HAI
PHÁP
15.
PHẨM
HỮU VÔ
KINH
SỐ 1
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nên
biết, có hai kiến này. Thế nào là hai? Đó là hữu kiến,
vô kiến.[1] Các Sa-môn, Bà-la-môn nào đã tập, đã đọc tụng
ở nơi hai kiến chấp này, mà trọn không hề theo pháp đó,
không như thật biết; thì nên biết đó không phải là Sa-môn,
Bà-la-môn. Với Sa-môn thì phạm pháp Sa-môn, với Bà-la-môn
thì phạm pháp Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn này không bao
giờ tự thân tác chứng mà tự an trú.[2]
“Các
Sa-môn, Bà-la-môn nào đã tập, đã đọc tụng ở nơi hai kiến
chấp này, mà đáng xả thì biêt xả, như thật biết, thì
đó là Sa-môn trì hạnh Sa-môn; là Bà-la-môn biết hạnh Sa-môn,
tự thân tác chứng mà tự an trú, và biết như thật rằng,
‘Sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, không còn tái sinh
đời sau nữa.’
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, đối với hai kiến này không nên tập
hành, không nên đọc tụng, nên lìa bỏ tất cả. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, [577b01] rừng
cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai kiến này. Thế nào là hai kiến? Đó là hữu kiến, vô
kiến. Thế nào là hữu kiến? Thấy dục có thật; thấy sắc
có thật; thấy vô sắc có thật[3]. Thế nào là thấy dục
có thật? Đó là năm dục. Năm dục là những gì? Sắc được
thấy bởi mắt, rất khả ái, rất khả niệm mà người đời
tôn thờ chưa từng lìa bỏ. Thanh được nghe bởi tai, hương
được ngữi bởi mũi, vị được nếm bởi lưỡi, mượt
láng được xúc chạm bởi thân, pháp được nhận biết bởi
ý. Đó là hữu kiến.
“Thế
nào là vô kiến? Thấy có thường, thấy vô thường; thấy
có đoạn diệt, thấy không đoạn diệt; thấy có biên, thấy
không biên; thấy có thân, thấy không thân; thấy có mạng,
thấy không mạng; thấy thân khác, thấy mạng khác. Sáu mươi
hai kiến này gọi là vô kiến, và cũng chẳng phải là chân
kiến. Đó gọi là vô kiến.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy xả bỏ hai kiến này. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 3[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai thí này. Những gì là hai? Pháp thí, tài thí. Trên hết
trong bố thí, không gì hơn pháp thí.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, thường nên học pháp thí. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 4[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai nghiệp này. Thế nào là hai nghiệp? Có pháp nghiệp, có
tài nghiệp.[6] Trên hết trong nghiệp, không gì hơn pháp nghiệp.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, nên học pháp nghiệp, không học tài
nghiệp. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai ân này. Thế nào là hai? Pháp ân, tài ân.[8] Trên hết trong
ân, không gì hơn pháp ân.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, nên tu hành pháp ân. Như vậy, này các
[577c01] Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Người
ngu có hai tướng để nhận diện mạo. Những gì là hai? Ở
đây, với người ngu những việc không thể làm xong mà vẫn
làm, những việc làm sắp xong thì chán bỏ.[9] Này các Tỳ-kheo,
đó gọi là người ngu có hai thứ tướng mạo.
“Lại
nữa, Tỳ-kheo, người trí có hai tướng để nhận diện mạo.
Những gì là hai? Ở đây, với người trí những việc không
thể làm xong được thì không làm, những việc làm sắp xong,
cũng không chán bỏ.
“Cho
nên, này các Tỷ-kheo, hãy gạt bỏ hai tướng của người
ngu; hãy nương hai tướng của người trí mà tu hành. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai pháp này, mà bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhất ý
lễ kính Như Lai. Thế nào là hai pháp? Một là trí tuệ, hai
là diệt tận. Tỳ-kheo, đó gọi là bên trong tự tư duy, và
chuyên tinh nhất ý lễ kính Như Lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhất ý kính
lễ pháp bảo, hay kính lễ thần miếu Như Lai. [10] Thế nào
là hai pháp? Có lực, có vô úy. Tỳ-kheo, đó gọi là có hai
pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhất ý lễ kính
pháp bảo, hay thần miếu Như Lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo,
hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh nhất ý kính
lễ chùa Như Lai. [11] Thế nào là hai pháp? Như Lai không đồng
đẳng với người thế gian. Như Lai có đại từ, đại bi,
[578a01] thương tưởng mười phương. Tỳ-kheo, đó gọi là
có hai pháp này, bên trong tự tư duy, và chuyên tinh một ý
lễ kính chùa Như Lai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học
điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai nhân, hai duyên khởi lên chánh kiến. Những gì là hai? Nhận
pháp giáo hóa, bên trong tư duy chỉ quán.[12] Tỳ-kheo, đó gọi
là có hai nhân, hai duyên này khởi lên chánh kiến. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
Kệ
tóm tắt:
Hai
kiến, và hai thí
Kẻ
ngu có hai tướng,
Lễ
pháp, miếu Như Lai,
Chánh
kiến, kinh sau cùng.
16.
PHẨM
HỎA DIỆT
KINH
SỐ 1[13]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Tôn giả Nan-đà ở trong vườn Tượng hoa,[14] tại thành
Vương xá. Lúc ấy, Tôn giả Nan-đà ở nơi vắng vẻ, tự
nghĩ: “Như Lai xuất hiện ở đời, thật là khó gặp; ức
kiếp mới xuất hiện, thật không thể gặp. Một thời thật
lâu dài, Như Lai mới xuất hiện. Giống như hoa Ưu-đàm-bát
thỉnh thoảng mới xuất hiện. Cũng vậy, Như Lai xuất hiện
ở đời, thật là khó gặp; ức kiếp mới xuất hiện, nên
thật là khó gặp. Trường hợp này cũng khó gặp: Tất cả
các hành đều tĩnh chỉ, ái diệt tận không còn, cũng không
nhiễm ô, diệt tận, Niết-bàn.”
Bấy
giớ có một thiên tử Ma Hành,[15] biết những ý nghĩ trong
tâm Tôn giả Nan-đà, liền đến cô gái Thích Tôn-đà-lợi[16];
bay trên hư không, dùng kệ tán thán rằng:
Nay
cô hãy vui mừng,
Trang
điểm, tấu ngũ nhạc.
Nan-đà
bỏ pháp phục,
Sẽ
đến cùng hưởng vui.
Cô
gái họ Thích Tôn-đà-lợi, sau khi nghe những lời này của
ông trời, vui mừng phấn khởi, không thể tự chế được,
liền tự trang sức, sửa sang dọn dẹp nhà cửa, trải tọa
cụ tốt, trổi kỹ nhạc như lúc Nan-đà còn ở nhà không
khác.
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc tập họp tại giảng đường Phổ hội,
nghe đồn Tỳ-kheo Nan-đà trả lại pháp phục sống đời gia
nghiệp. Vì sao vậy? Vì có vị trời ở không trung mách bảo
cho [578b01] vợ ông biết. Vua Ba-tư-nặc sau khi nghe những lời
này xong, trong lòng ưu sầu, liền đóng xe bạch tượng, đi
đến khu vườn kia. Đến nơi rồi, vua đi vào trong ao Hoa tượng.
Từ xa, vua thấy Tôn giả Nan-đà, liền đến trước chỗ Nan-đà,
đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên.
Bấy
giờ, Tôn giả Nan-đà hỏi vua Ba-tư-nặc:
“Đại
vương, vì sao đến đây mà mặt mày đổi sắc? Lại có việc
gì đến chỗ tôi vậy?”
Vua
Ba-tư-nặc đáp:
“Tôn
giả nên biết, nơi giảng đường Phổ hội, tôi nghe Tôn giả
xả bỏ pháp phục trở về làm bạch y. Nghe xong những lời
này, nên tôi đến đây. Không biết Tôn giả chỉ dạy thế
nào?”
Lúc
đó Tôn giả mỉm cười, rồi từ từ bảo vua:
“Không
thấy, không nghe, cớ gì Đại vương nói những lời này? Đại
vương, há không nghe từ Như Lai rằng tôi đã trừ các kết,
sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm
đã làm xong, không còn tái sinh nữa, đã biết như thật, nay
thành A-la-hán, tâm được giải thoát sao?”
Vua
Ba-tư-nặc nói:
“Tôi
chưa nghe từ Như Lai nói Tỳ-kheo Nan-đà sinh tử đã dứt,
đắc A-la-hán, tâm được giải thoát. Vì sao vậy? Vì có vị
trời đến báo cho cô gái họ Thích Tôn-đà-lợi như vậy.
Phu nhân Tôn-đà-lợi sau khi nghe những lời này rồi, liền
trổi kỹ nhạc, sửa sang phục sức, trải các tọa cụ. Tôi
nghe những lời này rồi liền đến chỗ Tôn giả.”
