CHƯƠNG
3 (tt)
3.6
Pháp Thoại Ngày 02 tháng 10 năm 94
Thưa
đại chúng, hôm nay là ngày 02 tháng 10 năm 1994, chúng ta đang
ở xóm Hạ trong khóa tu mùa Thu. Chúng ta đã đọc Kinh Samiddhi
và nghe những lời Bụt đạy về những nguyên tắc hành trì
căn bản để cho hạnh phúc chân thật trở thành một sự
kiện hiện thật. Hôm nay chúng ta ôn lại những điều của
Bụt nói trong kinh Samiddhi và nhìn sâu hơn để tìm ra những
phương pháp hành trì cho thật cụ thể.
HẠNH
PHÚC VÀ KHỔ ĐAU CÓ TÍNH CHẤT TƯƠNG TỨC
Theo
cách suy nghĩ thông thường ở đời thì hạnh phúc là những
điều không phải là khổ đau. Hạnh phúc là hạnh phúc, khổ
đau là khổ đau, hai sự kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Đó
là khuynh hướng lập luận của tâm tư ta. Nhưng theo nguyên
tắc tương tức của Bụt dạy thì hạnh phúc và khổ đau
có liên hệ mật thiết. Hạnh phúc làm bằng chất liệu của
khổ đau, và khổ đau cũng làm bằng chất liệu của hạnh
phúc. Giống như rác làm ra hoa (ủ rác làm phân bón cho cây
nở hoa) và hoa nếu để lâu ngày sẽ biến thành rác. Hạnh
phúc cũng vô thường, mà khổ đau cũng vô thường. Vì khổ
đau vô thường cho nên khổ đau có thể trở thành hạnh phúc,
và hạnh phúc cũng vô thường nên có có thể thành khổ đau.
Đó là cái nhìn tương tức trong đạo Bụt mà chúng ta phải
nhớ. Vì vậy khi ta vạch ra một giới tuyến để chia hạnh
phúc và khổ đau làm hai thực thể riêng biệt, là chúng ta
đã tạo ra một lầm lẫn căn bản. Vì giới hạn của ngôn
ngữ cho nên chúng ta phải diễn tả như thế. Tuy nhiên nếu
thấy được rằng hạnh phúc được làm bằng những yếu
tố của khổ đau thì dầu cho gạch ra đường phân biệt này,
ta cũng không bị kẹt vào sự phân biệt đó. Ta nên biết
rằng nếu chưa từng khổ đau (chuyện này chắc chưa xảy
ra!) thì chúng ta chưa có cơ hội biết được thế nào là
hạnh phúc. Khi có khổ đau mà biết quán chiếu thì chúng ta
có thể tạo được hạnh phúc bằng những chất liệu của
khổ đau đó. Trong Kinh Bao Tích, Bụt có dạy rằng những chất
liệu như là rác rến, phân người, phân thú, nếu biết dùng
để chăm bón ruộng nho, ruộng mía, thì những chất liệu
đó sẽ làm cho ruộng nho, ruộng mía tốt tươi hơn, Các vị
Bồ Tát cũng vậy, họ biết sử dụng những chất liệu đau
khổ của họ để làm ra hạnh phúc cho họ và cho muôn loài.
Như vậy giáo lý về rác, về hoa là đã có sẵn trong kinh,
không phải chúng ta mới đặt ra sau này.
Như
vậy nếu đã từng khổ đau thì với những chất liệu khổ
đau trong người, ta có thể tu tập để biến chúng thành những
chất liệu của hạnh phúc, những năng lượng tích cực của
cuộc sống. Còn nếu hiện tại đang có hạnh phúc mà ta không
biết bảo trì, ta dẫm lên hạnh phúc mà đi trong đời sống
hàng ngày, thì nó sẽ biến thành khổ đau! Vì vậy cho nên
ta có thể nói rằng hạnh phúc và khổ đau là hai hiện tượng
có tính cách tương tức (inte-rêtre, inter-being), cái này chứa
cái kia, Tính cách tương tức này thể hiện trong mọi ý niệm,
mọi thực tại của cuộc sống hàng ngày.
Trong
Kinh Samiddhi Bụt có nói tới ngũ dục, tức là năm ý niệm
về hạnh phúc như là phải có thật nhiều tiền, phải có
danh vọng cao ... Nhiều người trong chúng ta bị kẹt và những
ý niệm đó. Làm sao để có cái này, làm sao để có cái kia,
nếu không có cái này cái kia thì hạnh phúc không thể có
được. Hầu hết chúng ta đều chạy theo những đối tượng
như vậy. Chúng chỉ là bóng dáng của hạnh phúc, là ý niệm
về hạnh phúc mà không phải là hạnh phúc chân thật. Ý niệm
đó có thể là đanh, là lợi, là tài, là sắc. Ý niệm đó
cũng có thể là một thiên đường hay một đời sống sung
túc, giàu có. Tất cả những ý niệm đó Bụt gọi là những
cái bẫy sập.
Ngay
đầu khóa tu chúng ta có học một bài kinh đề cập đến
sự tự do, sự thoát khỏi những bẫy sập của các vị khất
sĩ. Họ là những người tự do, không bị ràng buộc vào bất
cứ một điều gì, một vật gì. Họ như những con nai thoát
khỏi những bẫy sập, đang chạy nhảy khắp bốn phương.
Muốn đi thành Xá Vệ thì đi, muốn đi thành Ca Tì La thì đi,
muốn đi thành Ba Tư Nại thì đi, muốn đi thành Vương Xá
thì đi, muốn đi thành Tì Xá Li thì đi, không bị ràng buộc
vào dù một khu rừng hay một gốc cây. Đó là cách diễn tả
sự tự do của các vị khất sĩ đối với các bẫy sập của
danh, của lợi, của sắc dục, của thức ăn ngon, của giường
cao chiếu sạch.
Hôm
ở Moscow, tôi có giảng một bài về ý niệm hạnh phúc. Tôi
nói rằng 73 năm về trước, quí vị đã có một ý niệm về
hạnh phúc, quí vị muốn xây dựng một thiên đường căn
cứ trên chủ thuyết Mác Lê Nin. Quí vị đã phải đau khổ
suốt cả 73 năm trời vì cái ý niệm về hạnh phúc đó của
quí vị. Bây giờ những vết thương đã ăn sâu vào trong con
người quí vị và trong con cháu của quí vị. Sự sợ hãi,
nghi ngờ, căm thù, khổ đau đã in đậm dấu trong cả một
dân tộc. Quí vị sẽ phải tu tập nhiều năm, nhiều chục
năm mới có thể gột sạch được những vết thương của
73 năm Xã Hội Chủ Nghĩa đó. Ngày nay quí vị lại hình thành
một ý niệm khác là ý niệm về Tư Bản. Chán ý niệm Cộng
Sản, bây giờ mình mong ước một thiên đường Tư Ban. Quí
vị hãy cẩn trọng, ý niệm Tư Bản cũng nguy hiểm như ý
niệm Cộng Sản. Chúng ta không nên sống với ý niệm, chúng
ta phải tiếp xúc với sự thật. Tôi đến đây không phải
để trao cho quí vị một ít ý niệm về đạo Bụt. Tại vì
ý niệm về Phật Giáo cũng có thể nguy hiểm như niệm về
Tư Bản hay ý niệm về Cộng Sản. Nói như vậy có nghĩa là
nếu quí cị có một ý niệm về Phật Giáo, quí vị có thể
bị kẹt trong ý niệm đó, và quí vị có thể đau khổ suốt
đời. Phật Giáo không phải là một ý niệm. Trong ba ngày
vừa qua tôi đã dạy cho quí vị tiếp xúc với cái năng lượng
có sẵn trong quí vị, năng lượng chánh niệm. Năng lượng
đó có thể che chở, soi sáng, chỉ đường cho quí vị, có
thể chữa trị những vết thương trong lòng quí vị. Năng
lượng chánh niệm đó không phải là một ý niệm, không phải
là một cái tưởng, mà là một thực tại, và trong ba ngày
tu học vừa qua quí vị đã thực tập tiếp xúc trực tiếp
với cái năng lượng đó. Vì vậy quí vị đừng nói rằng
thầy Nhất Hạnh tới đây để hiến cho chúng ta những ý
niệm rất là mầu nhiệm về chánh niệm! Nếu thấy được
sự thật thì quí vị nói rằng thầy Nhất Hạnh tới đây
giúp chúng ta gạt bỏ, thoát ly khỏi tất cả mọi ý niệm,
trong đó có ý niệm về chánh niệm, và ý niệm về Phật
Giáo.
