉ khi
nào tội hết, sau đó mới được thoát ra.
“Lúc
này, ngục tốt bắt tội nhân kia đặt lên núi lửa, xua đuổi
chạy lên, chạy xuống, cho đến khi chín nhừ hết, sau đó
mới cho ra. [675c01] Lúc bấy giờ, do bởi nhân duyên này, tội
nhân muốn chết cũng không chết được. Chỉ khi nào tội
hết, sau đó mới được thoát ra.
“Khi
ấy, ngục tốt lại bắt tội nhân, rút lưỡi ném ra sau lưng.
Ở đây, chịu khổ không thể nào kể xiết, muốn chết không
được.
“Lúc
này, ngục tốt bắt tội nhân đặt lên núi đao; hoặc chặt
chân, hoặc chặt đầu, hoặc chặt tay. Chỉ khi nào tội hết,
sau đó mới được thoát ra.
“Lúc
này, ngục tốt lại dùng lá sắt nóng lớn phủ lên thân tội
nhân như cho mặc áo lúc còn sống. Lúc ấy khổ đau độc
hại khó chịu, đều do nhân tham dục nên đưa đến tội này.
“Lúc
này, ngục tốt lại bắt tội nhân làm tội năm thứ[10], xua
đuổi khiến nằm xuống, rồi lấy đinh sắt đóng vào tay
nó, chân nó, lại dùng một cây đinh đóng vào tim. Ở đó,
nó chịu khổ đau thật không thể nói. Chỉ khi nào tội hết,
sau đó mới được thoát ra.
“Lúc
này, ngục tốt lại bắt tội nhân chổng ngược thân, đưa
vào trong vạc. Khi ấy, phần dưới thân đều chín rục hết;
hoặc trở lên phần trên cũng lại đều chín rục; cho đến
bốn bên cũng chín rục hết, đau đớn khổ độc không thể
tính hết, nổi cũng rục, không nổi cũng rục. Giống như
nồi lớn mà nấu đậu nhỏ, có lớp ở trên hay ở dưới.
Tội nhân này cũng lại như vậy, nổi cũng rục, không nổi
cũng rục. Ở đó, chịu khổ không thể kể hết. Chỉ khi
nào tội hết, sau đó mới được thoát ra.
“Tỳ-kheo
nên biết, sau một thời gian dài trải qua nhiều năm trong địa
ngục này, cửa đông mới mở. Khi ấy, tội nhân lại chạy
đến cửa, cửa tự nhiên đóng. Lúc đó, những người kia
đều ngã xuống đất. Ở đó, khổ sở không thể nói hết,
chúng oán trách lẫn nhau, ‘Do các ngươi mà ta không được
ra cửa.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Người
ngu thường vui thích
Như
ở trời Quang âm.
Người
trí thường lo nghĩ,
Giống
như tù trong ngục.
“Sau
khi trải qua trong đại địa ngục trăm ngàn vạn năm, cửa
bắc lại mở. Lúc ấy, tội nhân lại chạy về cửa bắc.
Cửa liền đóng lại. Chỉ khi nào tội hết, sau đó mới được
thoát ra. Tội nhân kia trải qua hàng trăm vạn năm mới lại
được thoát. Những tội đã tạo ra trong khi làm người, cốt
phải trừ cho hết.
“Lúc
này, ngục tốt lại bắt tội nhân, dùng búa sắt chém thân
tội nhân, trải qua bao nhiêu [676a01] tội như vậy, khiến cho
sửa đổi. Chỉ khi nào tội khổ hết hẳn, sau đó mới được
ra.
“Tỳ-kheo
nên biết, sau một thời gian, cửa phía đông lại mở một
lần nữa. Lúc ấy, những chúng sanh kia chạy đến cửa đông
thì cửa tự đóng lại, không ra được. Nếu ra được, bền
ngoài có núi lớn mà nó phải chạy đến. Khi nó vào trong
núi, bị hai núi ép lại, giống như ép dầu mè. Ở đó, chịu
khổ không thể kể hết. Chỉ khi nào hết khổ, sau đó mới
được ra.
“Bấy
giờ, tội nhân chuyển dịch được tới trước, lại gặp
địa ngục Tro nóng,[11] ngang dọc hàng ngàn vạn do tuần. Ở
đó, chịu khổ không thể kể hết, cốt phải hoàn tất nguồn
tội kia, sau đó mới được ra.
“Kế
đến, lại chuyển tới trước nữa, có địa ngục Dao đâm.[12]
Khi tội nhân vào trong địa ngục đao kiếm này, chợt có gió
mạnh nổi lên phá nát gân cốt thân thể tội nhân. Ở đó,
chịu khổ không thể kể hết. Cốt khiến cho hết tội, sau
đó mới được ra.
“Lại
nữa, có địa ngục Tro nóng lớn.[13] Khi tội nhân vào trong
địa ngục tro nóng lớn này, thân thể tan rã, chịu khổ vô
cùng. Cốt khiến cho hết tội, sau đó mới được ra.
“Khi
tội nhân tuy thoát khỏi địa ngục tro rất nóng này, nhưng
lại gặp địa ngục Đao kiếm,[14] ngang dọc hàng ngàn vạn
dặm. Khi tội nhân vào trong địa ngục đao kiếm này, ở đó,
chịu khổ không thể kể hết. Cốt khiến cho hết tội, sau
đó mới được ra.
“Lại
nữa, có địa ngục Phân sôi[15] trong đó có trùng nhỏ, ăn
vào tận xương tủy người này. Tuy ra được địa ngục này,
nhưng lại gặp ngay ngục tốt. Lúc này, ngục tốt hỏi tội
nhân, ‘Các ông muốn đến đâu? Từ đâu lại?’ Tội nhân
đáp, ‘Chúng tôi không biết từ chỗ nào lại. Cũng lại
không biết phải đến chỗ nào. Nhưng hiện nay, chúng tôi
đang đói khốn cùng, muốn được ăn.’ Ngục tốt đáp, ‘Chúng
tôi sẽ cho ăn.’ Khi ấy, ngục tốt bắt tội nhân nằm ngửa,
lấy viên sắt nóng lớn bắt tội nhân nuốt. Thiêu đốt,
khiến tội nhân chịu khổ không thể kể hết. Lúc đó, viên
sắt nóng từ miệng xuống qua ruột, dạ dày chín hết, chịu
khổ khó lường. Cốt khiến cho hết tội, sau đó mới được
ra.
“Song
những tội nhân này không kham chịu những thống khổ này,
nên trở lại các địa ngục Phân nóng, Địa ngục Đao kiếm,
địa ngục Tro nóng lớn. Khi chúng trở lại những địa ngục
như vậy, lúc bấy giờ những chúng sanh kia không kham chịu
nỗi khổ, bèn quay [676b01] đầu lại, đến trong địa ngục
Phân nóng. Lúc ấy, ngục tốt bảo những chúng sanh kia, ‘Các
ông muốn đi đâu? Từ đâu đến?’ Tội nhân đáp, ‘Chúng
tôi không thể biết từ đâu đến. Nay lại cũng không biết
phải đi đâu.’ Ngục tốt hỏi, ‘Nay cần gì?’ Tội nhân
đáp, ‘Chúng tôi rất khát, muốn cần uống nước.’ Khi
ấy, ngục tốt bắt tội nhân nằm ngửa, rót đồng sôi vào
miệng khiến cho chảy xuống. Ở đó, chịu tội không thể
kể hết, cốt khiến cho hết tội, sau đó mới được ra.
“Bấy
giờ, tội nhân kia không chịu nỗi khổ này, nên trở về
địa ngục Phân sôi, địa ngục Rừng kiếm, địa ngục Tro
nóng rồi trở vào đại địa ngục.