Nan-đà
bảo:
“Vua
không biết, không nghe, sao Đại vương lại nói những lời
này? Các Sa-môn, Bà-la-môn, không ai là không vui thú với cái
vui do tịch tĩnh, cái vui Thiện thệ, cái vui của Sa-môn, cái
vui Niết-bàn, mà không tự quán sát cái dâm này như hầm lửa,
lại phải đi đến đó! Việc này không đúng. Dâm dục như
bộ xương, như miếng thịt, như đống đá, như mật bôi trên
dao, chỉ mắc phải tham cái lợi nhỏ, không lo cái tai hoạn
về sau. Cũng như trái xum xuê làm cho cành gãy; cũng như đồ
vay mượn không bao lâu rồi sẽ phải bồi hoàn; cũng như rừng
kiếm, cũng như thuốc độc hại, cũng như lá độc, như hoa
quả độc. Đã quán sát dâm dục này cũng lại như vậy, mà
ý còn nhiễm trước; việc này không xảy ra. Từ dục như
hầm lửa cho đến quả độc, không quán sát những điều
này mà muốn vượt qua được dục lưu, hữu lưu, kiến lưu,
vô minh lưu[17] mà muốn được nhập vào vô dư Niết-bàn giới
mà Bát-niết-bàn, thì việc này không xảy ra. Đại vương,
[578c01] nên biết, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã quán sát
đây là cái vui của tịch tĩnh, vui Thiện thệ, vui Sa-môn,
vui Niết-bàn, thì điều ấy tất xảy ra. Những vị ấy do
quán sát như vậy, hiểu rõ dâm dục như hầm lửa, giống
như bộ xương, đống thịt, mật bôi đao bén, trái xum xuê
làm cành gãy, vật mượn không lâu phải trả; cũng như rừng
kiếm, như thuốc độc hại; đã quán sát, đã biết rõ, trường
hợp ấy có xảy ra; tức là, đã hiểu rõ, biết chỗ nổi
dậy của lửa dâm, thì liền có thể vượt qua được dục
lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô minh lưu, điều này tất xảy
ra. Các vị ấy đã vượt qua dục lưu, hữu lưu, kiến lưu,
vô minh lưu, việc này tất như vậy.
“Vậy
thế nào Đại vương, lấy gì để thấy, gì để biết mà
nói như vậy? Này Đại vương, nay tôi đã thành A-la-hán, sinh
tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã
làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa, tâm được giải
thoát.”
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc lòng tràn đầy vui vẻ, tâm thiện phát
sinh, bạch Tôn giả Nan-đà rằng:
“Nay
tôi không còn chút mảy may hồ nghi nào nữa, mới biết Tôn
giả thành A-la-hán. Nay xin cáo từ, vì việc nước đa đoan.”
Nan-đà
đáp:
“Nên
biết đúng thời.”
Vua
Ba-tư-nặc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát
chân, rồi cáo lui ra về.
Vua
Ba-tư-nặc đi chưa bao lâu, Ma thiên kia đến chỗ Tôn giả
Nan-đà, đứng giữa hư không, lại dùng kệ này nói với Nan-đà
rằng:
Phu
nhân, mặt như trăng;
Thân
đeo vàng, chuổi ngọc;
Nhớ
dung nhan dáng kia,
Ngũ
nhạc hằng vui hưởng.
Gảy
đàn, đánh trống ca,
Âm
vang thật uyển chuyển,
Khiến
trừ các sầu lo.
Vui
gì trong rừng này?
Bấy
giờ, Tôn giả Nan-đà liền tự nghĩ: “Đây là trời Ma Hành.”
Biết vậy rồi, lại dùng kệ đáp:
Xưa
ta có tâm ấy,
Dâm
dật không biết chán;
Bị
dục trói vào trong,
Không
biết già, bệnh, chết.
Ta
qua vực ái dục,
Không
ô, không nhiễm trước;
Tươi
thắm kia rồi khổ;
Nay
vui pháp chân như.
Ta
đã trừ các kết,
Dâm,
nộ, si đều sạch;
Không
sống pháp ấy nữa.
Người
ngu nên biết rõ.
[579a01]Sau
khi trời Ma Hành nghe những lời này, trong lòng ưu sầu, liền
biến mất.
Lúc
ấy, các Tỳ-kheo đem nhân duyên này bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo
đoan chánh đẹp đẽ không ai hơn Tỳ-kheo Nan-đà. Có các căn
trầm lặng cũng chính là Tỳ-kheo Nan-đà. Không có dục tâm
cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Không có sân nhuế cũng là Tỳ-kheo
Nan-đà. Không có ngu si cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Thành A-la-hán
cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Vì sao vậy? Vì Tỳ-kheo Nan-đà đẹp
trai, các căn tịch tĩnh.”
Thế
Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
“Trong
hàng Thanh văn của Ta, đệ nhất[18] đoan chánh đẹp đẽ,
đó chính là Tỳ-kheo Nan-đà; các căn tịch tĩnh cũng là Tỳ-kheo
Nan-đà.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 2
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai Niết-bàn giới này.[19] Những gì là hai? Hữu dư Niết-bàn
giới, vô dư Niết-bàn giới. Kia sao gọi là hữu dư Niết-bàn
giới? Ở đây, Tỳ-kheo đã diệt năm hạ phần kết, rồi
bát-niết-bàn ở kia,[20] không còn trở lại thế gian này nữa.
Đó gọi là hữu dư Niết-bàn giới.[21] Kia, sao gọi là vô
dư Niết-bàn giới? Cũng vậy, Tỳ-kheo đã diệt tận hữu
lậu, thành vô lậu, tâm giải thoát,[22] tuệ giải thoát,[23]
tự thân tác chứng mà tự an trú, biết như thật rằng, ‘Sinh
tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần là đã
làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa.’ Đó gọi là vô
dư Niết-bàn giới.[24] Đây là hai Niết-bàn giới.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện để đến
vô dư Niết-bàn giới. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học
điều này."
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 3
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói thí dụ về quạ, cũng sẽ nói thí dụ về heo.
Hãy suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói cho các ngươi nghe.”
Bạch:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Sau
khi các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, Thế Tôn bảo:
“Kia,
sao gọi là người ví như quạ? Ở đây có người sống nơi
vắng vẻ, thường tập hành dâm dục, có hành vi xấu ác;
sau đó hổ thẹn, tự hối lỗi, [579b01] đem những việc đã
làm trình bày cho người. Vì sao vậy? Hoặc bị những vị
đồng phạm hạnh thấy mà chê trách rằng, ‘Người này tập
hành dâm dục, có hành vi xấu ác. Nó sau khi làm hành vi xấu
ác, tự biết hổ thẹn, hối lỗi với người.’
“Giống
như con quạ kia thường xuyên bị khổ vì đói, bèn ăn đồ
bất tịnh, sau đó quẹt mỏ, sợ có các loài chim khác thấy
nói rằng quạ này ăn đồ bất tịnh. Ở đây cũng như vậy,
có một người ở nơi vắng vẻ, tập hành dâm dục, làm các
hành vi bất thiện. Sau đó hổ thẹn, tự hối lỗi, đem những
việc đã làm trình bày cho người. Vì sao vậy? Hoặc bị những
vị đồng phạm hạnh thấy mà chê trách rằng, ‘Người này
tập hành dâm dục, có hành vi xấu ác.’ Đó gọi là người
giống như quạ.
“Kia,
sao gọi là người như heo? Hoặc có một người sống nơi
vắng vẻ, lâu dài tập hành dâm dục, có hành vi xấu ác,
cũng không hổ thẹn, lại không hối lỗi. Đối với người
thì tự khen mình, cống cao, tự đắc, nói rằng ‘Tôi có
được ngũ dục tự vui chơi, còn những người kia không có
được ngũ dục.’ Nó tạo ác mà không biết hổ thẹn. Người
này dụ như heo, thường ăn đồ bất tịnh, nằm chỗ bất
tịnh, chạy theo chân các con heo khác. Ở đây cũng vậy, có
một người lâu dài tập hành dâm dục, có hành vi xấu ác,
cũng không hổ thẹn, lại không hối lỗi. Đối với người
thì tự khen mình, cống cao, tự đắc, nói rằng ‘Tôi có
được ngũ dục tự vui chơi, còn những người kia không có
được ngũ dục.’ Đó gọi là người như heo.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy trừ bỏ, hãy tránh xa. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ
4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về có người giống lừa, có người giống bò.
Hãy lắng nghe, lắng nghe và suy nghĩ kỹ.”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Kính
vâng, Thế Tôn.”
Sau
khi các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, Thế Tôn bảo:
“Kia,
sao gọi là người giống lừa? Có người cạo bỏ râu tóc,
mặc ba pháp y, vì lòng tin kiên cố, xuất gia học đạo. Bấy
giờ người ấy các căn không định, khi mắt thấy sắc thì
theo đó khởi lên sắc tưởng, dong ruổi vạn mối, lúc bấy
giờ mắt không thanh tịnh, sinh ra các loạn tưởng, không thể
ngăn giữ các ác khắp nơi đến, và cũng không thể phòng
hộ được [579c01] nhãn căn. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi,
lưỡi nếm vị, thân biết trơn nhuyễn, ý biết pháp, theo
đó khởi lên bệnh thức, dong ruổi vạn mối, lúc bấy giờ
ý căn không thanh tịnh, sinh ra các loạn tưởng, không thể
ngăn giữ các ác khắp nơi đến, cũng lại không thể giữ
được ý căn, không có oai nghi lễ tiết, bước lên, dừng
lại, co duỗi, cúi ngước; khoác y, ôm bát, đều trái cấm
giới, bị đồng phạm hạnh bắt gặp chê trách rằng: ‘Ôi,
người ngu này giống như Sa-môn!’ Nó liền bị hạch tội:
‘Nếu là Sa-môn, đáng ra không nên như vậy.’ Nó lại nói
như vầy: ‘Tôi cũng là Tỳ-kheo! Tôi cũng là Tỳ-kheo!’ Giống
như con lừa vào trong bầy bò mà tự xưng là: ‘Tôi cũng là
bò! Tôi cũng là bò!’ Nhưng hai lỗ tai của nó xem ra lại
không giống bò, sừng cũng không giống, đuôi cũng không giống,
âm thanh đều khác.