Trong
mười bốn giới Tiếp Hiện, giới đầu có liên hệ tới
vấn đề ý niệm. Thường chúng ta khổ đau là chỉ vì ý
niệm. Chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc, chúng ta bị
kẹt vào ý niệm đó, và chúng ta khổ cả một đời. Trong
khi hạnh phúc có thể có thật, bây giờ và ở đây, mà chúng
ta không biết cách để sống cho sung sướng. Có hạnh phúc
trong tay mà ta vẫn đi tìm nó, là tại chúng ta kẹt vào ý
niệm. Cho nên muốn có hạnh phúc đích thực, trước hết
phải bỏ cái ý niệm về hạnh phúc đi. Nếu một sư cô,
sư chú, hay một sư anh, sư chị trong chúng, nghĩ rằng mình
không có hạnh phúc là tại vì mình chưa có cái này, cái kia,
tại vì điều này không như ý mình, thì đó là những ý niệm,
mà ý niệm thì có thể rất sai lầm. Sở dĩ mình đau khổ,
đêm ngày là tại mình kẹt vào chính những ý niệm của mình
về hạnh phúc. Nếu mình tháo bỏ những ý niệm của mình
về cái này, cái kia, về người này, người kia, về những
điều kiện về hạnh phúc của mình, thì tự nhiên hạnh phúc
là một cái gì có thể xảy ra được ngay trong giây phút hiện
tại. Đây không phải là chuyện lý thuyết. Vì vậy Kinh Kim
Cương và nhiều Kinh khác của đạo Bụt đều nhắm tới việc
giúp chúng ta phá trừ những ý niệm, phá trừ những cái tưởng,
những "notions". Đó là phần tinh túy nhất của đạo Bụt.
Đối với giáo lý của Bụt như vô thường, vô ngã, bản
môn, tích môn, ta đừng tiếp nhận những những ý niệm, đừng
bị kẹt vào ý niệm, phải phá tung những ý niệm đó đi
vì những điều Bụt đưa ra là ngón tay chỉ mặt trăng mà
không phải là mặt trăng thực sự. Hễ bị kẹt vào ngón
tay thì không thấy được chân như của mặt trăng. Ý niệm
là nguồn gốc của mọi khổ đau, đó là điều mà tất cả
chúng ta cần phải nhớ.
HÀNH
TRÌ GIỚI LUẬT SẼ KHÔNG VƯỚNG VÀO BẪY SẬP
Trong
bài giảng của khóa tu mùa hè năm nay tôi có nói rằng nếu
quí vị cảm thấy cô đơn thì có thể sự cô đơn đó phát
sinh từ nguyên nhân quí vị không hành trì năm giới. Tôi đã
đưa ví dụ giới thứ ba là giới tà dâm. Ban đầu mình cô
đơn và nghĩ rằng có liên hệ với người khác phái sẽ giúp
mình ấm áp, bớt cô đơn. Rồi từ đó đi đến chuyện chung
đụng xác thân. Nhưng ai ngờ những kinh nghiệm chung đụng
xác thân đó, niềm cô đơn của mình lại lớn lên gấp bội.
Đó là vì khi không có sự đối thoại và thông cảm giữa
hai tâm hồn mà lại có sự giao tiếp giữa hai thân xác, thì
sự giao tiếp này sẽ đào thêm cái hố ngăn cách và tạo
thêm nỗi cô đơn. Sau đó hai tuần, tôi nhận được bức
thư của một thiếu phụ người Tây Phương nói rằng: "Bạch
Thầy, điều Thầy nói không có gì đúng hơn nữa, con đã
đi qua kinh nghiệm đó. Có một lúc con cảm thấy cô đơn,
con đi tìm sự ấp ủ, sự ấm áp, con khám phá ra rằng càng
ngày niềm cô đơn của con càng lớn. Sự xa cách của con với
loài người, với xã hội càng ngày càng lớn là tại vì con
đã đi lầm đường".
Đó
mới chỉ là một trong năm giới. Bốn giới kia cũng vậy.
Khi không hành trì các giới, ta dễ bị sập vào bẫy ái dục,
bẫy danh lợi, bẫy ý niệm về hạnh phúc, và ta sẽ khổ
đau nhiều. Nếu có hành trì, năm giới ta mới biết cách phá
lưới mà ra, biết cách lấy lại tự do. Tự do ở đây không
phải là tự do chính trị mà là tự do đối với những bẫy
sập, những ý niệm về hạnh phúc. Mình đòi hỏi phải có
điều kiện này, điều kiện nọ, thì hạnh phúc mới có thật.
Cái ý niệm về hạnh phúc đó chính là cái ngục tù giam hãm
mình. Bỏ ý niệm đi thì khung cửa tự do sẽ mở rộng và
hạnh phúc thật sự sẽ hiển bày ngay trong giây phút hiện
tại. Tự do có khi được gọi là thảnh thơi, và đó là một
trong hai đặc tính căn bản của Niết Bàn (vững chải và
thảnh thơi). Vững chải dịch ra tiếng Anh là Stability Solidity.
Nếu trong ta không có hai yếu tố vững chải và thảnh thơi
thì hạnh phúc không phải là hạnh phúc đích thực.