“Tỳ-kheo
nên biết, lúc ấy tội nhân thống khổ khó có thể kể hết.
Nếu tội nhân kia mắt thấy sắc, tâm không ưa thích. Khi tai
nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi biết vị, thân biết mịn
nhẵn, ý biết pháp, cũng đều phát sanh sân nhuế.[16] Vì sao
vậy? Vì xưa không tạo báo hạnh lành mà thường tạo nghiệp
ác, nên đưa đến tội này.
“Lúc
ấy, Diêm vương bảo tội nhân kia, ‘Các ngươi không được
thiện lợi. Xưa kia ở nhân gian, hưởng phước nhân gian, mà
thân, miệng, ý hành không tương ưng, cũng không bố thí, nhân
ái, lợi người, đẳng lợi,[17] vì vậy nên nay chịu nỗi
khổ này. Hành vi ác này chẳng phải do cha mẹ tạo, cũng không
phải quốc vương, đại thần tạo ra. Có các chúng sanh thân,
miệng, ý thanh tịnh không có nhiễm ô giống như trời Quang
âm. Có các chúng sanh tạo các hạnh ác, giống như trong địa
ngục; thân, miệng, ý các ông bất tịnh nên đưa đến tội
này.’
“Các
Tỳ-kheo nên biết, Diêm-la vương liền nói, ‘Ngày nào tôi
sẽ thoát nạn khổ này, được sanh trong loài người, được
làm thân người, mong được xuất gia cạo bỏ râu tóc, mặc
ba pháp y, xuất gia học đạo.’
“Diêm-la
vương còn nghĩ vậy, huống chi các ngươi, nay được thân
người, được làm Sa-môn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, thường
hãy niệm thực hành thân, miệng, ý hành đừng cho thiếu sót.
Hãy trừ năm kết sử, tu hành năm căn. Các Tỳ-kheo, hãy học
những điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 5[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật cùng chúng Tỳ-kheo năm trăm vị, ở trong vườn
Lộc Mẫu, khu vườn phía đông,[19] nước Xá-vệ.
Bây
giờ, tháng bảy, [676c01] ngày mười lăm, Thế Tôn trải tòa
ngồi giữa khoảng đất trống, các Tỳ-kheo trước sau vây
quanh. Phật bảo A-nan:
“Nay,
nơi đất trống, ngươi mau đánh kiền chùy. Vì sao vậy? Vì
ngày rằm tháng bảy là ngày thọ tuế.”
Lúc
ấy, Tôn giả A-nan gối phải quỳ sát đất, chấp tay, liền
nói kệ này:
Đấng
Tịnh Nhãn vô thượng,
Thông
suốt tất cả việc;
Trí
huệ không đắm nhiễm:
Thọ
tuế, nghĩa là gì?
Bấy
giờ, Thế Tôn liền dùng kệ đáp A-nan:
Thọ
tuế, ba nghiệp tịnh;
Việc
làm thân, miệng, ý.
Hai
Tỳ-kheo đối nhau,
Tự
trình chỗ sai trái.
Lại
tự xưng tên chữ”
‘Hôm
nay Chúng thọ tuế,
Tôi
cũng ý tịnh, thọ.
Cúi
xin chỉ lỗi tôi.’
Bấy
giờ, A-nan lại dùng kệ hỏi nghĩa này:
Hằng
sa Phật quá khứ,
Bích-chi
và Thanh văn;
Đây
là pháp chư Phật,
Hay
chỉ Thích-ca Văn?
Bấy
giờ, Phật lại dùng kệ đáp A-nan:
Hằng
sa Phật quá khứ,
Đệ
tử tâm thanh tịnh.
Đều
là pháp chư Phật
Chẳng
riêng Thích-ca Văn.
Không
tuổi, không đệ tử;
Một
mình không bạn bè;
Không
nói pháp cho người.
Phật
Thế Tôn vị lai,
Hằng
sa không thể tính,
Lại
cũng thọ tuổi này;
Như
pháp Cồ-đàm nay.
Sau
khi nghe những lời này rồi, Tôn giả A-nan vui mừng hớn hở,
không tự dừng được, liền lên giảng đường, tay cầm kiền
chùy nói:
“Hôm
nay, tôi đánh trống đưa tin của Như Lai, các chúng đệ tử
Như Lai đều phải tập họp hết.”
Tôn
giả lại nói kệ này:
Hàng
phục sức ma oán;
Trừ
sạch kết không còn;
Đất
trống, đánh kiền chùy:
Tỳ-kheo
nghe hãy họp.
Những
người muốn nghe pháp,
Vượt
qua biển sanh tử,
Nghe
âm vi diệu này,
Hãy
tập họp về đây.
[677a01]
Sau khi đánh kiền chuỳ xong, Tôn giả A-nan đến chỗ Thế
Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một phía, bạch Thế
Tôn:
“Đã
đến giờ, cúi xin Thế Tôn chỉ dạy những gì?”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo A-nan:
“Ngươi
hãy ngồi theo thứ lớp. Như Lai tự biết thời.”
Thế
Tôn ngồi xuống đệm cỏ, bảo các Tỳ-kheo:
“Tất
cả các ngươi hãy ngồi hết xuống đệm cỏ.”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn.”
Các
Tỳ kheo đều ngồi xuống đệm cỏ. Bấy giờ, Thế Tôn im
lặng quán sát các Tỳ-kheo, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
nay muốn thọ tuế. Đối với mọi người, Ta không có lỗi
gì chăng? Thân, miệng, ý cũng không có phạm chăng?”
Như
Lai nói những lời này xong, các Tỳ-kheo im lặng không đáp.
Bấy giờ, Ngài hỏi các Tỳ-kheo lại lần thứ ba:
“Hôm
nay, Ta muốn thọ tuế. Song đối với mọi người, Ta không
có lỗi gì chăng?”
Khi
ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ
gối, chấp tay bạch Thế Tôn:
“Các
chúng Tỳ-kheo quán sát, Như Lai không có lỗi nơi thân, miệng,
ý. Vì sao vậy? Thế Tôn đã độ cho người chưa được độ,
đã giải thoát cho người chưa giải thoát, khiến Bát Niết-bàn
cho người chưa Bát Niết-bàn, đã cứu giúp cho người chưa
được cứu giúp, làm con mắt cho người mù, vì người bệnh
làm đại y vương, là đấng Độc tôn trong ba cõi, không ai
sánh bằng, là đấng Tối tôn thượng, khiến phát đạo tâm
cho người chưa phát đạo tâm. Mọi người chưa tỉnh, Thế
Tôn khiến lay tỉnh; người chưa nghe, khiến cho nghe; vì người
mê mà tạo đường tắt, luôn đưa về Chánh pháp.Vì những
duyên sự này, Như Lai không có lỗi đối với mọi người,
cũng không có lỗi nơi thân miệng ý.”
Rồi
Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn tiếp:
“Nay
con hướng về Như Lai, tự phát lồ. Không biết đối với
Như Lai cùng Tăng Tỳ-kheo, con có lỗi gì không?”
Thế
Tôn bảo:
“Này
Xá-lợi-phất, nay những việc làm thân, miệng, ý của ngươi
hoàn toàn đúng hạnh. Vì sao vậy? Ngươi có trí huệ không
ai sánh kịp, trí huệ biết các chủng loại, trí huệ vô lượng,
trí vô biên, trí không gì bằng, trí bén nhạy, trí nhanh nhẹn,
trí sâu xa, trí bình đẳng, ít muốn, biết đủ, thích nơi
vắng, có nhiều phương tiện,[20] niệm không tán loạn, đạt
tam-muội tổng trì, đầy đủ căn nguyên, thành tựu giới,
thành tựu tam-muội, thành tựu trí huệ, thành tựu giải thoát,
thành tựu giải thoát tri kiến huệ, dũng mãnh, hay nhẫn, lời
nói không ác, không làm điều phi pháp, tâm tánh điều hòa
thứ lớp, không làm sơ suất. Giống như thái tử lớn của
Chuyển luân Thánh vương, sẽ nối [677b01] ngôi vua, chuyển
vận bánh xe pháp. Xá-lợi-phất cũng vậy, chuyển vận bánh
xe pháp vô thượng, mà chư thiên, loài người, rồng, quỷ,
ma và thiên ma đều không thể chuyển. Nay lời ngươi nói ra
thường như nghĩa pháp, chưa từng trái lý.”