“Bấy
giờ, bầy bò hoặc dùng sừng húc, hoặc dùng chân đá, hoặc
dùng miệng cắn. Nay Tỳ-kheo này cũng lại như vậy, các căn
bất định; khi mắt thấy sắc, theo đó khởi lên sắc tưởng,
đuổi theo vạn mối, bấy giờ nhãn căn không thanh tịnh, sinh
ra các loạn tưởng, không thể ngăn giữ các ác khắp nơi
đến, lại cũng không thể giữ được nhãn căn. Tai nghe tiếng,
mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân rõ trơn nhuyễn, ý biết
pháp, theo đó khởi lên bệnh thức, đuổi theo vạn mối, bấy
giờ ý căn không thanh tịnh, sinh ra các loạn tưởng, không
thể chế ngự các ác khắp nơi đến, lại cũng không thể
giữ được ý căn, không có oai nghi lễ tiết, bước lên,
dừng lại, co duỗi, cúi ngước, khoác y, ôm bát, đều trái
cấm giới,[25] liền bị đồng phạm hạnh bắt gặp quở trách
chỉ trích rằng: ‘Ôi, người ngu này giống như Sa-môn!’
Nó bị chỉ trích, hạch tội: ‘Nếu là Sa-môn đáng ra không
nên như vậy.!’ Nhưng nó tự nói: ‘Tôi là Sa-môn!’ Giống
như con lừa vào trong bầy trâu. Đó gọi là người giống
lừa.
“Kia,
sao gọi là giống bò? Có một người cạo bỏ râu tóc, mặc
ba pháp y, vì lòng tin kiên cố xuất gia học đạo. Bấy giờ
người kia các căn tịch định, ăn uống biết tiết chế,
kinh hành cả ngày chưa từng lìa bỏ, ý nghĩ đến pháp ba
mươi bảy đạo phẩm. Khi mắt thấy sắc, người ấy không
khởi sắc tưởng, niệm cũng không dong ruổi. Bấy giờ nhãn
căn thanh tịnh, sinh ra các tưởng thiện, cũng có thể chế
ngự không còn các thứ ác nữa, thường phòng hộ nhãn căn.
Tai đối tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân đối
trơn nhuyễn, ý đối [580a01] pháp, không khởi lên bệnh thức,
bấy giờ ý căn thanh tịnh. Người kia liền đến chỗ các
vị đồng phạm hạnh. Các vị đồng phạm hạnh từ xa trông
thấy đến, ai cũng đều kêu lên: ‘Thiện lai, đồng học!’
Tùy thời cúng dường không để thiếu. Giống như bò tốt
vào trong đàn bò, mà tự xưng: ‘Hiện tại ta là bò.’ Vì
lông, đuôi, tai, sừng, âm thanh của nó tất cả đều đúng
là bò. Những con bò khác thấy đều đến liếm mình nó. Ở
đây, cũng như vậy, người ấy cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp
y, vì lòng tin kiên cố xuất gia học đạo. Bấy giờ, các
căn người ấy tịch định, ăn uống biết tiết chế, kinh
hành cả ngày chưa từng lìa bỏ, ý nghĩ đến pháp ba mươi
bảy đạo phẩm. Khi mắt thấy sắc, không khởi sắc tưởng,
niệm cũng không dong ruổi. Bấy giờ nhãn căn được thanh
tịnh, sinh ra các tưởng thiện, cũng có thể chế ngự không
còn các thứ ác nữa, thường ủng hộ nhãn căn. Tai đối
tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân đối trơn nhuyễn,
ý đối pháp, không khởi lên bệnh thức, bấy giờ ý căn
được đầy đủ. Người này gọi là giống bò.
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học như bò, chớ giống như lừa.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về thiện hành, bất thiện hành. Hãy lắng nghe,
lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ.”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Xin
vâng, Thế Tôn!”
Thế
Tôn bảo:
“Kia,
sao gọi là bất thiện? Sao gọi là thiện? Sát sinh là bất
thiện, không sát sinh là thiện. Không cho mà lấy là bất thiện,
cho mới lấy là thiện. Dâm dật là bất thiện, không dâm
dật là thiện. Nói dối là bất thiện, không nói dối là
thiện. Nói thêu dệt là bất thiện, không nói thêu dệt là
thiện. Hai lưỡi là bất thiện, không hai lưỡi là thiện.
Loạn đấu kia đây là bất thiện, không loạn đấu kia đây
là thiện. Tham của người là bất thiện, không tham của người
là thiện. Khởi sân nhuế là bất thiện, không khởi sân nhuế
là thiện. Tà kiến là bất thiện, chánh kiến là thiện. Như
vậy, các Tỳ-kheo, hành những điều ác này sẽ đọa vào
trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu người nào hành
thiện sẽ sinh về cõi người, cõi trời, cùng các đường
thiện trong A-tu-la.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy lìa xa ác hành, tu tập thiện hành.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy [580b01] học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
sẽ nói pháp vi diệu cho các ngươi, đầu thiện, giữa thiện,
cho đến cuối cũng thiện, có nghĩa, có vị, tu các pháp phạm
hạnh đầy đủ. Đó là hai pháp. Hãy lắng nghe, lắng nghe,
và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ nói đầy đủ cho các ngươi nghe.”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn!”
Sau
khi các Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy xong, Thế Tôn bảo:
“Kia,
sao gọi là hai pháp? Tà kiến, chánh kiến; tà tư duy*, chánh
tư duy; tà ngữ, chánh ngữ; tà nghiệp, chánh nghiệp; tà mạng,
chánh mạng; tà tinh tấn*, chánh tinh tấn; tà niệm, chánh niệm;
tà tam-muội, chánh tam-muội. Này các Tỳ-kheo, đó gọi là
hai pháp. Nay Ta đã nói hai pháp này cho các ngươi. Những điều
cần làm, nay Như Lai đã chu toàn xong. Các ngưoi hãy khéo nhớ
nghĩ, quán sát, phúng tụng chớ có lười mỏi. Hiện tại,
nếu người nào không hành, sau này hối không kịp.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay,
Ta sẽ nói về pháp đuốc sáng, cũng sẽ nói về nhân đưa
đến nghiệp đạo đuốc sáng. Hãy lắng nghe, lắng nghe, hãy
suy nghĩ kỹ!”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn!”
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Kia,
sao gọi là đuốc sáng? Diệt tận tham dâm, sân nhuế, ngu si.
Kia, sao gọi là nhân đưa đến nghiệp đạo đuốc sáng? Chánh
kiến, chánh tư duy*, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn*, chánh niệm, chánh tam-muội. Đó là nhân đưa
đến nghiệp đạo sáng. Ta cũng nhân đây, đã nói về đuốc
sáng, cũng đã nói về nhân đưa đến nghiệp đạo đuốc
sáng. Những việc cần làm, nay Như Lai đã chu toàn. Các ngươi
hãy khéo nhớ nghĩ, phúng tụng, chớ có lười biếng. Hiện
tại nếu không hành, sau này hối không kịp.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai lực này. Thế nào là hai lực? Nhẫn lực, tư duy lực.[26]
Nếu Ta không có hai lực này, đã không thành Vô thượng, Chánh
chơn, Đẳng chánh giác.
“Lại
nữa, nếu không có hai lực này, [580c01] Ta đã không hề có
sáu năm khổ hạnh ở xứ Ưu-lưu-tỳ, lại cũng không thể
hàng phục ma oán, thành đạo Vô thượng Chánh chơn ngồi nơi
đạo tràng. Vì Ta có nhẫn lực, tư duy lực này, nên mới
có thể hàng phục chúng ma, thành đạo Vô thượng Chánh chơn
ngồi nơi đạo tràng.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy tìm cầu phương tiện tu hai lực
này: nhẫn lực, tư duy lực, để thành đạo Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, ở vô dư Niết-bàn giới mà Bát-niết-bàn.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Tôn giả A-na-luật trú tại Bản sinh địa,[27] nước
Câu-thi-na-yết.[28] Lúc ấy, Thích, Phạm, Tứ thiên vương cùng
năm trăm chư thiên và, hai mươi tám đại quỷ thần vương
đến chỗ Tôn giả A-na-luật. Đến nơi, họ đảnh lễ sát
chân, rồi đứng qua một bên, lại dùng kệ này tán thán A-na-luật:
Quy
mạng bậc trên người,
Đấng
mọi người tôn kính;
Nay
chúng tôi không biết,
Ngài
đang trú thiền nào?
Khi
ấy, có bà-la-môn* tên Xà-bạt-tra[29] là đệ tử của Phạm-ma-dụ[30],
lại đi đến chỗ Tôn giả A-na-luật, đảnh lễ sát chân,
ngồi qua một bên. Bà-la-môn kia hỏi A-na-luật rằng:
“Xưa
kia tôi sinh tại vương cung, chưa từng nghe mùi hương tự nhiên
này. Có người nào đến nơi này? Là trời rồng quỷ thần,
Nhân, phi Nhân?”