TĂNG
THÂN ĐỒNG HOÀN CẢNH MỚI GIÚP TA THOÁT ĐƯỢC BẪY SẬP
Khi
một con thú bị sập bẫy, nó vùng vẫy đủ cách nhưng vẫn
rất khó thoát, nó rất khổ sở và mất hết tự do. Với
ngũ dục cũng vậy. Khi đã sa vào thì không khác nào bị sập
bẫy, ta cũng vùng vẫy nhưng rất khó thoát ra. Chẳng hạn
như khi nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện sắc dục hay là
nghiện tiền bạc. Có tiền không bao giờ thỏa mãn hết, có
tiền ít thì muốn có tiền thêm, có nhiều rồi lại muốn
có nhiều hơn nữa, giống như người khát nước ngoài biển
khơi, càng uống nước biển thì càng khát thêm. Sắc dục
cũng vậy mà danh lợi cũng vậy, rất dễ sợ, sa vào rồi
thì rất khó thoát ra. Nhất là khi mình phải đơn phương tranh
đấu để thoát khỏi những cái bẫy ngũ dục và nghiện ngập
thì thậm nan, vạn nan! Sở dĩ như vậy là vì mình đã nhiễm
vào một cái thói quen gọi là tập khí. Tập khí cũng giống
như ngựa theo lối cũ, dù có được học, được nghe và hiểu
được rằng điều đó là có hại, là không nên làm, nhưng
ta vẫn "ngựa theo lối cũ" như thường. Thành ra nếu đến
người nghiện ma túy và khuyên họ rằng: "Anh ơi! Anh không
nên sử dụng ma túy tại vì nghiện ma túy thì thân anh sẽ
tan nát, công danh sự nghiệp của anh sẽ tan nát, gia đình
của anh cũng sẽ tan nát, anh đừng nên tiếp tục con đường
này nữa" thì vô ích lắm. Tại vì chính người này cũng biết
điều đó, và biết rất rõ, có thể còn rõ hơn chúng ta nữa,
nhưng họ không làm được, họ không thoát ra khỏi cái bẫy
sập được. Vì vậy chúng ta đừng đến để dạy luân lý,
đạo đức cho họ, Nếu có những phương cách gì để giúp
họ thoát ra thì hãy đến, còn đến để dạy luân lý đạo
đức thì không có ích lợi gì. Một phương cách có hiệu
quả là lập một tăng thân, một đoàn thể, trong đó có những
người đã thoát bẫy sập. Đưa tăng thân này đến gặp các
người sập bẫy và nói rằng "Đây là những người ngày
xưa cũng như anh, bây giờ đã thoát ra rồi, anh nên sống chung
với họ, để họ nâng đỡ, yểm trợ cho anh thoát khỏi tình
trạng khổ đau này". Tập khí rất nguy hiểm, biết đó là
cái bẫy, không muốn chui vào nhưng ta vẫn lặng lẽ, êm ái
chui vào như thường. Chui vào rồi tâm sự: "Bẫy sập của
ta ơi! Ta không thể nào thiếu ngươi được, ta phải chui vào,
dầu ta biết rằng ngồi ở trong ngươi ta sẽ đau khổ vô
cùng, nhưng ta vẫn sẵn sàng để chui vào!" Sự thật là như
vậy, cho nên trong đạo Bụt có danh từ gọi là trầm luân.
Trầm là chìm xuống, luân là lăn đi. Khi bị trầm luân trong
những bẫy sập, chỉ có một tăng thân vững mạnh, đầy
thương yêu mới cứu được ta mà thôi. Lý do là trong Tăng
có Bụt và có luôn cả Pháp.
Hiện
nay ở các nước Tây Phương có những tổ chức lo về tâm
lý trị liệu, cũng như lo về vấn đề cai rượu, cai thuốc
phiện. Tuy họ không phải là những tổ chức của đạo Bụt,
nhưng họ cũng biết vai trò của tăng thân rất quan trọng.
tại Mỹ có một chương trình gọi là "The twelve step ptrogram"
để cứu những người bị nghiện rượu. Họ biết rằng
không có tăng thân thì không thể cứu được người nghiện
ngập, cho nên họ đã sử dụng phương pháp tăng thân. Tại
Pháp và các nước Âu Châu cũng vậy. Để cứu những chàng
thanh niên và những cô thiếu nữ vương vào vòng ma túy, họ
lập ra các trung tâm để cho người bị nghiện tới để cùng
tập cai thuốc với nhau. Khi thực tập chung với một tăng
thân đồng hoàn cảnh, ta sẽ có sự nương tựa và nâng đỡ
tinh thần của nhau, vì vậy mà dễ thành công hơn là làm một
mình. Bởi lẽ chống chọi với tập khí xấu như nghiện ngập
là một việc rất khó làm, nhất là khi nạn nhân ở trong
tình trạng suy yếu từ tinh thần cho đến thể chất.
Thành
ra tăng thân là một nổ lực tập thể đưa mình đi lên. Trong
bài Kinh Quy Nguyện có một đoạn tán dương tăng thân:
Tăng
là đoàn thể đẹp
Cùng
đi trên đường vui
Tu
tập giải thoát
Làm
an lạc cuộc đời.
Tuy
nhiên để cho "tăng là đoàn thể đẹp", và những người
sống trong tăng thân có an lạc, hạnh phúc thì phải có giới,
có luật, phải tuân theo nếp sống của tăng thân. Nếu sống
trong tăng thân mà mình như một cù lao biệt lập thì không
thể nào thành công được. Trong nguyên tắc lục hòa của
đạo Bụt, mình không thể là một hiện tượng đặc biệt,
mình phải làm tất cả những gì mà người khác đang làm,
phải hành trì những điều người khác đang hành trì thì
tăng thân mới vững chãi, mới thảnh thơi và mình mới hưởng
được cái vững chãi và thảnh thơi đó của tăng thân. Có
những người trong chúng ta thiếu thảnh thơi đã đành mà
còn thiếu luôn vững chãi. Họ luôn luôn sợ hãi, không biết
ngày mai mình sẽ ra sao, không biết cái gì sẽ xảy ra cho mình
chiều này hay sáng mai, họ rất dễ bị buồn, bị lo. Tình
trạng đó tiếng Anh gọi là vulnerability hay insecurity. Đó là
đặc tính tiêu biểu cho con người của thời đại ngày nay.
Con
người trong thời đại mới thường xuyên sống trong trạng
thái không cảm thấy an toàn, dễ bị thương tích. Mỗi ngày
có không biết bao nhiêu người bị thương, vì họ không có
sự vững chãi, không có gốc rễ, không có cội nguồn. Một
thân cây mà không có gốc rễ thì cố nhiên không đứng vững
được. Con người cũng vậy, không có gốc rễ trong gia đình,
không có gốc rễ trong xã hội, cũng không có gốc rễ trong
truyền thống tâm linh thì làm sao mà đứng vững được, làm
sao có vững chãi được! Cho nên mình phải tự hỏi mình có
gốc rễ vững chãi trong gia đình hay không? Nếu không thì
phải lập tức thiết lập gốc rễ đối với gia đình của
mình. Nếu gia đình huyết thống bị đổ vỡ thì phải bám
vào gia đình tâm linh. Khi gia đình tâm linh có gốc rễ rồi,
mình trở lại xây dựng gốc rễ cho gia đình huyết thống.
Những người không có gốc rễ là những con người đau khổ.
Nếu mình thấy thù hận xã hội, thù hận tăng thân, thù hận
truyền thống tâm linh của mình thì điều đó chứng tỏ mình
đã mất gốc ở trong xã hội và trong truyền thống tâm linh
của mình, vì vậy cho nên mình dễ ngã xuống như một thân
cây không có rễ.
Con
người không có gốc rễ là một cô hồn, đi lang thang vất
vưởng, không biết thống thuộc về đâu. Cho nên năm cái
lạy của Làng Mai là để thực tập nối lại gốc rễ của
mình với tổ tiên, giònghọ, vói gia đình huyết thống, với
gia đình tâm linh, với xã hội, với chính những người mà
mình thù hận, mình khổ đau. Cái lạy chót là cái lạy để
thấy được những khổ đau của người đã làm cho mình đau
khổ, để tha thứ được cho người đó, bởi vì mình cũng
có gốc rễ nơi người đó. Người đó có thể là cha mình,
có thể là mẹ mình mà mình đang thù hận! Người đó có
thể là người ngày xưa mình đem lòng thương yêu và giờ
đây trở thành người thù của mình. Khi gốc rễ của mình
trên những mảnh đất đó bị cắt đứt thì mình biến thành
một người bơ vơ, đi lang thang. Cô hồn sống là một hiện
tượng rất đặc thù của thế kỷ thứ 20. Chúng ta chỉ cần
nhìn chung quanh là chúng ta sẽ thấy có biết bao nhiêu người
trẻ đi lang thang như những con ma đói, họ không tin tưởng
vào một cái gì hết, không thấy cái gì đẹp, cái gì thật
để tin.