Khi
ấy, Xá-lợi-phất bạch với Phật:
“Năm
trăm Tỳ-kheo này đều đáng thọ tuế. Năm trăm người này
đối với Như Lai đều không có lỗi gì chăng?”
Thế
Tôn nói:
“Cũng
không có gì phải trách, các hành vi bởi thân, miệng, ý của
năm trăm Tỳ-kheo này. Vì sao vậy? Này Xá-lợi-phất, đại
chúng trong đây rất là thanh tịnh, không có tỳ vết. Nay người
thấp nhất trong chúng này, cũng đắc đạo Tu-đà-hoàn, nhất
định tiến đến pháp bất thối chuyển. Vì vậy Ta không
thể chê trách họ.”
Khi
ấy, Đa-kỳ-xa[21] rời khỏi chỗ ngồi đến trước Thế Tôn
đảnh lễ sát đất rồi bạch Thế Tôn: “Con có điều muốn
nói.”
Thế
Tôn bảo: “Muốn nói gì thì hãy nói đi.”
Đa-kỳ-xa
liền ca ngợi Phật và chúng Tăng ngay trước mặt đức Phật
bằng bài kệ sau:
Vào
ngày rằm thanh tịnh,
Họp
năm trăm Tỳ-kheo,
Đã
giải thoát các kết,
Không
ái, không tái sanh.
Vua
Chuyển luân Đại Thánh
Được
quần thần vây quanh,
Đi
khắp các thế giới,
Trên
trời và thế gian.
Đại
tướng tôn quí nhất,
Đạo
sư dẫn dắt người.
Đệ
tử vui đi theo,
Đủ
ba đạt sáu thông,
Là
con Phật chơn chánh,
Không
có chút bụi dơ,
Cắt
bỏ sạch ái dục:
Nay
con xin quy y.
Khi
ấy, đức Thế Tôn ấn khả những lời của Đa-kỳ-xa. Đa-kỳ-xa
thấy Như Lai ấn khả lời mình nói, nên vui mừng phấn khởi,
đứng dậy lễ Phật, rồi trở lại chỗ ngồi.
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Đệ tử nói kệ đứng đầu trong
hàng Thanh văn chính là Tỳ-kheo Đa-kỳ-xa. Nói lời không có
gì đáng nghi ngờ chính là Tỳ-kheo Đa-kỳ-xa.”[22]
Lúc
ấy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại khu Ca-lan-đà, Trúc viên, thành La-duyệt,
cùng chúng năm trăm Tỳ-kheo.
Bấy
giờ, trên trời Tam thập Tam [677c01] có một thiên tử từ
thân hình xuất hiện năm điềm báo hiệu sắp chết. Những
gì là năm? Một là vòng hoa trên đầu bị héo. Hai là y phục
bụi bẩn. Ba là nách đổ mồ hôi. Bốn là không vui chỗ ngồi
của mình. Năm là ngọc nữ phản bội. Thiên tử ấy buồn
rầu khổ não, đấm ngực than thở. Nghe vị thiên ấy buồn
rầu khổ não, đấm ngực than thở, Thích Đề-hoàn Nhân liền
sai một thiên tử đến chỗ ấy xem, âm thanh gì mà từ đó
vang đến đây.
Thiên
tử ấy trả lời: “Thiên tử nên biết, hôm nay có một thiên
tử sắp mạng chung, có năm điềm báo hiệu sắp chết. Một
là vòng hoa trên đầu bị héo. Hai là y phục bụi bẩn. Ba
là nách đổ mồ hôi. Bốn là không vui chỗ ngồi của mình.
Năm là ngọc nữ phản bội.
Khi
ấy, Thích Đề-hoàn Nhân đến chỗ vị thiên sắp lâm chung,
nói với vị ấy rằng:
“Vì
sao hôm nay ông buồn rầu khổ não đến như vậy?”
Thiên
tử đáp: “Thưa Tôn giả Nhân-đề, làm sao không buồn rầu
khổ não được khi tôi sắp chết rồi. Có năm điềm báo
hiệu sắp chết. Một là vòng hoa trên đầu bị héo. Hai là
y phục bụi bẩn. Ba là nách đổ mồ hôi. Bốn là không vui
chỗ ngồi của mình. Năm là ngọc nữ phản bội. Nay cung điện
bảy báu này sẽ mất hết. Năm trăm ngọc nữ cũng sẽ tan
tác như sao. Món cam lộ mà tôi ăn không còn mùi vị.”
Đề-hoàn
Nhân nói với thiên tử ấy:
“Ông
há không nghe Như Lai nói kệ sao?
Các
hành là vô thường.
Có
sinh ắt có chết.
Không
sinh thì không chết.
Diệt
này là vui nhất.
“Vì
sao nay ông buồn lo đến như vậy? Tất cả hành là vật vô
thường, muốn cho có thường thì điều này không thể.”
Thiên
tử đáp:
“Thế
nào, Thiên đế, tôi không sầu ưu sao được? Nay tôi mang thân
trời thanh tịnh không vết nhơ, ánh sáng như mặt trời mặt
trăng chiếu khắp mọi nơi, mà bỏ thân này rồi, sẽ sanh
vào bụng heo trong thành La-duyệt, sống thường ăn phân, chết
thì bị dao mổ xẻ.”
Bấy
giờ, Thích Đề-hoàn Nhân bảo thiên tử kia:
“Nay
ông nên tự quy y Phật, Pháp, chúng Tăng. Có thể khi ấy không
đọa vào ba đường dữ.”
Thiên
tử đáp:
“Há
quy y Tam bảo mà không đọa vào ba đường dữ sao?”
Thích
Đề-hoàn Nhân nói:
“Thật
vậy, Thiên tử. Ai quy y Tam tôn, không bao giờ rơi vào ba đường
dữ.”
Như
Lai cũng nói kệ này:
[678a01]Những
ai quy y Phật,
Không
đọa ba đường dữ.
Lậu
tận, nơi trời người,
Rồi
sẽ đến Niết bàn.
Thiên
tử kia hỏi Thích Đề-hoàn Nhân:
“Nay
Như Lai đang ở đâu?”
Thích
Đề-hoàn Nhân nói:
“Như
Lai hiện đang ở tại Ca-lan-đà, trong Trúc viên, thành La-duyệt,
nước Ma-kiệt-đà cùng chúng năm trăm đại Tỳ-kheo.”
Thiên
tử nói:
“Nay
tôi không còn đủ sức đến đó hầu thăm Như Lai nữa.”
Thích
Đề-hoàn Nhân bảo:
“Thiên
tử nên biết, hãy quỳ gối phải sát đất, chấp tay hướng
về phương dưới mà nói rằng: ‘Cúi xin Thế Tôn xem xét
đến cho. Nay con sắp cùng đường. Xin thương xót cho. Nay con
tự quy y Tam tôn, Như Lai Vô sở trước.’”
Bấy
giờ, Thiên tử kia theo lời Thích Đề-hoàn Nhân, quỳ xuống,
hướng xuống phương dưới, tự xưng tên họ, tự quy y Phật,
Pháp, Tăng, nguyện suốt đời làm người Phật tử chơn chánh,
chẳng màng thiên tử. Cho đến ba lần nói những lời này.