A-na-luật
vowis ông bà-la-môn rằng:
“Mới
đây có Thích, Phạm, Tứ thiên vương cùng năm trăm chư thiên,
hai mươi tám đại quỷ thần vương vừa đến chỗ tôi, đảnh
lễ lễ sát chân, đứng qua một bên, lại dùng kệ này tán
thán tôi:
Quy
mạng bậc trên người,
Đấng
mọi người tôn kính;
Nay
chúng tôi không biết,
Ngài
đang trú thiền nào?
Bà-la-môn
hỏi:
“Sao
nay tôi không thấy bóng dáng họ? Thích, Phạm, Tứ thiên vương
đang ở chỗ nào?”
A-na-luật
đáp:
“Vì
ông không có thiên nhãn cho nên không thấy Thích, Phạm, Tứ
thiên vương cùng năm [581a01] trăm chư thiên, hai mươi tám đại
quỷ thần vương.”
bà-la-môn
hỏi:
“Nếu
tôi được thiên nhãn, có thể thấy Thích, Phạm, Tứ thiên
vương cùng năm trăm chư thiên, hai mươi tám đại quỷ thần
vương không?”
A-na-luật
đáp:
“Nếu
ông được thiên nhãn, ông có thể thấy Thích, Phạm, Tứ
thiên vương cùng năm trăm chư thiên, hai mươi tám đại quỷ
thần vương. Nhưng, này bà-la-môn, thiên nhãn này nào đủ
để cho là lạ. Có Phạm thiên tên là Thiên Nhãn. Ông ấy
thấy nghìn thế giới này. Như người có mắt tự xem mũ báu
của mình trong lòng bàn tay. Phạm thiên vương này cũng như
vậy, thấy nghìn thế giới này không có chướng ngại. Nhưng
vị Phạm thiên này không tự thấy y phục mặc trên người
mình.”
Bà-la-môn
hỏi:
“Vì
sao Phạm thiên Thiên Nhãn không tự thấy đồ phục sức mang
trên người mình?”
A-na-luật
đáp:
“Vì
vị Thiên kia không có con mắt trí tuệ vô thượng, nên không
thể tự thấy đồ phục sức mang ở trên người mình.”
bà-la-môn
hỏi:
“Nếu
tôi được con mắt trí tuệ vô thượng, có thấy đồ phục
sức mang trên thân này hay không?”
A-na-luật
đáp:
“Nếu
ông có thể được con mắt trí tuệ vô thượng, ông có thể
thấy đồ phục sức mang trên thân mình.”
Bà-la-môn
hỏi:
“Xin
Tôn giả nói pháp cực diệu cho tôi nghe, để tôi đạt được
mắt trí tuệ vô thượng.”
A-na-luật
bảo:
“Ông
có giới không?”
Bà-la-môn
hỏi:
“Thế
nào là giới?”
A-na-luật
nói:
“Không
tạo các tội, không phạm phi pháp.”
bà-la-môn
thưa:
“Nếu
giới như vậy, tôi kham vâng giữ giới này.”
A-na-luật
nói:
‘Này
bà-la-môn, nay ông hãy giữ giới cấm không một mảy may khuyết
thất, và cũng nên từ bỏ kết sử kiêu mạn, chớ chấp ngô,
ngã, sinh tưởng đắm nhiễm.”
Lúc
đó, bà-la-môn lại hỏi A-na-luật:
“Sao
là ngô? Sao là ngã? Sao là kết sử kiêu mạn?”
A-na-luật
nói:
“Ngô
là thần thức. Ngã là đầy đủ hình thể.[31] Ở trong đó
khởi thức sinh ngô ngã, đó là kết kiêu mạn.
“Cho
nên, này bà-la-môn, hãy tìm cầu phương tiện loại trừ các
kết này. Này bà-la-môn, hãy học điều này như vậy."
Bà-la-môn
liền rời chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân A-na-luật,
nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi. Trên đường chưa đến nhà,
ông tư duy về nghĩa này, tức thì các trần cấu sạch hết,
được con mắt pháp thanh tịnh.
Bấy
giờ, có vị trời xưa kia là bạn thân của bà-la-môn này,
biết trong tâm của bà-la-môn mọi trần cấu đã được dứt
sạch, được con mắt pháp [581b01] thanh tịnh. Vị trời kia
lại đến chỗ Tôn giả A-na-luật, đảnh lễ sát chân, đứng
qua một bên, liền dùng kệ này tán thán A-na-luật:
Bà-la-môn
chưa đến nhà,
Giữa
đường được dấu đạo;
Trần
cấu, pháp nhãn tịnh,
Không
nghi, không do dự.
Bấy
giờ, Tôn giả A-na-luật dùng kệ báo vị trời kia:
Ta
trước quán tâm kia,
Trung
gian ứng dấu đạo;
Kia,
thời Phật Ca-diếp,
Từng
nghe dạy pháp này.
Bấy
giờ Tôn giả A-na- luật rời khỏi nơi ấy, du hành trong Nhân
gian, lần hồi đến chỗ Thế Tôn. Đảnh lễ sát chân, rồi
ngồi lui qua một bên. Thế Tôn dùng pháp ngữ dạy A-na-luật
đầy đủ. A-na-luật sau khi thọ trì lời Phật dạy, từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân rồi thối lui.
Bấy
giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Đệ
tử trong hàng Thanh văn của Ta, người được thiên nhãn đệ
nhất, đó chính là Tỳ-kheo A-na-luật.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, Tôn giả La-hầu-la[32], phụng trì giới cấm, không điều
vi phạm, tội nhỏ còn tránh huống là lớn; nhưng tâm không
giải thoát khỏi hữu lậu. Bấy giờ các Tỳ-kheo đến chỗ
Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên. Các Tỳ-kheo
bạch Thế Tôn:
“Tỳ-kheo
La-hầu-la phụng trì giới cấm, không điều vi phạm; nhưng
tâm không giải thoát khỏi hữu lậu.”
Bấy
giờ Thế Tôn liến nói kệ này:
Pháp
giới cấm đầy đủ;
Các
căn cũng thành tựu;
Dần
dần sẽ đạt được,
Sạch
hết cả kết sử.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy luôn nhớ nghĩ tu tập chánh pháp
không có sơ sót. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này."
Các
Tỳ-kheo sau nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kệ
tóm tắt:
Nan-đà,
Niết-bàn, quạ,
Lừa,
bất thiện có hai,
Xúc,
và nhẫn tư duy,
bà-la-môn
và La-hầu-la.
17.
PHẨM
AN-BAN
KINH
SỐ 1[33]
[581b15]
Tôi nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, đã đến giờ, Thế Tôn đắp y ôm bát, dẫn La-hầu-la[34]
vào thành Xá-vệ để khất thực[35]. Khi ấy Thế Tôn quay
qua bên phải bảo La-hầu-la:
“Ngươi
nay hãy quán sắc là vô thường.”
La-hầu-la
thưa:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn, sắc là vô thường.”
Thế
Tôn bảo:
“Này
La-hầu-la, thọ*, tưởng, hành, thức đều là vô thường.”
La-hầu-la
thưa:
“Kính
vâng, bạch Thế Tôn, thọ, tưởng, hành, thức đều là vô
thường.”
Khi
ấy, Tôn giả La-hầu-la lại tự nghĩ: “Ở đây có nhân duyên
gì, hôm nay mới đi vào thành để khất thực, đang trên đường
đi, cớ sao Thế Tôn trực tiếp dạy dỗ ta? Bây giờ ta hãy
trờ về trú xứ, không nên vào thành khất thực.”
Khi
ấy, Tôn giả La-hầu-la, đang giữa đường liền trở về
tinh xá Kỳ-hoàn, cầm y bát đến dưới một bóng cây, chánh
thân, chánh ý, ngồi kiết già, chuyên tinh nhất tâm suy niệm
sắc vô thường; suy niệm thọ*, tưởng, hành, thức vô thường.
Bấy
giờ, Thế Tôn khất thực ở thành Vương-xá xong. Sau khi ăn
rồi, một mình kinh hành tại tinh xá Kỳ-hoàn, lần hồi đến
chỗ La-hầu-la. Đến đó rồi, Phật bảo La-hầu-la rằng:
“Ngươi
hãy tu hành pháp an-ban[36]. Tu hành pháp này, có tâm tưởng
sầu ưu đều sẽ trừ diệt hết. Nay ngươi lại nên tu hành
tưởng bất tịnh ghê tởm, nếu có tham dục, thì sẽ trừ
diệt hết. Này La-hầu-la, nay ngươi phải tu hành từ tâm.
Đã hành từ tâm rồi, nếu có sân nhuế, thì sẽ trừ diệt
hết. Này La-hầu-la, nay ngươi phải tu, hành bi tâm. Đã hành
bi tâm rồi, nếu có tâm hại, thì sẽ trừ diệt hết. Này
La-hầu-la, nay ngươi phải tu hành hỷ tâm. Đã hành hỷ tâm
rồi, nếu có tâm tật đố, thì sẽ trừ diệt hết. Này La-hầu-la,
nay ngươi phải tu hành tâm xả.[37] Đã hành tâm xả* rồi,
nếu có kiêu mạn, thì sẽ trừ diệt hết.”