TUỆ
GIÁC GIÚP CHÚNG TA GIẢI THOÁT KIẾN THỨC LÀM TA TỰ HÀO
Trong
Kinh Samiddhi, thầy Samiddhi nói: Tôi biết những ý niệm về
hạnh phúc, về ngũ dục là những cái bẫy sập vì vậy cho
nên tôi không phí tuổi trẻ của tôi để sa vào những cái
bẫy sập đó. Tôi đi tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện
tại là vì pháp của Đức Thế Tôn là thiết thực hiện tại,
đến để mà thấy, nó vượt tính cách thời gian, bó bảo
đảm sự tự do cho mình, nó cho mình sự vững chãi.
Kinh
Samiddhi cũng có đề cập tới nơi nương tựa, tức là gốc
rễ của mình. Nơi nương tựa này là con đường tu học mà
Đức Thế Tôn đã trình bày ra, tức là Pháp. Thầy Samiddhi
đã nói tới nguyên tắc hiện pháp lạc trú: Tôi đi tìm hạnh
phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, tôi
không bị sập vào bẫy của những ý niệm hạnh phúc, tôi
đi tìm hạnh phúc chân thật trong sự sống, trở về với
hiện tại và Pháp của Bụt là ngọn đèn soi sáng cho tôi,
giúp tôi tiếp xúc với thực tại mà không làm cho tôi bị
rơi vào những bẫy sập của ý niệm. Thành ra khi có chỗ
nương tựa tức là ta đã có một niềm tin, và có một niềm
tin thì ta có hạnh phúc chân thật. Niềm tin ở đây không
phải là tin vào một chủ thuyết về hạnh phúc, một ý niệm
về hạnh phúc. Niềm tin ở đây là một cái gì mình có thể
có kinh nghiệm trực tiếp. Những người có một ý niệm về
hạnh phúc ví dụ như Thượng đế và họ tin vào ý niệm
đó, tin vào một thiên đường tương lai, thì tuy đó cũng
là những niềm tin nhưng không phải được đặt trên căn
bản thực chứng trong hiện tại.
Đạo
Bụt nói tới niềm tin như là một năng lượng tạo ra hạnh
phúc, nhưng niềm tin ở trong đạo Bụt khác với niềm tin
ở ngoài đời. Vì vậy ở đây ta cần nhắc lại giáo lý
về ngũ lực. Ngũ lực là năm loại năng lượng làm cho ta
trở nên một người sống động, có sức sống với hai con
mắt sáng, với những bước chân vững chãi. Năng lượng đầu
là Niềm tin. Người không có niềm tin là người không có
năng lượng, đó là một người đã chết. Tin ở một cái
gì thật, một cái gì lành, tin vào một cái gì đẹp, và những
cái đó không thể là những ý niệm. Những điều ta tin phải
do kinh nghiệm trực tiếp của ta. Thí dụ tin vào chánh niệm
vì ta vừa nghe một bài giảng rất hay về chánh niệm, thì
đó chưa phải là chánh tín. Được nghe giảng về chánh niệm,
ta thực tập về chánh niệm và ta thấy chánh niệm, ta thực
tập về chánh niệm và ta thấy chánh niệm là nguồn năng
lượng mà ta có thể tạo ra được, ta có kinh nghiệm được,
có thể soi sáng cho ta được thì đó mới là chánh tín. Điều
này rất là quan trọng, hành giả phải ghi nhớ trong lúc thực
tập chánh niệm.
Nguồn
năng lượng thứ hai là Tấn (diligent), có nghĩa là sự siêng
năng. Nguồn năng lượng thứ ba là Niệm, nghĩa là chánh niệm.
Chánh niệm là trái tim của sự thực tập ở trong đạo Bụt.
Chánh niệm là năng lượng mà mình có thể chế tác ra, giống
như điện năng do một nhà máy điện chế biến ra. Con người
của ta cũng là một nhà máy, cũng là một trung tâm biến chế
năng lượng. Năng lượng Niệm là năng lượng ánh sáng, ánh
sáng soi đường cho ta. Năng lượng niệm làm cho êm dịu, trị
liệu những nỗi khổ niềm đau của ta, giúp ta nhìn sâu và
thấy được sự thật của đối tượng quán chiếu. Có năng
lượng của chánh niệm thì ta có thể chuyển đổi được
các tình trạng. Có chánh niệm thì ta sống rất có ý thức,
đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, làm việc, hoặc đối xử
với anh chị em của ta một cách rất có ý thức. Khi có năng
lượng của niệm thì ta có năng lượng của Định, nguồn
năng lượng thứ tư của người tu. Nhờ định tâm, nhờ sự
chăm chú cho nên ta mới thấy được cái bản chất, cái tự
tánh của sự sống. Nhờ niệm, nhờ định mà ta thấy được
tự tánh của đám mây, của bông hoa, của thức ăn, của niềm
vui, của Sư em, Sư chị, Sư anh, và thấy được một cách
rất rõ ràng. Cái đó gọi là Tuệ, nguồn năng lượng thứ
năm. Tuệ tức là cái thấy rất sâu và rõ, tiếng Anh là "understanding"
hay là "wisdom".
Như
vậy Niệm là cái năng lượng để soi chiếu. Khi có soi chiếu
thì có sự tập trung và khi tập trung thì ta thấy được cái
bản chất, cái tự tánh của đối tượng. Chính cái thấy
đó là cái thấy trực tiếp, cái thấy do kinh nghiệm bản
thân, nên mới gọi là Tuệ. Ngược lại, thấy bằng những
ý niệm, những lý thuyết chồng chất thì được gọi là
kiến hay kiến thức. Học Phật Pháp ta có thể chất chứa
rất nhiều kiến thức về Phật Pháp, nhưng những kiến thức
đó không phải là tuệ, đôi khi nó còn có hại. Rất nhiều
người học Phật trên mười năm nhưng đời sống của họ
không có chút nào thay đổi cả. Tại vì họ chỉ có kiến
thức mà không có cái thấy trực tiếp của tuệ giác.
Trong
phương pháp Tứ Y do chư Tổ đặt ra, điều thứ tư là Y trí
bất y thức. "Y trí" là nương vào tuệ, "bất y thức" là đừng
nương vào kiến thức. Tuệ tức là cái biết trực tiếp bằng
kinh nghiệm. Còn kiến là cái biết nhận từ những ý niệm
do người khác trao truyền lại hay là từ đọc sách. Hai cái
đó rất khác nhau. Tuệ có công dụng giải phóng, trị liệu
cho ta, còn kiến làm cho ta càng ngày càng tự hào và trở thành
nạn nhân của những kiến thức của ta. Ví dụ khi nghe Thầy
giảng về chánh niệm, Thầy tìm mọi cách để cho ta thấy
rằng chánh niệm không phải là một ý niệm mà là một vùng
năng lượng ở trong con người. "Tôi đang thở vào và tôi
biết rằng đây là hơi thở vào, tôi đang thở và tôi biết
rằng đây là hơi thở ra". Cái năng lượng nhờ đó mình nhận
diện được hơi thở vào là hơi thở vào là chánh niệm.