Như vậy rồi, không còn đọa vào thai heo, mà sẽ sanh vào
nhà trưởng giả.
Thiên
tử kia sau khi thấy nhân duyên này rồi, quay về Thích Đề-hoàn
Nhân mà nói kệ này:
Duyên
lành chẳng phải dữ,
Vì
pháp chẳng vì của.
Dẫn
dắt theo đường chánh
Điều
này Thế Tôn khen.
Nhờ
Ngài không đọa ác,
Thai
heo, nhân thật khó.
Sẽ
sanh nhà trưởng giả,
Nhờ
đó sẽ gặp Phật.
Khi
ấy, Thiên tử tùy theo tuổi thọ ngắn dài, sau đó sinh vào
nhà trưởng giả trong thành La-duyệt. Lúc đó, vợ trưởng
giả tự biết mình có thai, gần đủ mười tháng, sanh ra một
nam nhi, xinh đẹp vô song, hiếm có trên đời. Bấy giờ, Thích
Đề-hoàn Nhân khi đã biết cậu bé vừa lên mười tuổi,
nhiều lần đến bảo:
“Ngươi
hãy nhớ lại nhân duyên đã làm trước kia, tự nói rằng:
‘Tôi sẽ nhờ đó thấy Phật.’ Nay thật đã đúng lúc.
Nên gặp Thế Tôn. Nếu không đến, sau tất sẽ hối hận.”
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất đến giờ đắp y mang bát vào
thành La-duyệt khất thực, dần dần đến nhà trưởng giả
kia, đứng yên lặng ngoài cửa.
Khi
con trưởng giả thấy Xá-lợi-phất đắp y mang bát dung mạo
khác thường, liền đến trước Xá-lợi-phất thưa rằng:
“Ngài
là ai? [678b01] Đệ tử của ai? Đang hành pháp gì?”
Xá-lợi-phất
nói:
“Thầy
ta xuất thân dòng họ Thích, ở trong đó mà xuất gia học
đạo. Thầy được gọi là Như Lai Chí chơn, Đẳng chánh giác.
Ta thường theo vị ấy thọ pháp.”
Khi
ấy, cậu bé liền hướng về Xá-lợi-phất mà nói kệ này:
Tôn
giả nay đứng im,
Ôm
bát, tướng mạo nghiêm;
Nay
muốn xin những gì?
Cùng
đứng với ai đó?
Xá-lợi-phất
dùng kệ đáp lại:
Nay
ta không xin của;
Cũng
chẳng xin cơm áo.
Vì
cậu nên đến đây.
Xét
kỹ, nghe ta nói!
Nhớ
lời xưa cậu nói,
Lúc
phát thệ trên trời:
‘Cõi
người sẽ gặp Phật.’
Nên
đến báo cùng cậu.
Khó
gặp Phật ra đời.
Nghe
Pháp thuyết cũng vậy.
Thân
người khó thể được;
Giống
như hoa ưu đàm.
Cậu
hãy đi theo tôi,
Cùng
đến hầu Như Lai.
Phật
sẽ nói cho cậu
Đường
chính đến cõi lành.
Sau
khi nghe Xá-lợi-phất nói, cậu liền đi đến chỗ cha mẹ,
lạy sát chân, rồi đứng qua một bên. Bấy giờ, con trưởng
giả bạch cha mẹ rằng:
“Cúi
xin cha mẹ cho phép con đến chỗ Thế Tôn thừa sự, đảnh
lễ, thăm hỏi sức khỏe.”
Cha
mẹ đáp:
“Nay
là lúc thích hợp.”
Khi
ấy, con trưởng giả sắm sửa hương hoa cùng một tấm giạ
trắng tốt, rồi theo Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến chỗ
Thế Tôn. Đến nơi, đảnh lễ sát chân Phật, rồi đứng
qua một bên.
Lúc
ấy, Xá-lợi-phất bạch Thế Tôn:
“Đây
là con trưởng giả đang sống trong thành La-duyệt này, không
biết đến Tam bảo. Cúi xin Thế Tôn khéo vì cậu mà thuyết
pháp khiến được độ thoát.”
Khi
ấy, con trưởng giả thấy Thế Tôn uy dung đoan chánh, các
căn tịch tịnh, có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp
hiển hiện ngoài thân, cũng như núi Tu di vương; mặt như mặt
trời, mặt trăng, nhìn mãi không chán, liền đến trước lễ
sát chân, rồi đứng qua một bên.
Rồi
con trưởng giả rải hương hoa lên thân Như Lai, lại đem tấm
giạ trắng mới dâng cho Như Lai, đảnh lễ sát chân, rồi
đứng qua một phía.
Bấy
giờ, Thế Tôn tuần tự thuyết pháp cho cậu. Ngài nói các
đề tài về bố thí, trì giới, sanh thiên, dục là bất tịnh,
là hữu lậu, là tai hoạ lớn, xuất gia là thiết yếu. Khi
Thế Tôn biết [678c01] cậu bé đã tâm mở ý thông, như pháp
thường mà chư Phật Thế Tôn nói, là khổ, tập, diệt, đạo;
bấy giờ, Thế Tôn cũng vì con trưởng giả kia mà nói hết.
Lúc đó, ngay trên chỗ ngồi, con trưởng giả dứt sạch trần
cấu, được mắt pháp thanh tịnh, không còn trần cấu.
Bấy
giờ, con trưởng giả liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ sát chân, bạch Thế Tôn:
“Cúi
xin Thế Tôn cho phép con được xuất gia làm Sa-môn.”
Thế
Tôn bảo:
“Phàm
người làm đạo, chưa từ biệt cha mẹ thì không được làm
Sa-môn.”
Lúc
ấy, con trưởng giả bạch Thế Tôn:
“Con
sẽ xin cha mẹ cho phép.”
Thế
Tôn bảo:
“Nay
là lúc thích hợp.”
Bấy
giờ, con trưởng giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
sát chân lui đi. Trở về đến nhà, cậu thưa với cha mẹ
rằng:
“Cúi
xin cho phép con được làm Sa-môn!”
Cha
mẹ đáp:
“Hiện
tại chúng ta chỉ có một mình con. Trong nhà sinh nghiệp lại
nhiều tiền của. Hành pháp Sa-môn thật là không dễ!”
Con
trưởng giả thưa:
“Như
Lai xuất thế ức kiếp mới có, thật không thể gặp. Thật
lâu mới xuất hiện. Như hoa ưu-đàm-bát, thật lâu mới có;
cũng vậy, Như Lai ức kiếp mới xuất hiện.”
Lúc
này, cha mẹ của con trưởng giả cùng than thở nhau nói rằng:
“Nay
đã đúng lúc, con cứ tùy nghi.”
Lúc
ấy, con trưởng giả lạy sát chân, rồi từ biệt ra đi. Đến
chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một bên.
Bấy giờ, con trưởng giả kia bạch Thế Tôn:
“Cha
mẹ con đã cho phép. Cúi xin Thế Tôn cho phép con hành đạo.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Xá-lợi-phất:
“Ông
hãy độ con trưởng giả này cho làm Sa-môn.”
Xá-lợi-phất
đáp:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn.”
Xá-lợi-phất
vâng theo lời Phật dạy, độ cho cậu bé làm Sa-di, hằng ngày
dạy dỗ. Sa-di kia ở tại nơi vắng vẻ, tự khắc phục, tu
tập, vì mục đích mà thiện gia nam tử xuất gia học đạo,
cạo bỏ râu tóc, tu phạm hạnh vô thượng, là vì muốn được
lìa khổ. Lúc ấy, Sa-di thành A-la-hán. Rồi đi đến chỗ Thế
Tôn, đảnh lễ sát chân, bạch Thế Tôn:
“Nay
con đã thấy Phật, nghe pháp, không có nghi ngờ gì nữa.”