Bấy
giờ, Thế Tôn hướng về La-hầu-la, liền nói kệ này:
Chớ
luôn khởi tưởng đắm,
Thường
phải y thuận pháp.
Người
hiền trí như vậy,
Danh
đồn vang khắp nơi.
Cầm
đuốc sáng cho người,
Phá
màn vô minh lớn;
Trời,
rồng thảy phụng kính,
Tôn
thờ bậc sư trưởng.
Lúc
ấy Tỳ-kheo La-hầu-la dùng kệ này thưa Thế Tôn rằng:
Con
không khởi tưởng đắm,
Hằng
tùy thuận theo pháp.
[582a01]
Người hiền trí như vậy
Kính
thờ là sư trưởng.
Sau
khi Thế Tôn dạy bảo xong, trở về tĩnh thất. Lúc ấy, Tôn
giả La-hầu-la lại tự nghĩ: “Tu hành an-ban như thế nào
để trừ bỏ sầu ưu, không có các tưởng?” Rồi La-hầu-la
từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn. Đến nơi
rồi, đảnh lễ sát chân, ngồi qua một bên. Ngay sau đó, ngồi
lui, bạch Thế Tôn rằng:
“Tu
hành an-ban như thế nào để trừ bỏ sầu ưu, không có các
tưởng, được quả báo lớn, được vị cam lồ?”
Thế
Tôn bảo:
“Lành
thay, lành thay, La-hầu-la! Ngươi có thể ở trước Như Lai
rống tiếng rống sư tử hỏi mà hỏi nghĩa này: ‘Tu hành
an-ban như thế nào để trừ bỏ sầu ưu, không có các tưởng,
được quả báo lớn, được vị cam lồ?’ Này La-hầu-la,
nay ngươi hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, suy nghĩ kỹ, Ta sẽ
phân biệt nói đầy đủ cho ngươi.’
Thưa:
“Kính
vâng, Thế Tôn!”
Tôn
giả La-hầu-la vâng lời dạy từ Thế Tôn. Thế Tôn bảo:
“Này
La-hầu-la, ở đây Tỳ-kheo ưa thích ở nơi vắng vẻ không
người, chánh thân chánh ý, ngồi kiết già, không có niệm
khác, buộc ý trên chóp mũi. Thở ra dài, biết hơi thở dài.
Thở vào dài, cũng biết hơi thở dài. Thở ra ngắn, cũng biết
hơi thở ngắn. Thở vào ngắn, cũng biết hơi thở ngắn. Hơi
thở ra lạnh, cũng biết hơi thở lạnh. Hơi thở vào lạnh,
cũng biết hơi thở lạnh. Hơi thở ra ấm, cũng biết hơi thở
ấm. Hơi thở vào ấm, cũng biết hơi thở ấm. Quán toàn thân,
hơi thở vào, hơi thở ra; thảy đều biết rõ. Có lúc có
hơi thở, cũng lại biết là có. Có lúc không có hơi thở,
cũng lại biết là không. Hoặc hơi thở từ tâm ra,[38] cũng
lại biết từ tâm ra; hoặc hơi thở từ tâm vào*, cũng lại
biết từ tâm vào.
“Như
vậy, La-hầu-la, ai tu hành an-ban, sẽ không có tưởng sầu
ưu, não loạn, được quả báo lớn, được vị cam lồ.”
Sau
khi nghe Thế Tôn nói pháp vi diệu đầy đủ xong, La-hầu-la
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, nhiểu
quanh ba vòng rồi, rồi đi. Đến dưới một bóng cây trong
rừng An-đà[39], chánh thân, chánh ý ngồi kiết già, không
có một niệm nào khác, buộc tâm trên chóp mũi. Thở ra dài,
biết hơi thở dài. Thở vào dài, cũng biết hơi thở dài.
Thở ra ngắn, cũng biết hơi thở ngắn. Thở vào ngắn, cũng
biết hơi thở ngắn. Hơi thở ra lạnh, cũng biết hơi thở
lạnh. Hơi thở vào lạnh, cũng biết hơi thở lạnh. [582b01]
Hơi thở ra ấm, cũng biết hơi thở ấm. Hơi thở vào ấm,
cũng biết hơi thở ấm. Quán toàn thân, hơi thở vào, hơi
thở ra; thảy đều biết rõ. Có lúc có hơi thở, cũng lại
biết là có. Có lúc không có hơi thở, cũng lại biết là
không. Hoặc hơi thở từ tâm ra, cũng lại biết từ tâm ra;
hoặc hơi thở từ tâm vào*, cũng lại biết từ tâm vào.
Bấy
giờ, La-hầu-la tư duy như vậy, tâm được giải thoát khỏi
dục,[40] không còn các thứ ác, có tầm, có tứ,[41] có hỷ
lạc do viến ly sinh,[42] chứng và an trú[43] sơ thiền. Tầm
từ đã dứt,[44] nội tâm tịch tĩnh,[45] chuyên tinh nhất tâm[46];
không tầm, không tứ, có hỷ lạc do định sinh,[47] chứng
nhập và an trú* nhị thiền. Lìa hỷ, an trú xả,[48] giác tri
thân lạc, điều mà các Hiền thánh nói, xả, niệm, an trú
lạc,[49] chứng nhập và an trú an trú* tam thiền. Khổ và lạc
kia đã diệt, ưu hỷ trước cũng đã diệt, không khổ không
lạc; xả, niệm thanh tịnh,[50] chứng nhập và an trú* tứ
thiền.
Với
tâm tam-muội[51] này, thanh tịnh không bụi nhơ, thân thể nhu
nhuyến,[52] La-hầu-la biết mình từ đâu đến, nhớ những
việc đã làm trước kia, tự biết đời trước, những việc
trong vô số kiếp trước; cũng biết một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời,
ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm
đời, nghìn đời, vạn đời, hàng nghìn vạn đời, kiếp
thành, kiếp bại, vô số kiếp thành, vô số kiếp bại, ức
năm không thể kể xiết: Ta đã từng sinh nơi kia, tên gì,
họ gì, ăn thức ăn như vậy, hưởng khổ vui như vậy, thọ
mạng dài ngắn, chết kia sinh đây, chết đây sinh kia.
Với
tâm tam-muội này,* thanh tịnh không tì vết, La-hầu-la cũng
không còn các kết, cũng biết chỗ khởi của tâm chúng sanh.
Bằng thiên nhãn thanh tịnh không tì vết, La-hầu-la quán biết
như thật các loài chúng sinh, người sống, kẻ chết, sắc
đẹp, sắc xấu, đường lành, đường dữ, hoặc tốt, hoặc
xấu, điều đã làm, điều đã tạo. Hoặc có chúng sanh thân
hành ác, miệng hành ác, ý hành ác, phỉ báng Hiền thánh,
thường hành tà kiến, tạo hạnh tà kiến, thân hoại mạng
chung. sinh vào địa ngục. Hoặc lại có chúng sanh thân hành
thiện, miệng hành thiện, ý hành thiện, không phỉ báng Hiền
thánh, thường hành chánh kiến, tạo hạnh chánh kiến, thân
hoại mạng chung sinh lên trời cõi thiện. Đó gọi là thiên
nhãn thanh tịnh không tì vết, quán biết như thật các loài
chúng sanh, người sống, kẻ chết, sắc đẹp, sắc xấu, đường
lành, đường dữ, hoặc tốt, hoặc xấu, điều đã làm, điều
đã tạo.
Rồi
lai vận dụng ý, thành tâm vô lậu. La-hầu-la lại quán biết
như thật đây là khổ; lại quán biết như thật đây là tập
khởi của khổ, cũng quán biết như thật đây là [582c01] sự
diệt tận khổ, cũng quán biết như thật đây là xuất yếu
của khổ. La-hầu-la quán biết như thật như vậy, tâm được
giải thoát khỏi dục lậu; được giải thoát khỏi hữu lậu,
vô minh lậu. Đã được giải thoát, nên liền được trí
giải thoát, biết rằng, sinh tử đã dứt, phạm hạnh đã
lập, những việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh
đời sau. Bấy giờ, Tôn giả La-hầu-la thành A-la-hán.
Sau
khi Tôn giả La-hầu-la thành A-la-hán rồi, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, sửa lại y phục đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ
sát chân, ngồi lui qua một bên, bạch Thế Tôn rằng:
“Sở
cầu của con đã đạt được, các lậu đã tận trừ.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Trong
những vị đắc A-la-hán, không có ai bằng La-hầu-la. Luận
về người mà các hữu lậu đã dứt cũng là Tỳ-kheo La-hầu-la.
Luận về người trì giới cấm cũng là Tỳ-kheo La-hầu-la.
Vì sao vậy? Vì chư Như Lai Đẳng Chánh giác đời quá khứ
cũng có Tỳ-kheo La-hầu-la này. Muốn nói con Phật cũng là
Tỳ-kheo La-hầu-la, đích thân từ Phật sinh, là người thừa
tự pháp.”
Bấy
giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Trong
hàng Thanh văn của Ta, đệ tử bậc nhất trì giới cấm chính
là Tỳ-kheo La-hầu-la.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ này:
Pháp
cấm giới đầy đủ,
Các
căn cũng thành tựu;
Dần
dần sẽ cũng được,
Sạch
tất cả kết sử.