Khi uống nước mà không biết là mình uống nước thì lúc
đó chánh niệm không có mặt. Thành ra chánh niệm là một
cái có thật và mình có thể tiếp xúc được. Khi học về
Niệm như vậy rồi thì mình đâu bị kẹt vào ý niệm về
Niệm, tại vì mình đã có kinh nghiệm trực tiếp về loại
năng lượng mà mình gọi là Niệm, và Niệm đó là do Tuệ
đưa tới.
Khi
thấy ta đã có khả năng chế biến ra năng lượng niệm, và
năng lượng niệm giúp ta tập trung được, hiểu biết được,
thì ta có đức tin về niệm, và đức tin này hoàn toàn làm
bằng kinh nghiệm, không phải làm bằng ý niệm, cho nên nó
là Chánh Tín. Dù cho một số rất đông người tin vào một
điều gì, dù cho cả một nước tin vào một chủ nghĩa, thì
niềm tin đó chỉ mới là niềm tin trên một ý niệm mà thôi.
Ví dụ nước Nga tin vào chủ nghĩa Mác Xít trong 73 năm, nước
Việt cũng tin vào chủ thuyết Cộng sản trên 45 năm, cả hai
dân tộc đã chịu không biết bao nhiêu đau khổ vì ý niệm,
vì niềm tin không được soi sáng và thực chứng đó. Trong
Kinh Kalama Bụt đã dạy rất rõ "Đừng vội tin vào điều
gì, dầu điều đó là điều đa số đang nói tới như một
sự thật; đừng vội tin điều gì dầu điều đó đã được
biên chép trong kinh điển; đừng vội tin vào điều gì dù
điều đó đã được một vị đạo sư nổi tiếng nói ra".
Những câu đó là những câu do chính Bụt đã nói, ta phải
đem ra thí nghiệm. Nếu thực tập và thấy những điều có
thể diệt trừ được khổ đau, xây dựng được sự giải
thoát, sự an lạc, thì lúc đó ta mới tin. Niềm tin đó mới
là chánh tín.
BỐN
ĐẶC TÍNH CỦA PHÁP
Pháp
có nhiều đặc tính. Đặc tính thứ nhất là thiết thực
hiện tại (Sanditthika), tức là có thể sờ mó được, có
thể chứng nghiệm ngay bây giờ. Trong khi đó có những chủ
thuyết, những ý niệm hứa hẹn rằng 30 năm sau hay đời sau
thì thiên đường sẽ hiển hiện, nhưng có thể là không bao
giờ nó xảy ra cả! Ngược lại, đặc tính của Pháp là ngay
giây phút mình bắt đầu thực tập là mình có thể cảm thấy
được hiệu quả của nó. Ví dụ "thở vào, tôi biết tôi
đang thở vào, thở ra tôi biết tôi đang thở ra", nắm lấy
điều này để thực tập thì tự nhiên chánh niệm phát sinh
và ta có định liền lập tức và ta trở về được với
chính ta. Như vậy dù chưa đến mức độ cao siêu, nhưng niệm,
định, và tuệ đã thực sự phát sinh, và sự thực tập của
ta có kết quả liền lập tức.
Đặc
tính thứ hai của Pháp là Akalika, nghĩa là vượt thoát thời
gian. Những bẫy sập, những ý niệm về hạnh phúc có tính
cách lệ thuộc vào thời gian, nằm trong thời gian. Ngược
lại, Pháp thì vượt thoát thời gian.
Đặc
tính thứ ba của Pháp là Ehipassika nghĩa là tự mình tới,
tự mình thấy, mình kinh nghiệm mà không cần phải qua trung
gian của một ai hết. Ta có thể dịch là đến để mà thấy
(Venez voir par vous même; come and see for yourself). Không cần phải
có một giai cấp Tăng lữ đứng làm trung gian để giúp ta
tới chứng kiến cái mầu nhiệm của Pháp.
Đặc
tính thứ tư của Pháp là Upanayika tức là có khả năng đưa
mình tới chỗ an lành tốt đẹp, có khả năng hướng thượng.
Ta có thể dịch là có công năng dẫn đạo đi lên.
CHỈ
NƯƠNG TỰA VÀO HẢI ĐẢO TỰ THÂN LÀ CÓ ĐỦ NĂM NGUỒN NĂNG
LƯỢNG
Chúng
ta có một bài thực tập nương tựa rất hay mà tôi thường
áp dụng nhiều lần mỗi ngày, lúc có vấn đề cũng như lúc
không có vấn đề. Đó là bài Hải đảo tự thân:
Quay
về nương tựa,
Hải
đảo tự thân,
Chánh
niệm là Bụt,
Soi
sáng xa gần,
Hơi
thở là Pháp,
Bảo
hộ thân tâm,
Năm
uẩn là Tăng,
Phối
hợp tinh cần,
Thở
vào, thở ra,
Là
hoa tươi mát,
Là
núi vững vàng,
Nước
tĩnh lặng chiếu,
Không
gian thênh thang.
Quay
về nương tựa, là hơi thở đầu, Hải đảo tự thân, là
hơi thở thứ hai. Bụt dạy rằng, đừng nương tựa vào bất
cứ một điều gì, nhất là đừng nương tựa vào ý niệm,
dầu ý niệm về Bụt, vì ý niệm đó có thể sai, có thể
không phải là Bụt. Bụt và ý niệm về Bụt là hai cái khác
nhau. Trong quá trình tu học càng ngày ta càng khám phá ra chân
tướng của Bụt, và những ý niệm xưa của ta về Bụt cứ
từ từ biến mất. Nếu những ý niệm về Bụt không rơi
xuống thì chân tướng của Bụt không bao giờ hiển hiện
ra được. Điều này cũng phải được áp dụng cho những
hiện tượng khác, như trời xanh, mây trắng, hạnh phúc, người
Sư anh, Sư em, Sư chị của ta. Những ý niệm về họ phải
được lột ra, phải được làm cho rơi xuống rào rào, thì
cái bản thân, cái chân như của người đó, của vật đó
mới phát hiện ra được. Cho nên có ý niệm về một điều
gì là rất nguy hiểm. Bụt dạy chúng ta phải quay về để
tiếp xúc cho được cái pháp ở trong tự thân, Ngài nói trong
hải đảo của tự thân có năm nguồn năng lượng, khi nương
tựa vào năm nguồn năng lượng thì rất có an ninh, "Attadipasarana".
(Atta là tự thân, Dipa là hải đảo, Sarana là nương tựa).
Đó là lời Bụt căn dặn các thầy và các sư cô vào năm
Ngài 80 tuổi. Ngài biết rằng Ngài sẽ nhập diệt trong vòng
mấy tháng nữa và trong số môn đệ của Ngài có nhiều người
sẽ cảm thấy rất bơ vơ. Ngài nói với các đệ tử: "Này
các thầy, các thầy đừng nương tựa nơi bất cứ một cái
gì khác, hãy trở về nương tựa nơi hải đảo của tự thân".
Hải đảo là một vùng đất rất khó bị sóng cuốn đi, vì
vậy cho nên nó đứng vững. Trở về nương tựa nơi hai đảo
của tự thân tức là trở về nương tựa nơi Pháp, vì trong
hải đảo tự thân có Pháp. Quí vị có nhớ năm nguồn năng
lượng mà mình gọi là ngũ lực không? Tín, Tấn, Niệm, Định,
Tuệ là chỗ mình trở về, là nơi mình nương tựa. Năm điều
đó không phải là năm ý niệm, mà là năm nguồn năng lượng
có thật trong mỗi người chúng ta. Nếu ta sợ hãi, khổ đau,
bơ vơ là vì ta không biết tìm về nương tựa nơi năm nguồn
năng lượng đó.