Thế
Tôn bảo:
“Nay
ông như thế nào là thấy Phật, nghe Pháp, không có nghi ngờ
gì nữa?”
Sa-di
bạch Phật:
“Sắc
là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ là vô ngã. Vô
ngã tức là không. Không là chẳng phải có, chẳng phải không
có, cũng không có ngã. Như vậy là điều được [679a01] người
trí giác tri. Thọ*, tưởng, hành, thức là vô thường. Vô
thường tức là khổ. Khổ là vô ngã. Vô ngã tức là không.
Không là chẳng phải có, chẳng phải không có, cũng không
có ngã. Như vậy là điều được người trí giác tri. Năm
thủ uẩn này là vô thường, khổ, không, vô ngã, chẳng phải
có, nhiều điều khổ não, không thể chữa trị, thường ở
chỗ hôi hám, không thể giữ lâu, tất quán không có ngã.
Hôm nay, con quan sát Pháp này, liền thấy Như Lai.”
Thế
Tôn bảo:
“Lành
thay, lành thay Sa-di! Ta tức thì cho phép ông làm Sa-môn đó.”
Sa-di
kia sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 7[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Tôn giả Na-la-đà[24] ở trong vườn trúc của một trưởng
giả,[25] nước Ba-la-lê.[26] Bấy giờ, đệ nhất phu phân[27]
vua Văn-trà[28] qua đời. Bà rất được vua yêu kính, luôn
luôn nhớ tưởng trong lòng. Lúc đó, có một người đến
chỗ vua tâu rằng:
“Đại
vương nên biết, nay Đệ nhất phu phân đã qua đời.”
Lúc
vua nghe phu nhân vô thường, trong lòng sầu ưu, bảo người
vừa đến rằng:
“Ngươi
mau chóng khiêng tử thi phu phân tẩm trong dầu mè cho ta thấy.”
Lúc
đó, người kia vâng lệnh vua, liền đem xác phu nhân tẩm trong
dầu mè.
Sau
khi nghe phu phân mất, vua trong lòng sầu não cực kỳ, không
ăn uống, không trị theo vương pháp, không xử lý việc triều
đình. Khi ấy, tả hữu có một người tên Thiện Niệm,[29]
thường cầm kiếm hầu đại vương. Ông tâu đại vương:
“Đại
vương nên biết, trong nước này có Sa-môn tên là Na-la-đà
đã đắc A-la-hán, có thần túc lớn, hiểu rộng, biết nhiều,
không việc gì không rành rẽ, biện tài dũng tuệ, nói chuyện
thường hàm tiếu. Xin vua hãy đi đến đó nghe vị ấy thuyết
Pháp. Nếu vua nghe Pháp, sẽ không còn ưu sầu khổ não nữa.”
Vua
đáp:
“Lành
thay, lành thay, khanh khéo nói những lời này. Thiện Niệm,
nay khanh đến đó báo trước Sa-môn kia. Vì sao vậy? Vì phàm
Chuyển luân Thánh vương muốn đến chỗ nào thì phải sai
người đi trước. Nếu không sai người báo trước mà đến,
điều này không thể.”
Thiện
Niệm đáp:
“Tuân
lệnh đại vương.”
Rồi
ông tuân lệnh của vua, đi vào trong vườn trúc trưởng giả,
đến chỗ Na-la-đà. Đến nơi, ông đảnh lễ sát chân ngài,
rồi đứng qua một bên.
Bấy
giờ, Thiện Niệm bạch Tôn giả Na-la-đà:
“Ngài
biết cho, Phu nhân đại vương đã qua đời. Nhân khổ não
này, vua không ăn, không uống, cũng lại không trị vương pháp,
không xử quốc sự. Nay vua muốn đến hầu thăm [79b01] Tôn
nhan. Cúi xin Ngài khéo vì vua mà thuyết pháp, khiến vua không
còn sầu khổ.”
Na-la-đà
nói:
“Muốn
đến thì nay là lúc thích hợp.”
Thiện
Niệm nghe dạy rồi, liền đảnh lễ sát chân mà lui đi. Về
đến chỗ vua, ông tâu rằng:
“Tôi
đã báo cho Sa-môn rồi, xin Vua biết cho.”
Vua
liền sai Thiện Niệm:
“Hãy
nhanh chuẩn bị xe gắn lông chim*. Nay ta muốn tương kiến cùng
Sa-môn.”
Thiện
Niệm liền chuẩn bị xe gắn lông chim*. Rồi đến trước
tâu vua:
“Xe
đã chuẩn bị xong, Vua biết cho, đã đúng giờ.”
Bấy
giờ, vua lên xe gắn lông chim* ra khỏi thành, đến chỗ Na-la-đà,
đi bộ vào trong vườn trúc trưởng giả. Theo phép Nhân vương,
vua phải cởi năm thứ nghi trượng bỏ sang một bên, rồi
đến chỗ Na-la-đà, đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một
bên.
Lúc
ấy, Na-la-đà nói với vua:
“Đại
vương nên biết, đừng vì pháp mộng huyễn khởi sầu ưu,
đừng vì pháp bọt nổi cùng vốc tuyết mà khởi sầu ưu,
lại cũng không thể vì tưởng pháp như hoa mà khởi sầu ưu.
Vì sao vậy? Nay có năm việc thật không thể được, đó là
những điều Như Lai đã nói. Những gì là năm? Phàm vật phải
tận, muốn cho không tận, điều này không thể được. Phàm
vật phải diệt, muốn cho không diệt, điều này không thể
được. Phàm pháp phải già, muốn cho không già, điều này
không thể được. Lại nữa, phàm pháp phải bệnh, muốn cho
không bệnh, điều này không thể được. Lại nữa, phàm pháp
phải chết, muốn cho không chết, điều này không thể được.
Này Đại vương, đó gọi là có năm việc thật không thể
được này, đó là những điều Như Lai đã nói.”
Bấy
giờ, Na-la-đà liền nói kệ này:
Không
phải do sầu lo,
Mà
được phước lành này.
Nếu
trong lòng sầu ưu,
Bị
ngoại cảnh chi phối.
Nếu
như người có trí
Quyết
không tư duy vậy,
Nên
ngoại địch phải sầu,
Vì
không chi phối được.
Đủ
oai nghi lễ tiết;
Ham
thí không tâm tiếc;
Nên
cầu phương tiện này,
Khiến
được lợi lớn kia.
Giả
sử không thể được,
Ta
và những người ấy
Không
sầu cũng không hoạn:
Hành
báo biết thế nào?
“Đại
vương nên biết, vật phải bị mất, nó sẽ mất. Khi nó đã
mất, khiến cho sầu [679c01] ưu khổ não, đau đớn không thể
tả, rằng: ‘Người yêu của ta ngày nay đã mất.’ Đó gọi
là cái gì phải bị mất, thì nó mất, ở đó mà khởi sầu
ưu khổ não, đau đớn không thể tả. Này Đại vương, đó
gọi là gai sầu thứ nhất đâm dính tâm ý. Người phàm phu
có pháp này, không biết xuất xứ của sinh, già, bịnh, chết
từ đâu đến.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền thánh có học, đối với vật phải bị
mất, khi nó mất, vị ấy không khởi sầu ưu khổ não, mà
sẽ học điều này: ‘Nay cái mà ta bị mất, chẳng phải
một mình thôi, người khác cũng bị pháp này. Nếu ở đó,
ta khởi sầu ưu thì điều này không thích hợp. Hoặc sẽ
làm cho thân tộc khởi sầu ưu, oan gia thì vui mừng; ăn không
tiêu hóa tức sẽ thành bệnh, thân thể bức rức phiền muộn.