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành. [53]
KINH
SỐ 2[54]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai con người xuất hiện ở đời, thật là khó có được.
Hai người ấy là ai? Như Lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác xuất
hiện ở đời, thật là khó có được, và Chuyển luân Thánh
vương xuất hiện ở [583a01] đời thật là khó có được.
Hai người này xuất hiện ở đời thật là khó có được...”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 3[55]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai con người xuất hiện ở đời, thật là khó có được.
Hai người ấy là ai? Bích-chi-phật xuất hiện ở đời, thật
là khó có được, và A-la-hán lậu tận đệ tử của Như
Lai, xuất hiện ở đời, thật là khó có được. Này các
Tỳ-kheo, đó gọi là hai người này xuất hiện ở đời thật
là khó có được.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 4
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có
hai pháp này ở thế gian thật là phiền não. Hai pháp gì? Tạo
các gốc rễ ác, khởi lên các oán thù; và lại không tạo
hạnh lành, gốc của các đức. Này các Tỳ-kheo, đó gọi
là hai pháp thật là phiền não.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy giác tri pháp phiền não này, và
cũng nên giác tri pháp không phiền não. Các pháp phiền não
thì hãy đoạn trừ, pháp không phiền não, thì nên tu hành.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này."
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 5
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tà
kiến, mà chúng sanh suy niệm, hướng đến, cùng các hành khác,
tất cả đều không có gì đáng quý, là những điều mà người
thế gian không đáng ham thích. Vì sao vậy? Vì tà kiến này
là bất thiện. Giống như những hạt quả đắng, nghĩa là
những hạt quả đắng, hạt rau đắng, hạt rau đay, hạt tất-địa
bàn-trì,[56] cùng các loại hạt đắng khác, mà đem những
loại hạt này trồng nơi đất tốt, sau đó sẽ sinh ra mầm
cũng đắng như xưa. Vì sao vậy? Vì những hạt này vốn đã
đắng. Ở đây, tà kiến chúng sanh cũng lại như vậy. Những
gì được làm bởi thân hành, khẩu hành, ý hành, những gì
hướng đến, những gì nghĩ đến, cùng các hành ác khác,
tất cả đều không đáng quý, là những điều mà người
thế gian không ham thích. Vì sao vậy? Vì tà kiến ác này là
bất thiện.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy [583b01] trừ tà kiến, tập hành
chánh kiến. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 6
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Chánh
kiến, mà chúng sanh nghĩ đến, hướng đến, cùng các hành
khác, tất cả đều đáng quý kính, là những điều mà người
thế gian đáng ham thích. Vì sao vậy? Vì tà kiến này là diệu.
Giống như những quả ngọt, như mía, quả bồ-đào, cùng tất
cả những quả ngon ngọt khác, có người sửa sang đất tốt
đem trồng chúng, sau đó sẽ sinh ra con, tất cả đều ngon
ngọt, khiến người ham thích. Vì sao vậy? Vì những hạt quả
này vốn đã ngon ngọt. Ở đây chánh kiến chúng sanh cũng
lại như vậy. Những gì được nghĩ đến, hướng đến, cùng
các hành khác, tất cả đều đáng quý kính, là những điều
mà người thế gian đáng ham thích. Vì sao vậy? Vì tà kiến
này là diệu.
“Cho
nên, này các Tỳ-kheo, hãy tập hành chánh kiến. Như vậy,
này các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 7
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả A-nan ở nơi vắng vẻ, một
mình tư duy, nảy sinh ý niệm này: “Có những chúng sanh khơi
dậy tưởng ái dục, liền sinh dục ái, rồi tập hành ngày
đêm không hề nhàm chán.” Bấy giờ vào buổi chiều, Tôn
giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, khoác y, sửa lại y phục,
đi đến chỗ Thế Tôn. Đến nơi rồi, đảnh lễ sát chân,
ngồi qua một bên, Tôn giả A-nan bạch Thế Tôn rằng:
“Con
ở nơi vắng vẻ phát sinh ý nghĩ này: ‘Có những chúng sanh
khơi dậy tưởng ái dục, liền sinh dục ái, rồi tập hành
ngày đêm không hề nhàm chán.’”
Thế
Tôn bảo:
“Thật
vậy, A-nan, như những gì ngươi đã nói: ‘Có những chúng
sanh khơi dậy tưởng ái dục, liền sinh dục ái, rồi tập
hành ngày đêm không hề nhàm chán.’ Vì sao vậy? Này A-nan,
vào thời quá khứ xa xưa có Chuyển luân Thánh vương tên là
Đảnh Sanh,[57] dùng pháp mà trị hóa, không có gian dối, thành
tựu bảy báu. Bảy báu là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu,
ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, điển binh báu. Đó là bảy
báu. Lại có nghìn người con dũng mãnh cường tráng, có thể
hàng phục các kẻ ác; thống lãnh bốn thiên hạ mà không
cần đao [583c01] trượng. A-nan, nên biết, bấy giờ Thánh vương
Đảnh Sanh phát sinh ý niệm này: ‘Nay ta có đất Diêm-phù-đề
này, dân chúng đông đúc, các loại trân báu nhiều. Ta cũng
đã nghe các vị trưởng lão kỳ cựu nói, phía Tây có nước
Cù-da-ni, nhân dân đông đúc, các loại trân bảo rất nhiều.
Nay ta hãy đến thống lãnh quốc độ kia.
“Này
A-nan, bấy giờ Thánh vương Đảnh Sanh mới nảy sinh ý nghĩ
này: ‘Ta đem bốn bộ binh rời khỏi Diêm-phù, đi qua nước
Cù-da-ni.’ Lúc đó người dân nước kia thấy Thánh vương
đến, tất cả đều ra trước nghinh đón, quỳ lễ thỏi thăm:
‘Thiện lai! Đại vương! Nay Nhân dân nước Cù-da-ni này đông
đúc, nguyện xin Thánh vương nên ở đây cai trị giáo hóa
Nhân dân, khiến theo giáo lệnh như pháp.’
“Này
A-nan, bấy giờ Thánh vương Đảnh Sanh liền thống lãnh Nhân
dân ở nước Cù-da-ni trải qua hàng trăm nghìn năm. Rồi thì,
Thánh vương Đảnh sanh tự nghĩ như vầy: ‘Ta có Diêm-phù-đề,
Nhân dân đông đúc, các loại trân bảo lại nhiều, cũng có
mưa bảy báu ngập đến gối. Nay cũng lại có Cù-da-ni này,
Nhân dân đông đúc, các loại trân bảo lại nhiều. Ta cũng
từng nghe các trưởng lão nói, còn có Phất-vu-đãi, Nhân dân
đông đúc, các loại trân bảo lại nhiều. Nay ta hãy đến
thống lãnh quốc độ kia, dùng pháp mà trị hóa.’
“Này
A-nan, bấy giờ, Thánh vương Đảnh Sanh mới nảy sinh ý nghĩ
này: ‘Ta đem bốn bộ binh rời khỏi Cù-da-ni, đi qua nước
Phất-vu-đãi.’ Lúc đó người dân nước kia thấy Thánh vương
đến, tất cả đều ra trước nghinh đón, quỳ lễ thỏi thăm,
khác miệng nhưng đồng thinh nói như vầy: ‘Thiện lai! Đại
vương! Nay Nhân dân nước Phất-vu-đãi này đông đúc, các
loại trân bảo lại nhiều, nguyện xin Đại vương nên ở
đây cai trị giáo hóa Nhân dân, khiến theo giáo lệnh như pháp.
“Này
A-nan, bấy giờ Thánh vương Đảnh Sanh liền thống lãnh Nhân
dân ở nước Phất-vu-đãi trải qua hàng trăm nghìn vạn năm.
Rồi thì, Thánh vương Đảnh sanh tự nghĩ như vầy: ‘Ta ở
Diêm-phù-đề, Nhân dân đông đúc, các loại trân bảo lại
nhiều, cũng có mưa bảy báu ngập đến gối. Nay cũng lại
có Cù-da-ni này, Nhân dân đông đúc, các loại trân bào lại
nhiều. Nay cũng lại có Phất-vu-đãi này Nhân dân đông đúc,
các loại trân bảo lại nhiều. Ta cũng từng nghe các trưởng
lão nói còn có Uất-đơn-việt, Nhân dân đông đúc, các loại
trân bảo lại nhiều, việc làm tự do, không cần cất giữ,
tuổi thọ không bị yểu, tuổi thọ chính là nghìn tuổi.
Hết tuổi thọ ở đây [584a02] sẽ sinh lên trời, không đọa
vào đường khác, mặc áo kiếp-ba-dục,[58] ăn loại lúa gạo
tự nhiên. Nay ta hãy đến thống lãnh quốc độ kia, dùng pháp
mà trị hóa.
“Này
A-nan, bấy giờ, Thánh vương Đảnh sanh mới nảy sinh ý nghĩ
này: ‘Ta đem bốn bộ binh rời khỏi Phất-vu-đãi, đi qua
nước Uất-đơn-việt.’ Từ xa nhìn thấy đất kia màu xanh
rậm rạp. Thấy rồi, liền hỏi quần thần tả hữu rằng:
Các ngươi có thấy khắp cả đất này một màu xanh rậm rạp
chăng?”
“Đáp
rằng: Vâng, chúng tôi thấy.