Chánh
niệm là Bụt, soi sáng xa gần, là hơi thở thở thứ ba và
thứ tư.
Bụt
không còn là ý niệm nữa, Bụt là một chất liệu có thật
mà mình có thể tiếp xúc bất cứ lúc nào, đó là chánh niệm.
Một em bé năm tuổi cũng có khả năng chế biến ra chánh niệm,
có thể đi trong chánh niệm, ăn trong chánh niệm, nhìn trong
chánh niệm, nắm tay người thân trong chánh niệm. Cho nên chánh
niệm không phải là một ý niệm, mà là một nguồn năng lượng,
là bản chất của một vị Bụt. Vì vậy ta thường nói chánh
niệm là Bụt. Quay về nương tựa Bụt tức là quay về nương
tựa nơi nguồn năng lượng đó của Chánh niệm, trong đó
có chứa bốn nguồn năng lượng khác là Tín, Tấn, Định,
và Tuệ. Chánh niệm là ánh sáng được chế biến do sự thực
tập. Khi có ánh sáng rồi thì ta được soi chiếu, được
dẫn dắt, và nhờ đó mà ta biết nên làm gì và không nên
làm gì, nên nói gì và không nên nói gì, nên nghĩ gì và không
nên nghĩ gì, nên sinh sống bằng cách nào và không nên sinh
sống bằng cách nào. Đó là Bát Chánh Đạo, Như vậy Bát
Chánh Đạo là tám con đường được chiếu sáng bởi ánh
sáng của chánh niệm.
Người
có niềm tin nơi chánh niệm luôn luôn trở về với hải đảo
tự thân và lấy năm nguồn năng lượng đó làm nơi nương
tựa và soi sáng cho mình. Trong câu "chánh niệm là Bụt, soi
sáng xa gần", gần tức là bây giờ và ở đây, những cái
gì đáng làm, những cái gì không nên làm; những cái gì đáng
nói, những cái gì không đáng nói ngay trong giờ phút này.
Xa nghĩa là trong trong tương lai, mình cũng biết được những
gì đáng làm, đáng nói, không đáng làm, không đáng nói trong
tương lai.
"Hơi
thở là Pháp, bảo hộ thân tâm" là câu thực tập hơi thở
thứ năm và thứ sáu. Pháp ở đây cũng không phải là ý niệm,
pháp ở đây là một thực tại. Ví dụ một bài pháp thoại
ở trong băng, chưa hẳn là pháp, nó chỉ là những ý niệm
về pháp. Một cuốn Kinh cũng chưa phải là pháp mà chỉ là
ý niệm về pháp. Ngược lại một hơi thở có ý thức là
pháp sống, pháp linh động, pháp đích thực (Living Dharma).
Thành ra khhi đi thiền hành mà đi có chánh niệm, là ta đang
thuyết pháp, thuyết pháp bằng thân và tâm của mình. Đó
gọi là pháp đích thực. Còn một bài giảng dầu hay cách
mấy cũng chỉ là pháp ý niệm để giúp mình đi tới cái
pháp đích thực mà thôi.
Khi
đang nghe thuyết pháp hoặc đang giảng mà nghe tiếng đồng
hồ hay tiếng chuông điện thoại reo, ta dừng lại, thở vào
thở ra trong chánh niệm, tức là ta cũng đang thuyết pháp,
pháp linh động. Khi thấy Thầy đang giảng hay mà bỗng dưng
ngừng lại khi có một tiếng chuông, các vị chưa quen thường
giận lắm, tại sao không để cho Thầy nói? Đó là tại ta
chưa biết rằng những điều Thầy nói tuy hay, nhưng không
thể sánh được với hơi thở của Thầy và của ta trong lúc
đó. Chính những hơi thở đó mới là pháp mà ta thực chứng
được.
Vì
vậy với câu thực tập hơi thở thứ năm và thứ sáu, hơi
thở là Pháp, bảo hộ thân tâm, mình nhận thức được rằng
thân và tâm của mình được bảo hộ bằng những hơi thở
chánh niệm. Sự bảo hộ không phải là một sự bảo hộ
thần bí nào cả. Khi mình có chánh niệm thì chánh niệm đó
là lực lượng bảo hộ cho mình. Một người thợ, một công
nhân, trong khi sử dụng máy móc mà có chánh niệm thì không
bao giờ bàn tay bị máy cán. Chánh niệm bảo đảm cho sự
an toàn. Khi lái xe mà anh có chánh niệm thì chánh niệm bảo
hộ cho anh. Khi sắp sửa nói một câu mà có chánh niệm thì
chánh niệm cũng sẽ bảo hộ anh. Đó là sự bảo hộ đích
thực của Bụt, không phải do một thần lực huyền bí hay
phép màu nào cả.
Năm
uẩn là tăng, phối hợp tinh cần là hai câu cuối của Bài
Thực Tập Quay Về Nương Tựa mà tôi muốn trao truyền lại
cho quí vị. Năm uẩn là năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Thức.
KHI
NĂM UẨN KHÔNG HÒA HỢP TA SẼ KHAI CHIẾN VỚI BÊN NGOÀI
Khi
một người có "chiến tranh" với cha mẹ, anh em, vợ con trong
gia đình hay với bạn bè ngoài xã hội, thì chính người đó
đang có sự rối loạn bất ổn trong nội thân. Những lúc
đó tâm họ không an lạc, nói một cách khác, năm uẩn của
người đó không có sự phối hợp điều hòa, chúng đang chống
đối nhau.
Thường
thường khi có "chiến tranh" ở bên trong là chúng ta hay "khai
chiến " với bên ngoài. Thành ra những người hay "khai chiến"
với bên ngoài là chắc chắn họ đang có nội chiến trong
thân tâm của họ. Những lúc như vậy, nếu biết nắm lấy
hơi thở và thở theo chánh pháp, tức là ta biết dùng chánh
niệm để soi chiếu nội tâm, thì tự nhiên năm uẩn sẽ trở
lại hòa điệu với nhau, và nhờ vậy mà ta có được an lạc,
ta thôi gây chiến. Trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt dạy
"Tôi đang thở vào và làm cho thân thể tôi trở nên an tịnh",
tức là ta có thể dùng hơi thở có chánh niệm để tạo ảnh
hưởng tốt trên sắc và thọ của mình. Trong khi thực tập
nắm lấy hơi thở ta điều hợp năm uẩn để cho chúng êm
dịu lại và tự nhiên sự an lạc sẽ tới và nhờ vậy mà
mình không còn khai chiến với người khác nữa. Năm uẩn ở
đây không có nghĩa là cái thế giới bên trong. Khi nói năm
uẩn là năm uẩn của anh là không đúng, tại vì đứng về
phương diện thân tức là sắc, cũng như đứng về phương
diện thọ, tưởng, hành và thức thì thân thể của tôi được
làm bằng những chất liệu không phải là tôi. Thức ăn tôi
ăn, không khí tôi thở, nước tôi uống, tất cả những cái
đó là từ anh, từ chị, từ những người khác, từ những
hiện tượng khác trong vũ trụ. Cho nên khi ta nói cái sắc
này là của tôi là không đúng. Thọ cũng vậy, thọ tức là
cảm giác, mà cảm giác luôn luôn là cảm giác giác về cái
gì, cảm giác về những cái ở trong thân và cảm giác về
những cái ngoài thân. Còn tưởng tức là tri giác, cũng vậy.