Do gốc duyên này, đưa đến mạng chung.’ Bấy giờ, vị ấy
trừ bỏ gai nhọn ưu lo, thoát khỏi sinh, già, bịnh, chết,
không còn pháp tai nạn khổ não nữa.
“Lại
nữa Đại vương, vật phải bị diệt, nó sẽ diệt. Khi nó
đã diệt, liền khiến sầu ưu khổ não, đau đớn không thể
tả, rằng: ‘Vật ta yêu hôm nay đã diệt.’ Đó gọi là
vật phải bị diệt, thì nó diệt, ở đó mà khởi sầu ưu
khổ não, đau đớn không thể tả. Này Đại vương, đó gọi
là gai sầu thứ hai đâm dính tâm ý thứ hai. Người phàm phu
có pháp này, không biết xuất xứ của sinh, già, bịnh, chết
từ đâu đến.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền thánh có học, đối với vật phải bị
diệt, khi nó diệt, vị ấy không khởi sầu ưu khổ não, mà
sẽ học điều này: ‘Nay cái mà ta bị diệt, chẳng phải
một mình thôi, người khác cũng bị pháp này. Nếu ở đó,
ta khởi sầu ưu thì điều này không thích hợp. Hoặc sẽ
làm cho thân tộc khởi sầu lo, oan gia thì vui mừng; ăn không
tiêu hóa tức sẽ thành bệnh, thân thể bức rức phiền muộn.
Do gốc duyên này, liền đưa đến mạng chung.’ Bấy giờ,
vị ấy trừ bỏ gai nhọn ưu lo, thoát khỏi sinh, già, bịnh,
chết, không còn pháp tai nạn khổ não nữa.
“Lại
nữa Đại vương, vật phải bị già, nó sẽ già. Khi nó đã
già, liền khiến sầu ưu khổ não, đau đớn không thể tả,
rằng: ‘Vật ta yêu hôm nay đã già.’ Đó gọi là phải bị
già, thì nó già, ở đó, khởi sầu ưu khổ não, đau đớn
không thể tả. Này Đại vương! Đó gọi là gai sầu thứ
ba đâm dính tâm ý. Người phàm phu có pháp này, không biết
chỗ đến, xuất xứ của sinh, già, bịnh, chết.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền thánh có học, đối với vật phải bị
già, nó liền già, lúc đó, người kia không khởi sầu ưu
khổ não thường học những điều này: ‘Nay cái mà ta [680a01]
bị già chẳng phải một mình thôi, người khác cũng bị pháp
này. Nếu ở đó, ta khởi sầu ưu thì điều này không thích
hợp. Hoặc sẽ làm cho thân tộc khởi sầu lo, oan gia thì vui
mừng; ăn không tiêu hóa tức sẽ thành bệnh, thân thể bức
rức phiền muộn. Do gốc duyên này, liền đưa đến mạng
chung.’ Bấy giờ, vị ấy trừ bỏ gai nhọn ưu lo, thoát khỏi
sinh, già, bịnh, chết, không còn pháp tai nạn khổ não nữa.
“Lại
nữa Đại vương, vật phải bị bệnh, nó sẽ bệnh. Khi nó
đã bệnh, liền khiến sầu ưu khổ não, đau đớn không thể
tả. ‘Vật ta yêu hôm nay đã bệnh.’ Đó gọi là vật phải
bị bệnh thì nó bệnh, ở đó, khởi sầu ưu khổ não, đau
đớn không thể tả. Này đại vương! Đó gọi là gai sầu
thứ hai đâm dính tâm ý. Người phàm phu có pháp này, không
biết chỗ đến, xuất xứ của sinh, già, bịnh, chết.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền thánh có học, đối với vật phải bị
bệnh, nó liền bệnh, lúc đó, người kia không khởi sầu
ưu khổ não thường học những điều này: ‘Nay cái mà ta
bị bệnh chẳng phải một mình thôi, người khác cũng bị
pháp này. Nếu ở đó, ta khởi sầu ưu thì điều này không
thích hợp. Hoặc sẽ làm cho thân tộc khởi sầu lo, oan gia
thì vui mừng; ăn không tiêu hóa tức sẽ thành bệnh, thân
thể bức rức phiền muộn. Do gốc duyên này, liền đưa đến
mạng chung.’ Bấy giờ, vị ấy trừ bỏ gai nhọn ưu lo, thoát
khỏi sinh, già, bịnh, chết, không còn pháp tai nạn khổ não
nữa.
“Lại
nữa Đại vương, vật phải bị chết, nó sẽ chết. Khi nó
đã chết, liền khiến sầu ưu khổ não, đau đớn không thể
tả, rằng: ‘Vật ta yêu hôm nay đã chết.’ Đó gọi là
vật phải bị chết, nó liền chết, ở đó, khởi sầu ưu
khổ não, đau đớn không thể tả. Này Đại vương! Đó gọi
là gai sầu thứ năm tâm ý. Người phàm phu có pháp này, không
biết chỗ đến, xuất xứ của sinh, già, bịnh, chết.
“Lại
nữa, đệ tử Hiền thánh có học, đối với vật phải bị
chết, nó liền chết, lúc đó, người kia không khởi sầu
ưu khổ não thường học những điều này: ‘Nay cái mà ta
bị chết chẳng phải một mình thôi, người khác cũng bị
pháp này. Nếu ở đó, ta khởi sầu ưu thì điều này không
thích hợp. Hoặc sẽ làm cho thân tộc khởi sầu lo, oan gia
thì vui mừng; ăn không tiêu hóa tức sẽ thành bệnh, thân
thể bức rức phiền muộn. Do gốc duyên này, liền đưa đến
mạng chung.’ Bấy giờ, vị ấy trừ bỏ gai nhọn ưu lo, thóat
khỏi sinh, già, bịnh, chết, không còn pháp tai nạn khổ não
nữa.
Lúc
ấy, Đại vương bạch Tôn giả Na-la-đà:
“Đó
gọi là pháp gì và nên phụng hành thế nào?”
Na-la-đà
nói:
“Kinh
này gọi là trừ mối hoạn ưu sầu, nên ghi nhớ phụng hành.”
Thời
Đại vương nói:
“Đúng
như [680b01] lời Ngài nói, trừ bỏ sầu ưu. Vì sao vậy? Vì
sau khi nghe pháp này rồi, những gì là sầu khổ nơi tôi, hôm
nay đã được trừ hẳn. Nếu Tôn giả có điều gì chỉ dạy,
mong hãy thường vào cung, tôi sẽ cung cấp cho, khiến cho đất
nước nhân dân hưởng mãi phước không cùng. Cúi xin Tôn giả
diễn rộng pháp này còn mãi mãi ở Thế gian, cho chúng bốn
bộ được an ổn lâu dài. Nay, con xin quy y Tôn giả Na-la-đà.”
Na-la-đà
nói:
“Đại
vương, chớ quy y tôi, hãy quy y nơi Phật.”
Khi
ấy vua hỏi:
“Nay
Phật ở nơi nào?”
Na-la-đà
nói:
“Đại
vương nên biết, vua nước Ca-tỳ-la-vệ, xuất xứ từ họ
Thích, thuộc dòng Chuyển luân Thánh vương; Vua này có con tên
là Tất-đạt, xuất gia học đạo, nay tự thành Phật hiệu
Thích-ca Văn. Hãy tự quy y với vị ấy.”
Đại
vương lại hỏi:
“Nay
Phật ở phương nào?”
Na-la-đà
nói:
“Như
Lai đã nhập Niết-bàn.”