“Vua
bảo quần thần rằng: Cỏ ở đây mềm mại, mịn như thiên
y không khác. Chư hiền ở đây thường ngồi nơi này.
“Đi
về phía trước một tí nữa, từ xa nhìn thấy đất này màu
vàng rực rỡ, vua liền hỏi quần thần rằng: Các ngươi có
thấy khắp cả đất này màu vàng rực rỡ không?
“Đáp
rằng: Chúng tôi đều thấy vậy.
“Đại
vương nói: Đây gọi là lúa tự nhiên. Chư hiền ở đây thường
ăn thức ăn này. Hiện tại các khanh cũng sẽ ăn lúa gạo
này.
“Bấy
giờ, Thánh vương tiến về phía trước một tí nữa, lại
thấy khắp cả đất kia đều bằng phẳng, từ xa nhìn thấy
đài cao nổi lên một cách đặc biệt. Lại bảo quần thần:
Các ngươi có nhìn khắp đất này đất đai bằng phẳng không?
“Đáp
rằng: Thưa vâng, chúng tôi đều thấy vậy.
“Đại
vương bảo rằng: Đó gọi áo cây kiếp-ba-dục*, các ngươi
cũng sẽ mặc áo cây này.
“Này
A-nan, bấy giờ Nhân dân nước kia thấy Đại vương đến,
đều tiến lên phía trước nghinh đón, quỳ lễ thưa hỏi,
nhiều tiếng cùng vang lên: ‘Thiện lai, Thánh vương! Dân chúng
nước Uất-đơn-việt này đông đúc, các loại trân bảo lại
nhiều, nguyện xin Đại vương nên ở đây cai trị giáo hóa
Nhân dân khiến theo giáo lệnh như pháp.’
“Này
A-nan, bấy giờ Thánh vương Đảnh Sanh liền thống lãnh Nhân
dân ở Uất-đơn-việt, trải qua trăm nghìn vạn năm. Rồi
thì, Thánh vương Đảnh Sanh lại sinh ý nghĩ này: ‘Nay ta có
đất Diêm-phù, Nhân dân đông đúc, các loại trân bảo lại
nhiều, cũng có mưa bảy báu ngập đến gối. Nay cũng lại
có Cù-da-ni, Phất-vu-đãi cùng Uất-đơn-việt này, Nhân dân
đông đúc, các loại trân bảo lại nhiều. Ta cũng từng nghe
các trưởng lão nói, còn có trời Tam thập tam thiên khoái
lạc không đâu bằng, tuổi thọ rất lâu, y thực tự nhiên,
ngọc nữ vây quanh không thể kể xiết. Nay ta nên đến thống
lãnh thiên cung kia, dùng pháp mà trị hóa.’
“Này
A-nan! Bấy giờ, Thánh vương Đảnh sanh mới nảy sinh ý nghĩ
này: ‘Ta đem bốn bộ binh rời khỏi Uất-đơn-việt, [584b02]
đi lên Tam thập tam thiên. Lúc ấy, Thiên đế Thích từ xa
trông thấy Thánh vương Đảnh Sanh đến, liền nói như vầy:
‘Thiện lai, Đại vương! Xin đến ngồi đây.’
“Này
A-nan, bấy giờ Thánh vương Đảnh Sanh cùng Thích Đề-hoàn
Nhân ngồi một chỗ. Cả hai cùng ngồi, không thể phân biệt
được, từ tướng mạo, cử động, cho đến âm vang lời
nói, chỉ là một không khác.
“Này
A-nan, bấy giờ Thánh vương Đảnh Sanh ở đó trải qua hàng
nghìn trăm năm, rồi nảy sinh ý niệm này: ‘Nay ta có đất
Diêm-phù này, Nhân dân đông đúc, các loại trân bảo lại
nhiều, cũng có mưa bảy báu ngập đến gối, cũng có Cù-da-ni,
cũng lại có Phất-vu-đãi, cũng lại có Uất-đơn-việt này,
Nhân dân đông đúc, các loại trân bảo lại nhiều. Nay ta
lại đến Tam thập tam thiên, bây giờ, ta phải hại Thiên
đế Thích này, để ở đây một mình làm Vua chư thiên.’
“Này
A-nan, bấy giờ, Thánh vương Đảnh sanh vừa nảy sinh ý niệm
này, liền từ trên chỗ ngồi tự đọa xuống đến đất
Diêm-phù, cùng với bốn bộ binh, tất cả đều rơi xuống.
Lúc này, bánh xe báu cũng mất, không biết ở đâu? Voi báu,
ngựa báu chết cùng lúc, châu báu thì tự mất; ngọc nữ
báu, cư sĩ báu, điển binh báu, chúng đều mạng chung. Bấy
giờ, Thánh vương Đảnh Sanh thân mắc bệnh nặng, tông tộc,
thân quyến, tất cả đều vân tập thăm hỏiỉ bệnh vua:
Thế nào, Đại vương, giả sử sau khi đại vương mệnh chung,
có người đến hỏi điều này: ‘Lúc đại vương Đảnh
Sanh mệnh chung, có dạy lời nào không?’ Nếu có ai hỏi như
vậy, thì nên trả lời thế nào?’
“Thánh
vương Đảnh Sanh đáp: Nếu giả sử ta mệnh chung; sau khi ta
mệnh chung nếu có người hỏi thì nên đáp như vầy: ‘Vua
Đảnh Sanh thống lãnh bốn châu thiên hạ không biết đủ
và nhàm tởm, lại đến Tam thập tam thiên, ở tại đó trải
qua hàng trăm nghìn năm, mà ý còn sinh tham, muốn hại Thiên
đế, nên tự đọa lạc, liền nhận lấy cái chết.’
“Này
A-nan, trong lòng ngươi chớ hồ nghi: Vua Đảnh Sanh bấy giờ
là ai vậy? Chớ có quán sát như vậy! Vì sao vậy? Vì vua Đảnh
Sanh lúc đó chính là thân Ta. Bấy giờ, Ta lãnh bốn châu thiên
hạ, cùng đến Tam thập tam thiên ở trong ngũ dục mà không
biết đủ và nhờm tởm.
“Này
A-nan, hãy bằng phương tiện này chứng biết nơi mà tâm tham
dục hưng khởi hướng đến, niệm tưởng càng tăng gấp bội,
ở trong ái dục mà không biết đủ và nhờm tởm. Muốn cầu
biết đủ và nhờm tởm, thì phải cầu từ trong trí tuệ
Thánh hiền.”
Bấy
giờ, [584c01] Thế Tôn ở giữa đại chúng, liền nói kệ này:
Tham,
dâm như mưa mùa,
Với
dục không biết đủ;
Vui
ít mà khổ nhiều,
Những
điều người trí bỏ.
Giả
sử hưởng dục trời,
Vui
hưởng với ngũ nhạc;
Không
bằng đoạn tâm ái,
Là
đệ tử Chánh giác.
Tham
dục dài ức kiếp,
Phước
hết trở lại ngục;
Hưởng
lạc há bao lâu,
Liền
chịu khổ địa ngục.
“Cho
nên, này A-nan, hãy bằng phương tiện này để biết dục mà
từ bỏ dục, vĩnh viễn không khởi tưởng[59] này. Hãy học
điều này.
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 8
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có bà-la-môn Sanh Lậu[60] đến chỗ
Thế Tôn, cùng nhau hỏi thăm, rồi ngồi qua một bên. Bà-la-môn
Sanh lậu bạch Thế Tôn:
“Nên
xem người ác tri thức như thế nào?”[61]
Thế
Tôn bảo:
“Nên
xem như xem trăng.”
Bà-la-môn
hỏi:
“Nên
xem thiện tri thức như thế nào?”
Thế
Tôn bảo:
“Nên
xem như xem trăng.”
Bà-la-môn
hỏi:
“Những
gì Sa-môn Cù-đàm nói hôm nay chỉ lược nói cốt yếu, chứ
chưa giải rộng nghĩa, nguyện xin Cù-đàm nói rộng hết nghĩa
khiến cho người chưa hiểu được hiểu.”
Thế
Tôn bảo:
“Này
Bà-la-môn, hãy lắng nghe, lắng nghe, và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ
vì ông mà diễn rộng nghĩa này.”
Bà-la-môn
thưa:
“Xin
vâng, thưa Cù-đàm!”
Bà-la-môn
Sanh Lậu vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
“Này
Bà-la-môn, giống như trăng cuối tháng, ngày đêm xoay vần,
nó chỉ có giảm chứ không có đầy. Vì nó tổn giảm, hoặc
có khi trăng không hiện nên không có ai thấy. Này Bà-la-môn,
ở đây cũng vậy, như ác tri thức, trải qua ngày đêm, dần
dần không có tín, không có giới, không có văn, không có thí,
không có trí tuệ. Lúc đó ác tri thức kia thân hoại mạng
chung, sanh vào trong địa ngục. Cho nên, Bà-la-môn, nay Ta nói
người ác tri thức này giống như mặt trăng cuối tháng.
“Này
Bà-la-môn, giống như mặt trăng đầu tháng, trải qua ngày
đêm, ánh sáng dần tăng lên, từ từ tròn đầy, [585a01] cho
đến ngày mười lăm là sung mãn đầy đủ, tất cả chúng
sanh không ai là không thấy. Này Bà-la-môn, cũng vậy, như thiện
tri thức, trải qua ngày đêm, tăng trưởng tín, giới, văn,
thí, trí tuệ. Vì họ nhờ tăng trưởng tín, giới, văn, thí,
trí tuệ, nên thiện tri thức lúc bấy giờ thân hoại mạng
chung, sinh lên trời, cõi lành. Cho nên, Bà-la-môn, nay Ta nói
chỗ hướng đến của người thiện tri thức này, giống như
mặt trăng tròn đầy.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ này:
Như
người có tham dục,
Sân
nhuế, si không hết;
Với
thiện có giảm dần,
Như
trăng đang thời khuyết.
Như
người không tham dục,
Sân
nhuế, si cũng hết;
Với
thiện có tăng dần,
Giống
như trăng tròn đầy.
“Cho
nên, Bà-la-môn, hãy học như trăng đầu tháng.”
Bấy
giờ, Bà-la-môn Sanh Lậu bạch Thế Tôn:
“Lành
thay, Cù-đàm, giống như người gù được thẳng, người tối
được sáng, người mê thấy đường, nơi tối tăm được
thắp sáng. Ở đây cũng như vậy, Sa-môn Cù-đàm dùng vô số
phương tiện vì con mà nói pháp. Nay con tự quy y Thế Tôn,
Pháp, cùng chúng Tăng. Từ nay cho phép con làm Ưu-bà-tắc, suốt
đời không sát sanh.”
Sanh
Lậu sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
KINH
SỐ 9
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta sẽ nói về pháp thiện tri thức, cũng sẽ nói về pháp
ác tri thức. Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ!”
Các
Tỳ-kheo thưa:
“Kính
vâng, thưa Thế Tôn.”
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy. Thế Tôn bảo:
“Kia,
sao gọi là pháp ác tri thức? Này Tỳ-kheo, ở đây người
ác tri thức tự sinh tâm niệm này: ‘Ta thuộc dòng hào tộc
xuất gia học đạo. Các Tỳ-kheo khác thuộc dòng ti tiện xuất
gia.’ Ỷ vào dòng họ mình mong chê bai người khác. Đó gọi
là pháp ác tri thức.
“Lại
nữa, người ác tri thức tự sinh tâm niệm này: ‘Ta rất
siêng năng phụng hành chánh pháp. Các Tỳ-kheo khác thì không
siêng năng trì giới.’ Lại dùng nghĩa này chê bai người
khác mà tự cống cao. Đó gọi là pháp ác tri thức.
“Lại
nữa, người ác tri thức lại tự nghĩ: ‘Ta thành tựu tam-muội,
các Tỳ-kheo khác không có tam-muội, tâm [585b01] ý thác loạn
không nhất định.’ Người ấy ỷ vào tam-muội này thường
tự cống cao chê bai người khác. Đó gọi là pháp ác tri thức.
“Lại
nữa, người ác tri thức lại tự nghĩ: ‘Ta trí tuệ bậc
nhất. Ở đây các Tỳ-kheo khác không có trí tuệ.’ Người
ấy ỷ vào trí tuệ này mà tự cống cao hủy báng người
khác. Đó gọi là pháp ác tri thức.
“Lại
nữa, người ác tri thức lại tự nghĩ: ‘Hiện tại ta thường
được thức ăn, giường mềm, ngọa cụ, thuốc thang trị
bệnh. Ở đây, các Tỳ-kheo khác không được các vật cúng
dường này.’ Người này ỷ vào vật cúng dường này mà
tự cống cao, chê bai người khác. Đó gọi là pháp ác tri
thức.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là người ác tri thức, hành tà nghiệp này.
“Kia,
sao gọi là pháp thiện tri thức? Này Tỳ-kheo, ở đây người
thiện tri thức không tự nghĩ: ‘Ta sinh thuộc dòng hào tộc.
Ở đây các Tỳ-kheo khác không phải là dòng hào tộc.’ Vì
thân mình cùng người không có khác. Đó gọi là pháp thiện
tri thức.
“Lại
nữa, người thiện tri thức không tự nghĩ: ‘Nay ta trì giới.
Ở đây các Tỳ-kheo khác không trì giới hạnh,’ Vì thân
mình cùng họ không có thêm bớt. Tuy người ấy nương vào
giới này, nhưng không tự cống cao, không chê bai người khác.
Đó gọi là pháp thiện tri thức.
“Lại
nữa, người thiện tri thứ lại không tự nghĩ: ‘Ta thành
tựu tam-muội. Ở đây các Tỳ-kheo khác ý loạn không định.’
Vì thân mình cùng người không thêm bớt. Người ấy tuy nương
vào tam-muội này, nhưng không tự cống cao, cũng không chê
bai người khác. Đó gọi là pháp thiện tri thức.
“Lại
nữa Tỳ-kheo, người thiện tri thức cũng không tự nghĩ: ‘Ta
thành tựu trí tuệ. Ở đây các Tỳ-kheo khác không có trí
tuệ. Vì thân mình cùng người cũng không thêm bớt. Người
ấy tuy nương vào trí tuệ này, nhưng không tự cống cao, cũng
không chê bai người khác. Này Tỳ-kheo đó gọi là pháp thiện
tri thức.
“Lại
nữa Tỳ-kheo, người thiện tri thức không tự nghĩ: ‘Ta có
thể được y phục, đồ ăn thức uống, giường mền, ngọa
cụ, thuốc thang trị bệnh. Ở đây các Tỳ-kheo khác không
thể được được y phục, đồ ăn thức uống, giường mền,
ngọa cụ, thuốc thang trị bệnh.’ Vì thân mình cùng người
cũng không thêm bớt. Người ấy tuy nương vào những lợi
dưỡng này, nhưng không tự cống cao, cũng không chê bai người.
Này Tỳ-kheo, đó gọi là pháp thiện tri thức.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay
Ta phân biệt cho các ngươi pháp ác tri thức, cũng nói cho các
ngươi pháp thiện tri thức. Cho nên, [585c01] này các Tỳ-kheo,
hãy tránh xa pháp ác tri thức, và nhớ hãy cùng tu hành pháp
thiện tri thức. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều
này."
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những gì đức Phật dạy, hoan hỷ phụng
hành.
KINH
SỐ 10
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời đức Phật trú tại vườn Ni-câu-lưu,[62] của Thích-sí,[63]
cùng với năm trăm đại Tỳ-kheo. Bấy giờ, có năm trăm người
quí tộc thuộc dòng họ Thích ở trong nước, có điều muốn
bàn luận nên tập họp tại giảng đường Phổ nghĩa.[64]
Lúc ấy, Bà-la-môn Thế Điển[65] đến chỗ những người
họ Thích kia, nói với họ rằng:
“Thế
nào các vị, ở đây có Sa-môn, Bà-la-môn cùng người thế
tục nào có thể cùng luận nghị với tôi không?”
Bấy
giờ, số đông người họ Thích bảo Bà-la-môn Thế Điển
rằng:
“Hôm
nay, ở đây có hai người tài cao học rộng, ở tại nước
Ca-tỳ-la-việt. Hai người này là ai? Một là Tỳ-kheo Châu-lợi-bàn-đặc,
hai là Cù-đàm họ Thích, Như Lai, Chí chơn, Đẳng chánh giác.
Người mà trong các đám đông ít được nghe đến, người
không có trí tuệ, lời nói vụng về, không phân biệt được
nên bỏ hay nên lấy; đại loại như Châu-lợi-bàn-đặc. Còn
người mà trong cả nước Ca-tỳ-la-việt này không ai biết
đến, không ai nghe, người không trí tuệ, người quê mùa
xấu xí, đại loại như Cù-đàm. Bây giờ, ông có thể luận
nghị cùng họ. Nếu Bà-la-môn có khả năng luận nghị mà
thắng được hai người này, thì năm trăm người chúng tôi
liền tùy thời cúng dường mọi thứ cần dùng, và cũng sẽ
đền ơn một nghìn thỏi vàng ròng.”
Bấy
giờ, Bà-la-môn liền tự nghĩ: “Dòng họ Thích ở Ca-tỳ-la-việt
này, tất cả đều thông minh, có nhiều kỹ thuật, gian xảo,
hư ngụy, không có chánh hạnh. Nếu ta cùng hai người kia luận
nghị mà thắng được, thì đâu có đủ là lạ! Còn nếu
người kia thắng ta, thì ta liền bị người ngu chiết phục.
Nghĩ về hai lẽ này, ta không kham cùng họ luận nghị.” Sau
khi nghĩ vậy xong, liền rút lui ra về.
Bấy
giờ, đã đến giờ, Châu-lợi-bàn-đặc cầm bát vào thành
Ca-tỳ-la-việt khất thực. Lúc này, bà-la-môn Thế Điển từ
xa trông thấy Châu-lợi-bàn-đặc đi đến, liền tự nghĩ:
“Bây giờ, ta nên đến hỏi nghĩa người kia.” Rồi bà-la-môn
Thế Điền đi đến chỗ Tỳ-kheo, nói với Châu-lợi-bàn-đặc
rằng:
“Sa-môn
tên gì?”
Châu-lợi-bàn-đặc
nói:
“Thôi,
Bà-la-môn, cần gì hỏi tên? Sở dĩ ông đến đây là muốn
hỏi nghĩa. Giờ thì nên hỏi [586a01] đi!”
Bà-la-môn
nói:<