Tri giác là tri giác về cái gì. Ví dụ tôi có tri giác về
anh thì chủ thể của tri giác với đối tượng của tri giác
là một. Anh là đối tượng của tri giác của tôi, thành ra
nói anh ở ngoài tôi là không đúng. Những tâm hành khác như
giận cũng vậy. Giận thì giận ai, hay thương là thương ai.
Thành ra đối tượng của những tâm hành này là tất cả
những cái ở bên ngoài. Vì vậy nên nói năm uẩn là những
cái ở bên trong tôi là không đúng. Khi chưa tu học thì ta
tưởng như vậy, nhưng nhờ quán chiếu, nhờ nhìn kỹ ta thấy
năm uẩn thật ra không phải là của ta. Chúng nó dính chùm,
liên kết với nhau. Năm uẩn của anh và năm uẩn của tôi
nó dính líu tới cái mức mà ta không thể nào tách rời ra
được.
Khi
một tăng thân không có sự hòa hợp thì mọi người không
có hạnh phúc. Khi năm uẩn của ta không có hòa hợp thì chúng
có chiến tranh, và ta không có hạnh phúc. Hơi thở chánh niệm
làm lắng dịu, và đem lại sự hòa điệu bên trong, vì vậy
cho nên hơi thở chánh niệm là sự thực tập rất quan trọng.
Sơ khởi, chánh niệm làm dịu tâm tư ta lại, gọi là an tịnh
tâm hành. Tâm hành an tịnh rồi, nếu tiếp tục thì chánh
niệm càng soi sáng, ta thấy cái này sai cái kia không đúng.
Điều chỉnh lại một lúc tự nhiên có sự hòa điệu ở
trong năm uẩn của ta. Cũng như trong căn phòng ta ở, nếu không
có thì giờ để sắp xếp, đồ đạc lung tung, thì khi bước
vào ta thấy cấn cái, khó chịu. Nhưng nếu có thì giờ, nhìn
cho kỹ, ta thấy cái này phải xoay lại một chút, cái kia xếp
lại một chút, sắp đặt một hồi tự nhiên căn phòng có
không gian, và ta sống được thoải mái. Năm uẩn cũng vậy
nếu không có chánh niệm thì ta để sắc, thọ, tưởng, của
ta bất an, xáo trộn, và vì vậy mà ta khó chịu, bức rức
ở bên trong. Mà khó chịu ở bên trong thì ta khai chiến với
bên ngoài! Cho nên thắp ngọn đèn chánh niệm lên, nhìn cho
kỹ, sắp đặt lại bằng hơi thở chánh niệm là tạo ra sự
an lạc và hòa điệu bên trong thì tự nhiên mình có hạnh
phúc với cả bên trong lẫn bên ngoài. Vì vậy mà năm uẩn
đích thực là tăng thân của ta. Khi dùng hơi thở chánh niệm
và phối hợp một cách tinh cần, thì ta tạo ra sự an lạc.
Từ đó những lo sợ, những giận hờn, những thất vọng
của ta sẽ được chuyển hóa. Sau đó ta thực tập tiếp bài
Quán niệm hơi thở:
Thở
vào, thở ra,
Là
hoa tươi mát,
Là
núi vững vàng,
Nước
tĩnh lặng chiếu,
Không
gian thênh thang.
Thở
vào biết thở vào, thở ra biết thở ra. Thở vào tôi thấy
là hoa, thở ra tôi thấy tôi tươi mát, thở vào tôi thấy
tôi là núi, thở ra tôi thấy tôi vững vàng, thở vào tôi
thấy tôi là nước tĩnh ...
Lúc
đó những cảm xúc, những giận hờn, những lo lắng của
ta sẽ lắng xuống, và tâm ta an lạc như mặt nước tĩnh,
và nhờ vậy nó mới phản chiếu được sự thật. Nước
tĩnh lặng chiếu là vậy. Nếu tâm mình còn ghét, còn giận
thì cái hình ảnh về người anh, người em hay người chị
của mình nó méo mó một cách rất là buồn cười. Khi tâm
tĩnh lặng thì tri giác ta sẽ đúng lại từ từ, nếu không
thì chỉ là vọng tưởng và là tri giác sai lầm mà thôi. Tri
giác sai lầm sẽ làm cho mình khổ và làm cho người khác khổ
theo.
Câu
cuối của bài thực tập, Không gian thênh thang nghĩa là lúc
đó ở trong tâm ta có không gian, và ta thấy khỏe, không còn
chật chội nữa! Lúc có những tri giác sai lầm, có những
giận hờn buồn phiền thì trái tim ta co lại nhỏ xíu, không
có chỗ để cho người sư anh, sư em ngồi trong đó. Khi tâm
tĩnh xuống thì ta bắt đầu thấy được rõ hơn, tim ta mở
rộng hơn ra, vì vậy mà có không gian bên trong và chấp nhận
được người kia.
Hai
bài thực tập này rất hay, chúng được đúc kết từ những
tinh túy của lời Bụt dạy. Cùng với những bài khác, hai
bài này với lời chú giải, đã được in trong cuốn Sen Búp
từng Cánh Hé, Hai bài này cũng đã được dịch ra tiếng Đức,
tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Ý.
Những
lúc mà ta do dự, sợ hãi, không được vững chải, là những
lúc ta cần tới những bài thực tập này hơn lúc nào hết.
Những lúc không do dự, không sợ hãi, không lung lay mà thực
tập bài này thì nó hạnh phúc nhiều hơn lên. Đừng đợi
tới khi có do dự, sợ hãi, lung lay rồi mới thực tập. Chúng
ta hãy thực tập hàng ngày cho thuần thục, để lúc sắp có
chiến tranh ta chỉ cần vài hơi thở là có thể tạo được
hòa bình.
Hạnh
phúc là có sự mát mẻ và thanh lương. Trái với hạnh phúc
là cơn sốt. Khi rơi vào ngũ dục ta sẽ lên cơn sốt ngũ dục.
Đầu đó là danh, là lợi, là tiền tài, là sắc dục, hay
là sự ăn ngon. Trong khi hưởng thụ những dục lạc đó, người
nào cũng có những cơn sốt. Ta chỉ cần quán chiếu là thấy
cơn sốt có mặt trong lúc hưởng thụ và cơn sốt sẽ trầm
trọng hơn sau lúc hưởng thụ.
Khi
sốt tức là bị ngọn lửa đốt cháy. Thơ của Vũ Hoàng Chương
nói về Kiều Thu có câu:
Kiều
Thu này Tố em ơi,
Ta
đang lửa đốt tơi bời mái tây.
Đó
là cơn sốt mà trong năm bẫy dục lạc, cái nào cũng có. Ví
dụ một món rất ngon, Khi sắp ăn ta đã bắt đầu sốt, trong
khi ăn ta lại có sốt, và khi ăn xong thì cơn sốt càng trầm
trọng hơn. Sau khi ăn xong , ta thường tự hỏi tại sao ta đã
ăn và tại sao ta ăn nhiều vậy? Tại sao đã quyết định
không nên ăn những thứ này mà ta vẫn ăn! Lúc đó ta thắc
mắc, ân hận, lo âu, oán trách ... Đó là những cơn sốt,
những ngọn lửa đốt cháy tâm can.
DÀY
CÔNG TU TẬP MỚI CHUYỂN HÓA ĐƯỢC TÀNG THỨC
Ta
đã biết tất cả hạt giống đều có mặt ở dưới tàng
thức của ta. Tuy nhiên, phần tàng thức thiên biến vạn hóa,
bất khả tư nghì. Ta đã biết cái danh, cái lợi, cái tài,
cái sắc v.v... là những bẫy sập, và nhiều khi ý thức của
ta thấy điều đó rất rõ, Ta đồng ý một trăm phần trăm
với những điều Bụt đạy, những lời Thầy nói. Ta biết
rằng con đường dục lạc không phải là con đường của
ta. Con đường của ta là nương tựa vào Pháp, là đi theo tăng
thân để tạo dựng niềm vui, ta thấy rất rõ, không nghi ngờ
gì hết. Vậy mà một đêm, trong giấc mơ ta thấy ta làm khác.
Sở dĩ như vậy là vì ở dưới tàng thức ta có những lực
lượng của tập khí, chúng đi tìm cái hạnh phúc theo thói
quen! Ví dụ một Sư chú đã cạo đầu đi tu, đã quyết không
những đời này làm người xuất gia, mà đời sau cũng nuốn
tiếp tục làm người xuất gia. Nó rõ ràng rành mạch như
vậy, nhưng tại sao đêm qua mình lại nằm mơ thấy mình trở
thành một chú rể! Tôi cũng đã trải qua cái hoàn cảnh đó,
tôi cũng đã một lần nằm mơ thấy mình làm rễ, có cô dâu
đàng hoàng, rất buồn cười! Các Sư cô cũng vậy, chắc chắn
rằng đã hoặc sẽ có một đêm nào đó các sư cô nằm mơ
thấy mình là một cô dâu, mặc áo rất đẹp, có những cô
phù dâu đứng ở hai bên.
Giấc
mơ này sẽ xảy ra, và tôi nghĩ nó chỉ sẽ xảy ra chừng
hai, ba lần thôi. Cái tàng thức của ta nó kỳ lắm! Nó có
đường lối vận hành riêng của nó, rất là khó đoán. Tôi
có bổn phận phải cho quí vị biết những giấc mơ này sẽ
xảy ra. Khi nó xảy ra quí vị nên mỉm cười với nó mà thôi.
Ta nên biết rằng phần ý chưa phải là tất cả cái tâm của
ta, tâm ta còn có phần tàng nữa. Trong tàng, nó có những ước
muốn. Lắm lúc trong khi thức ta thấy bằng cấp đối với
ta không có nghĩa, tại vì nó là một trong những cái bẫy
sập. Người ta chạy chọt, lăng xăng đi tìm bằng cấp. Ta
thấy rất rõ rằng điều ta đi tìm là hạnh phúc chân thật,
bây giờ và ở đây. Vậy mà có thể trong một đêm, ta thấy
ta dội nón, mặc áo tốt nghiệp từ một trường đại học!
Thành ta ở dưới tàng thức ta có những cái dư của tập
khí, những lề lối suy tư, những ý niệm về hạnh phúc cũ.
Nhờ tu tập, trên phần ý ta đã giải quyết xong, nhưng ở
dưới phần tàng nó vẫn còn, nên ta phải tiếp tục quán
chiếu ngày đêm. Sự quán chiếu đó đưa ánh sáng chánh niệm
xuống dưới tàng thức để chuyển hóa những tập khí lâu
đời. Ví dụ ban đêm sư cô nằm mơ thấy mình trở thành
cô dâu. Khi thức dậy, sư cô chỉ nên mỉm cười mà không
cần buồn giận, trách móc mình. Ban đầu giấc mộng đó sẽ
làm cho ta mạnh khỏe, không sao cả, vì làm cô dâu ở trong
giấc mộng, an toàn hơn làm cô dâu ở trong thực tế. Làm
cô dâu trong giấc mộng ta chỉ sống cái giây phút mặc áo
đẹp thôi, nhưng không phải trải qua tất cả những chua cay
mà cô dâu thật sự ở ngoài đời phải gánh chịu. Theo tâm
lý học, nằm mơ thấy mình là cô dâu là một chuyện rất
mạnh khỏe, "good for our health", không sao cả, Nhưng như vậy
không có nghĩa là ta không cần tiếp tục quán chiếu. Phải
thấy rất rõ rằng làm cô dâu hay chú rể trong lần đó thôi
thì rất an toàn, nhưng nếu tiếp tục thấy thêm nhiều làn
nữa thì có nghĩa là ta tu tập không có hiệu quả và ta sẽ
gánh chịu tất cả. Phải thấy rõ điều đó để tinh chuyên
thực tập quán chiếu mà chuyển hóa tàng thức.
Như
vậy ở dưới tàng ta có những lực luợng của tập khí,
những tùy miên đi theo ta. Chúng nằm ngủ ở dưới đó mà
nhiều khi ta không biết và nghĩ rằng ta không còn những tập
khí đó nữa. Vì vậy tu tập là chuyển hóa kho tàng thức,
chứ không phải chỉ thuyết phục anh chàng ý thức mà thôi.
Cố nhiên ở phần trên của tâm có lý trí, có sự phán xét
và ta bắt đầu thực tập quá chiếu với phần ý của ta.
Nhưng ở dưới phần tàng nó có những cái tùy miên mà mình
cần phải nhận diện. Những tùy miên đó tạo ra một lực
lượng, một khuynh hướng rất gần với cái mà ta gọi là
thức thứ bảy hay là Mạt Na. Chính cái ý thức của ta nó
dựa trên mạt na mà hoạt động. Trong đời sống ban ngày,
ý thức tiếp xúc với thế giới thực tại bên ngoài, nhờ
vậy nó sáng suốt, biết cái gì nên, cái gì không nên, Nhưng
ban đêm trong giấc mơ, sự tiếp xúc với thế giới thực
tại không có, vì vậy mà có những cái thấy được tạo
dựng bởi những tùy miên, bởi những ao ước, những tập
khí của mình. Nó tạo ra một cái thế giới không phù hợp
với cái thế giới của thực tại. Vì vậy cho nên sự thực
tập của mình đêm cũng như ngày là rọi ánh sáng Chánh niệm
xuống tận những tầng lớp sâu sắc nhất của tàng thức
để chuyển hóa những tùy miên, những tập khí lâu đời.
Cũng vì vậy mà tôi đã nói rằng đối với người nghiện
ma túy, nếu ta tới và nói rằng: "Anh đừng có dùng ma túy
nữa, dùng ma túy làm cho thân thể anh bệ rạc, cuộc đời
anh hư hỏng, không có tương lai cho chính anh và cả cho con
cháu anh" là ta đang làm một chuyện vô ích vì người kia đã
thấy được điều đó, nhưng dưới tàng thức của họ, những
lực lượng ma quái kia, những tập khí lâu đời kia, những
sự ràng buộc chắc nịt kia còn quá lớn. Vì vậy một mặt
mình phải tạo một tăng thân, mặt khác mình phải giúp người
đó có phương tiện để sống với một tăng thân có cùng
hoàn cảnh, cùng quán chiếu thì mình mới có thể giúp được
người đó.
Sống
trong tăng thân, cùng thực tập, cùng hành trì những giới
luật với tăng thân, là con đường an ninh nhất cho chúng ta.
Khi nghĩ rằng ta đã học được một ít giáo lý và có thể
ở riêng một chỗ để thực tập thì ý niệm đó rất nguy
hiểm cho chính ta và cho cả những người chung quanh.