Đại
vương nói:
“Như
Lai diệt độ sao nhanh chóng vậy! Nếu Ngài còn tại thế,
dù trải qua hàng ngàn vạn do tuần, tôi cũng sẽ đến hầu
thăm.”
Rồi
vua rời chỗ ngồi đứng dậy, quì gối chấp tay thưa rằng:
“Con
tự quy y Như Lai, Pháp, Tăng Tỳ-kheo, trọn đời cho phép con
làm ưu-bà-tắc, không sát sanh. Vì việc nước đa đoan, giờ
con muốn trở về cung.”
Na-la-đà
nói:
“Nay
đã đúng lúc”
Vua
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân, nhiễu
quanh ba vòng, rồi ra đi.
Vua
Văn-trà sau khi nghe những gì Na-la-đà dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người
bệnh tật mà thành tựu năm pháp thì không lúc nào lành bệnh
được, thường nằm liệt giường chiếu. Những gì là năm?
Hoặc khi người bệnh không chọn đồ ăn thức uống, không
tùy thời ăn, không thân cận y dược, nhiều ưu, ưa sân, không
khởi lòng từ đối với người nuôi bệnh. Tỳ-kheo, đó gọi
là người bệnh tật thành tựu năm pháp này, không lúc nào
lành bệnh được.
“Nếu
lại có bệnh nhân nào thành tựu năm pháp thì sẽ được
bệnh mau lành. Những gì là năm? Hoặc khi bệnh nhân chọn
lựa thức ăn, tùy thời ăn, thân cận y dược, trong lòng không
sầu ưu, hằng khởi tâm từ đối với người nuôi bệnh.
Tỳ-kheo, đó gọi là bệnh nhân thành tựu năm pháp này liền
được lành bệnh.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, năm pháp trước hãy niệm lìa bỏ. Năm pháp
sau nên cùng phụng hành.
[680c01]“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
người nào nuôi bệnh thành tựu năm pháp thì bệnh nhân không
được chóng khỏi, thường nằm liệt giường. Những gì là
năm? Lúc đó, người nuôi bệnh không phân biệt thuốc hay,
biếng nhác không tâm dũng mãnh, thường ưa sân hận cũng ham
ngủ nghỉ, chỉ tham ăn nên nuôi bệnh nhân không đúng pháp
cung dưỡng, không cùng người bệnh chuyện trò trao đổi.
Này Tỳ-kheo, đó gọi là người nuôi bệnh nào thành tựu
năm pháp này thì bệnh nhân không được chóng khỏi.
“Lại
này Tỳ-kheo! Nếu người nuôi bệnh nào thành tựu năm pháp
thì bệnh liền mau lành, không nằm liệt giường. Sao gọi
là năm? Lúc đó, người nuôi bệnh phân biệt thuốc hay; cũng
không biếng nhác, thức trước ngủ sau; thường thích nói
chuyện, ít ngủ nghỉ; dùng pháp cung dưỡng, không ham ăn uống;
chịu khó vì bệnh Nhân mà nói pháp. Này Tỳ-kheo, đó gọi
là người nuôi bệnh thành tựu năm pháp này thì bệnh nhân
được chóng khỏi.
“Cho
nên, các Tỳ-kheo, lúc nuôi bệnh nhân phải bỏ năm pháp trước,
thành tựu năm pháp sau.
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Sau
khi, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 10[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú trong rừng Di-hầu[33] tại Tỳ-xá-ly
cùng năm trăm Tỳ-kheo. Bấy giờ, Đại tướng Sư Tử[34] đi
đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng qua một
bên. Bấy giờ, Phật bảo Sư Tử :
“Thế
nào, trong nhà ông thường có bố thí không?”
Sư
Tử bạch Phật:
“Con
thường ở ngoài bốn cửa thành và trong thành phố, tùy thời
mà bố thí không cho thiếu sót. Ai cần ăn, cung cấp thức
ăn. Y phục, hương hoa, xe ngựa, toạ cụ, tùy theo chỗ cần
dùng của họ, con đều khiến cung cấp cho họ.”
Phật
bảo Sư Tử :
“Lành
thay, lành thay, ông có thể bố thí mà không ôm lòng tưởng
tiếc. Đàn-việt thí chủ tuỳ thời bố thí có năm công đức.
Những gì là năm? Lúc đó, đàn việt thí chủ được tiếng
đồn vang khắp, mọi người khen ngợi rằng: ‘Tại thôn làng
kia có đàn-việt thí chủ thường ưa tiếp đón sa-môn, bà-la-môn,
tùy theo nhu cầu mà cung cấp, không để thiếu sót. Này Sư
Tử, đó gọi là công đức thứ nhất mà đàn-việt thí chủ
thu được.
“Lại
nữa, này [681a01] Sư Tử, khi đàn-việt thí chủ đến trong
chúng sa-môn, sát-lợi, bà-la-môn, trưởng giả, trong ôm lòng
hổ thẹn, cũng không có điều sợ hãi. Giống như sư tử,
vua loài thú, ở giữa bầy nai, không hề sợ nạn. Này Sư
Tử, đó gọi là công đức thứ hai mà đàn-việt thí chủ
thu được.
“Lại
nữa, này Sư Tử, đàn-việt thí chủ được mọi người kính
ngưỡng, người thấy vui mừng như con thấy cha, ngắm nhìn
không chán. Này Sư Tử, đó gọi là phước đức thứ ba mà
đàn-việt thí chủ thu được.
“Lại
nữa, này Sư Tử, đàn-việt thí chủ sau khi mạng chung sẽ
sinh hai nơi: Hoặc sinh lên trời, hoặc sinh trong loài người.
Ở trời được trời kính trọng; ở người được người
tôn quí. Này Sư Tử, đó gọi là phước đức thứ tư mà
đàn-việt thí chủ thu được.
“Lại
nữa, này Sư Tử, đàn-việt thí chủ, trí huệ xa vời vượt
lên mọi người, hiện thân diện tận lậu, không tái sinh
đời sau. Này Sư Tử, đó gọi là phước đức thứ năm mà
đàn-việt thí chủ thu được.
“Phàm
người bố thí có năm đức, thường đi theo bên mình.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Tâm
ưa thích bố thí,
Thành
công đức đầy đủ;
Trong
chúng không nghi nan,
Cũng
không hề sợ hãi.
Người
trí hãy bố thí,
Tâm
đầu không hối tiếc.
Tại
trời Tam thập Tam,
Ngọc
nữ sẽ vây quanh.
“Vì
vậy, Sư Tử nên biết, đàn-việt thí chủ sinh hai chỗ lành,
hiện thân hết lậu, đến chỗ vô vi.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Thí
là lương đời sau,
Đưa
đến chỗ rốt ráo.
Thiện
thần thường theo hộ;
Cũng
khiến cho hoan hỷ.
“Vì
sao vậy? Sư Tử nên biết, vì khi bố thí thường hiện lòng
hoan hỷ, thân tâm kiên cố, nên các công đức lành đều đầy
đủ, được tam-muội, ý cũng không tán loạn, biết như thật.
Thế nào là biết như thật? Đây là khổ, tập, khổ diệt,
khổ xuất ly, thảy đều biết như thật. Cho nên, này Sư Tử,
hãy tìm cầu phuơng tiện tùy thời bố thí. Nếu muốn đắc
đạo Thanh Văn, Bích-chi-phật thì thảy đều như ý. Này Sư
Tử, hãy học điều này như vậy.”
Sư
Tử sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 11[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ. [681b1] Bấy giờ, Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Khi
đàn-việt thí chủ huệ thí, được năm sự công đức.[36]
Những gì là năm? Một là thí mạng,[37] hai là thí sắc, ba
là thí an lạc, bốn là thí sức, năm là thí biện tài[38].
Đó gọi là năm.
“Lại
nữa, đàn-việt thí chủ lúc thí mạng là muốn được trường
thọ, lúc thí sắc là muốn được xinh đẹp, lúc thí an lạc
là muốn được không bệnh, lúc thí sức là muốn không ai
hơn, lúc thí biện tài là muốn được biện tài vô thượng
chơn chánh.
“Các
Tỳ-kheo, nên biết, đó gọi là khi đàn-việt thí chủ bố
thí, có năm sự công đức này.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Thí
mạng, sắc, và an,
Sức,
biện tài, năm thứ;
Đủ
năm công đức này,
Sau
hưởng phước vô cùng.
Người
trí nên bố thí,
Trừ
bỏ lòng tham dục;
Thân
này có danh dự,
Sinh
trời cũng lại vậy.
“Nếu
thiện nam, thiện nữ nào muốn được năm công đức này,
hãy làm năm việc này.”
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo
sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 12[39]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí
đúng thời[40] có năm sự. Những gì là năm? Một là thí cho
khách xa đến. Hai là thí cho người đi xa. Ba là thí cho người
bệnh. Bốn là thí cho lúc thiếu. Năm là thí lúc mới thu hoạch
cây trái, ngũ cốc trước tiên, cúng dường cho người trì
giới tinh tấn, sau đó tự dùng. Này các Tỳ-kheo, đó gọi
là thí đúng thời có năm sự này.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Người
trí thí đúng thời
Tín
tâm không dứt mất.
Ở
đây chóng hưởng vui;
Sanh
thiên đủ các đức.
Tuỳ
thời niệm bố thí,
Thọ
phước như tiếng vang.
Vĩnh
viễn không thiếu thốn,
Nơi
sinh thường giàu sang.
Thí
là đủ các hành,
Đạt
đến vị vô thượng.
Thí
nhiều không khởi tưởng,
Hoan
hỷ càng tăng trưởng.
Trong
tâm sanh niệm này,
Ý
loạn tuyệt không còn.
Cảm
nhận thân an lạc,
Tâm
liền được giải thoát.
Cho
nên người có trí,
Không
kể nam hay nữ,
Hãy
hành năm thí này;
Không
mất phương tiện nghi.
“Cho
nên, các Tỳ-kheo, nếu có Tỳ-kheo, thiện nam, thiện nữ nào,
muốn hành năm sự này thì, nên thí tùy thời.”
“Các
Tỳ-kheo, hãy học điều này như vậy.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt:
Thiện,
bất thiện, lễ Phật,
Thiên
sứ, tuế, ngũ đoan,
Văn-trà,
thân, nuôi bệnh,
Năm
thí, tùy thời thí.[41]
33.
PHẨM
NĂM VUA
KINH
SỐ 1[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây
Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, vua năm nước lớn, đứng đầu là Ba-tư-nặc, nhóm họp
ở trong lạc viên, bàn luận với nhau những điều sau đây.
Năm vua gồm những ai? Vua Ba-tư-nặc,[43] vua Tỳ-Sa,[44] vua Ưu-điền,[45]
vua Ác Sanh[46] và vua Ưu-đà-diên.[47]
Khi
ấy, năm vua nhóm họp lại một chỗ bàn luận những điều
này:
“Chư
Hiền nên biết, Như Lai nói về năm dục[48] này. Những gì
là năm? Sắc được thấy bởi mắt khả ái, khả niệm, được
người đời mong muốn. Tiếng được nghe bởi tai, hương được
ngửi bởi mũi, vị được nếm bởi lưỡi, mịn láng được
xúc chạm bởi thân. Như Lai nói về năm dục này. Trong năm
dục này, cái nào tối diệu? Sắc được thấy bởi mắt chăng?
Tiếng được nghe bởi tai là tối diệu chăng? Hương được
ngửi bởi mũi là tối diệu chăng? Vị được nếm bởi lưỡi
là tối diệu chăng? Mịn láng được xúc chạm bởi thân là
tối diệu chăng? Năm sự này, cái nào là tối diệu? Trong
đó, hoặc có quốc vương nói sắc là tối diệu. Hoặc có
vị bàn thanh là tối diệu. Hoặc có vị bàn hương là tối
diệu. Hoặc có vị bàn vị là tối diệu. Hoặc có vị bàn
mịn trơn là tối diệu.
“Lúc
[682a01] ấy, nói sắc tối diệu là thuyết của vua Ưu-đà-diên.
Nói thanh tối diệu là luận của vua Ưu-điền. Nói hương
tối diệu là luận của vua Ác Sanh. Nói vị tối diệu là
luận của vua Ba-tư-nặc. Nói mịn trơn tối diệu là luận
của vua Tỳ-sa. Bấy giờ, năm vua nói nhau:
“Chúng
ta cùng bàn luận về năm dục này, nhưng lại không biết cái
nào là tối diệu.”
Vua
Ba-tư-nặc bèn nói với bốn vị vua kia:
“Phật
đang ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước
Xá-vệ. Chúng ta cùng đến hết chỗ Thế Tôn hỏi nghĩa này.
Nếu Thế Tôn có điều chi dạy bảo. chúng ta sẽ cùng phụng
hành.”
Các
vua sau khi nghe vua Ba-tư-nặc nói vậy, liền cùng dẫn nhau đến
chỗ Thế Tôn, đảnh lễ sát chân rồi ngồi qua một bên.
Khi ấy, vua Ba-tư-nặc đem những điều cùng bàn về năm dục
đầy đủ bạch lên Như Lai.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo năm vị vua:
“Những
gì các vua bàn, đúng tùy theo trường hợp. Vì sao vậy? Vì
tùy vào tánh hạnh mỗi người. Người đắm nhiễm sắc, nhìn
sắc không biết chán. Với người này sắc là tối thượng,
không gì vượt qua. Bấy giờ, người đó không đắm nhiễm
thanh, hương, vị, mịn trơn. Trong năm dục, sắc là tối diệu.
“Nếu
người có tánh hạnh đắm nhiễm âm thanh, khi nghe thanh, lòng
rất hoan hỷ, mà không chán. Với người này, thanh là tối
diệu tối thượng. Trong năm dục, thanh là tối diệu.
“Nếu
người có tánh hạnh đắm nhiễm hương, khi ngửi hương, lòng
rất hoan hỷ, mà không chán. Với người này, hương là tối
diệu, tối thượng. Trong năm dục, hương là tối diệu.
“Nếu
người có tánh hạnh nhiễm đắm vị ngon, khi biết vị rồi,
lòng rất hoan hỷ, mà không chán. Với người này, vị là
tối diệu tối thượng. Trong năm dục, vị là tối diệu.
“Nếu
người có tánh hạnh nhiễm đắm mịn trơn, khi được mịn
trơn rồi lòng rất là hoan hỷ, mà không chán. Với người
này, mịn trơn là tối diệu, tối thượng. Trong năm dục,
mịn trơn là tối diệu.
“Nếu
tâm người kia đắm nhiễm sắc, khi ấy người đó sẽ không
đắm nhiễm pháp thanh, hương, vị, và mịn trơn.
“Nếu
người kia có tánh hạnh đắm nhiễm thanh, người đó không
còn đắm nhiễm pháp sắc, hương, vị, và mịn trơn.
“Nếu
người kia có tánh hạnh đắm nhiễm hương, người đó không
còn đắm nhiễm pháp sắc, thanh, vị, và mịn trơn.
“Nếu
người kia có tánh hạnh đắm nhiễm vị, người đó không
còn đắm nhiễm pháp sắc, thanh, hương, và mịn trơn.
[682b01]
“Nếu người kia có tánh hạnh đắm nhiễm mịn trơn, người
đó không còn không đắm nhiễm pháp sắc, thanh, hương, vị.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói k