CHƯƠNG
3 (tt)
3.5
Pháp Thoại Ngày tháng 9 năm 94
Thưa
đại chúng, hôm nay là ngày 29 tháng 9 năm 1994, chúng ta đang
ở xóm Thượng, trong khóa tu mùa Thu và học tiếp Kinh Samiddhi.
DIỆT
TAM MẠN LÀ GIẢI THOÁT TỬ SINH
Hôm
nay ta đọc lại bài kệ thứ ba của Bụt nói về ba mặc cảm
bằng chữ Hán trong Tạp A Hàm và giải thích từng câu:
Kiến
đẳng, thắng, liệt giả,
Tắc
hữu ngôn luận sinh,
Tam
sự bất khuynh động,
Tắc
vô nhuyến, trung, thượng.
Kiến
đắng, thắng, liệt giả, nghĩa là khi thấy có kẻ bằng mình,
hơn mình, thua mình, "giả" ở đây nghĩa là kẻ, là người;
Tắc hữu ngôn luận sinh, thì phát sinh những tranh luận. Nên
biết rằng chữ "ngôn luận" ở đây không phải chỉ là lời
nói, mà tư lượng ở trong tâm của ta cũng là một thứ ngôn
luận. Tâm ta có sự kỳ thị, sự ganh tị, sự cao ngạo, sự
chê bai, tất cả những cái đó đều là ngôn luận. Tam sự
bất khuynh động, "sự" là cái việc, ở đây tam sự là ba
mặc cảm. Nếu ta không bị lay động bởi ba mặc cảm, ba
tư tưởng đó, Tắc vô nhuyến trung thượng, thì ta không còn
cái ý niệm kém người, bằng người hay hơn người nữa.
Chữ "nhuyến" cũng có nghĩa là mềm. Đọc là nhuyến nhưng
nghĩa của nó cũng như chữ nhuyễn. Nhuyến có nghĩa là yếu
ớt, mềm yếu, hèn nhát, vô dụng.
Trong
Biệt Dịch Tạp A Hàm, bài kệ tương đương có tới sáu câu:
Thắng
mạn, cập đẳng mạn,
Tinh
cập bất như mạn,
Hữu
thử tam mạn giả,
Thị
khả hữu tranh luận,
Diệt
trừ thử tam mạn,
Thị
danh bất động tưởng.
"Thắng
mạn" tức là mặc cảm hơn người; "đẳng mạn" là mặc cảm
bằng người; "Cập bất như mạn là mặc cảm không bằng
người. "Tinh" có nghĩa là và; "Cập" cũng có nghĩa là và,
nó còn có nghĩa là với tới, theo kịp, theo bằng. Chúng ta
hay nói "khi thái quá, khi bất cập". Thái quá tức là đi quá
đà, bất cập là chưa tới bằng. "Cập bất như" tức là
chưa bằng người, nghĩa là cái mặc cảm không bằng người,
thua người. Hữu thử tam mạn giả là có ba cái mạn này,
"thử" nghĩa là này. Thị khả hữu tranh luận nghĩa là cái
đó có thể tạo nên sự tranh luận. Tranh luận bên ngoài (lời
nói, hành động), và tranh luận bên trong (tư tưởng, cảm
nghĩ).
Từ
ba cái mặc cảm này phát sinh ra nhiều tai nạn: giận hờn,
ganh ghét, ghen tuông, tủi hổ v.v... Chỉ cần tủi thân thôi
cũng có thể đưa đến chán đời, tự tử rồi!
Diệt
trừ thử tam mạn nghĩa là diệt trừ được ba cái mạn này
rồi. Thị danh bất động tưởng, "tưởng" tức là tri giác,
nghĩa là đạt tới cái tri giác gọi là bất động, tức là
không bị những mặc cảm, những giận hờn, tủi hổ và chán
đời đó làm cho mình khuynh động, ngã nghiêng. Mình đứng
vững như một gốc đại thụ. Bất động có nghĩa là vững
chãi và thảnh thơi. Bất động là một trong những thuộc
tính của Niết Bàn (Diệu, Trạm, Tổng, Trì, Bất động).
So
sánh hai bản dịch ta thấy bản dịch của Tạp A Hàm, ngắn
hơn, chỉ có bốn câu, nhưng bản dịch của Biệt Dịch Tạp
A Hàm dễ hiểu hơn. Bên Tạp A Hàm, hàng đầu liệt kê cả
ba thứ mặc cảm: Kiến đẳng, thắng, liệt giả. Mỗi thứ
chỉ dùng một chữ thôi: "đẳng, thắng, liệt". Cố nhiên
là nó đầy đủ ý nghĩa, nhưng bên BIệt Dịch Tạp A Hàm
nêu rõ từng mặc cảm bằng nhiều chữ, "Thắng mạn, cập
đẳng mạn, Tinh cập bất như mạn", cho nên rõ ràng hơn. Tôi
dịch bài Kệ trong Biệt Dịch Tạp A Hàm như sau:
Mặc
cảm ta hơn người,
Kém
người hoặc bằng người,
Kẹt
trong ba tưởng ấy,
Là
vướng vòng tranh chấp,
Diệt
trừ được cả ba,
Là
đạt tới bất động.
Cố
nhiên hạnh phúc sẽ không có được nếu ta còn kẹt vào trong
vòng tranh chấp. Chữ tranh chấp hay hơn chữ tranh luận. Tại
vì tranh chấp có thể bằng ngôn ngữ, bằng tư tưởng, mà
cũng có thể bằng hành động, còn tranh luận thì ta có thể
hiểu nó chỉ thuộc phạm vi ngôn từ mà thôi.
Trong
những bài kệ này, ta thấy Đức Thế Tôn chỉ giáo hóa trong
phạm vi hạnh phúc, tại vì Kinh Tam Di Đề là một kinh nói
về hạnh phúc chân thật. Khởi đầu Đức Thế Tôn nói về
nhận thức sai lầm, ý niệm sai lầm của ta về hạnh phúc.
Ngài nói rằng vì chưa biết được bản chất của những
đối tượng tham dục, nên ta mới nhận lầm đó là hạnh
phúc đích thực. Nếu quán chiếu và thấy được bản chất
đích thực của chúng, thì sẽ thấy rằng đó chỉ là những
tư tưởng kéo ta đi vào những nẻo đường tăm tối, luân
hồi, khổ đau mà thôi. Thấy được như vậy thì không có
cái vọng tưởng nào, không có một vị thiên giả nào có
thể lôi kéo ta đi theo cái ý niệm hạnh phúc giả tạo được.
Sau đó, Đức Thế Tôn dạy rằng vượt được những mặc
cảm hơn người, bằng người, thua người, thì những phiền
não như ganh tị, giận hờn v.v... sẽ tan biến, và lúc đó
mới có hạnh phúc thực sự.
BẢY
LOẠI MẠN
Chúng
ta thấy ý niệm hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân
rất là đúng. Cá nhân tức là có một cái ngã, có một cái
thực tại riêng biệt. Nếu mình đi tìm hạnh phúc cho cái
ngã riêng biệt đó, thì không bao giờ có thể tìm được.
Sự an lạc của những người chung quanh phải là sự an lạc
của mình thì sự an lạc đó mới là an lạc thật sự. Sự
sống là một, không thể chia năm xẻ bảy ra thành từng mảnh
vụn, để từng mảnh điểm tìm hạnh phúc riêng. Muốn rõ
hơn ta phải đi sâu vào giáo lý Bụt dạy về mạn. Trong luận
Đại Tì Bà Sa (Mhàvibhasa) của thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ
cũng như trong luận Câu Xá (Abhidharma0koha-shastra) ta thấy có
ý niệm về bảy mặc cảm đó vì khi dùng danh từ Phật học
mà không biết rõ ý nghĩa đích thực của danh từ thì ta dùng
sai. Ví dụ khi nói rằng "Anh chàng đó ngã mạn quá", ta có
ý nói rằng anh đó tự cho mình là hơn người. Thật ra cái
chữ "ngã mạn" nó không chỉ có nghĩa "cho mình hơn người"
mà thôi. Cho mình thua người cũng là ngã mạn, mà cho mình
bằng người cũng là ngã mạn! Tiếng Phạn "Mạn" là Mana.
Có bảy loại Mana.
Thứ
nhất là Mạn (Mana). Đối với những người mà địa vị,
gia tài, danh tiếng, hay học thức thua mình mà mình có ý tưởng
rằng người đó thua mình, người đó học dở hơn mình, người
đó thuộc về hàng không quí phái bằng mình, người đó không
văn minh bằng mình, người đó tu học chậm, mình thu thập
giỏi hơn, mình thực tập lâu ngày hơn, mình thông minh hơn,
mình biết nhiều ngoại ngữ hơn v.v... cái đó gọi là mạn.
Điều này chúng ta kẻ ít người nhiều ai cũng đều bị kẹt
vào cả. Cái tư tưởng đó nó phát xuất từ cái ý niệm
mình với người kia là hai người khác nhau. Khi mình thấy
người đó là người anh em, người chị em, cùng sống với
nhau, cùng thực tập trong một tăng thân, thì tự nhiên mình
thấy người đó là mình, mình là người đó. Những cái yếu
của người đó, mình có trách nhiệm, và những cái gì mình
đã đạt tới, mình có bổn phận phải trao truyền, phải
giúp đỡ người đó để cho hai người là một, cùng đi trên
một con đường, thì lúc đó mình mới thoát được cái mạn
thứ nhất.
Thứ
hai là quá mạn (Ati-mana). Quá mạn có nghĩa là đối với những
người tương đương với mình, học cũng tương đương, tu
tập cũng tương đương, bên tám lạng, bên nửa cân mà mình
lại cho mình hơn người đó. Điều này nó cũng phát sinh từ
sự phân biệt giữa mình và người là hai thực thể khác
nhau. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc có điều khoản "Tất cả
mọi người sinh ra đều đồng đẳng", đó cũng là mạn. Lúc
mới nghe, ta thấy câu đó rất hay, nó công nhận sự bình
đẳng của tất cả mọi người. Nhưng nhìn lại cho kỹ thì
nó vẫn chưa vượt được cái phân biệt tôi với anh là hai
người khác nhau, vì vậy quá mạn cũng còn nằm trong đó.
Hiến Chương hay nhất là Hiến Chương công nhận rằng tôi
với anh là một, chúng ta không ai hơn ai, không ai bằng ai,
không ai thua ai, tại vì chúng ta là một! Đó mới là Hiến
Chương theo đúng chân tinh thần của đạo Bụt.
Mạn
thứ ba là "Mạn quá mạn" (MànàtiMàna). Đối với những người
có đức độ hơn mình, tu học hơn mình, có tài năng hơn mình,
có trí tuệ hơn mình mà mình lại cho mình hơn người đó,
thì gọi là Mạn quá mạn.
Mạn
thứ tư là Ngã mạn (àtma-màna). Đây là mạn gốc, bởi vì
nó làm phát sinh ra những nhận thức sai lầm khác. Chúng ta
nhận lầm những yếu tố, sắc, thọ, tưởng, hành, thức
là một cái ngã biệt lập với những yếu tố sắc, thọ,
tưởng, hành, thức khác. Chúng ta thường bị kẹt trong ba
ý niệm: ý niệm về ngã, ý niệm về ngã sở và ý niệm
về tương tại. Ví dụ sắc là một trong năm uẩn:
- Khi
ta nói "thân thể này là tôi", ta đã bị kẹt vào ý niệm
về ngã.
- Khi
ta nói "thân này không phải là tôi, nhưng nó thuộc về tôi",
tức là ta bị kẹt vào ý niệm dị ngã hay ngã sở.
- Trường
hợp thứ ba, khi ta nói "thân này và tôi là cái khác nhau, nhưng
trong thân có tôi và trong tôi có thân, tức là ta bị kẹt
vào ý niệm tương tại.
Cả
ba ý niệm đều thuộc về mạn thứ tư, gọi là ngã mạn.
Kinh Tam Di Đề đề cập tới ba ý niệm đó, nghĩa là đề
cập tới mạn căn bản trong bảy mạn. Trong một lần dạy
La Hầu La, Bụt có nói rất rõ: "Này La Hầu La, con nên nhớ
cái thân này không phải là ngã, thân và ngã không phải là
một. Này La Hầu La, thân và ngã cũng không phải là hai cái
khác nhau". Bao rằng "thân là ngã" đó là một sự chấp ngã.
Còn nếu bảo rằng "thân khác với ngã" thì đó cũng là một
sự chấp ngã nữa. Cả hai ý niệm đều là ngã mạn mà ta
cần vượt thoát. Tuy nhiên khi đã vượt được hai ý niệm
đó rồi, có thể ta lại rơi vào ý niệm thứ ba: "Tuy rằng
thân không phải là ta và thân cũng không thuộc về ta nhưng
trong thân có ta và trong ta có thân". Ý niệm này cũng là ngã
mạn và cũng cần được vượt thoát. Bụt lại dạy La Hầu
La: "Phải làm sao lấy đi cái ý niệm về ngã. Cái ý niệm
về dị ngã, và cái ý niệm về tương tại đối với thân".
Sau đó ta lấy đi ý niệm về ngã đối với thọ, đối với
tưởng, đối với hành và đối với thức. Tất cả năm uẩn
đều là đối tượng của phép quán chiếu về ngã. Trong năm
uẩn, không có uẩn nào là ngã, và hợp cả năm uẩn lại
cũng phải là ngã. Ngã cũng không phải là cái biệt lập với
năm uẩn. Ngã không nằm trong năm uẩn, và năm uẩn cũng không
nằm trong ngã. Phải vượt thoát ba cái phạm trù đó của
tư tưởng thì mới thoát ra khỏi ý niệm về ngã mạn.
Thứ
năm là Tăng thượng mạn (Adhimana). Khi mình chưa đạt được
sự chứng đắc mà mình tuyên bố rằng mình dã có sự chứng
đắc, đó gọi là Tăng thượng mạn. Đây là một trong bốn
giới lớn của người khát sĩ. Ví dụ chưa chứng được
quả A La Hán mà nói tôi đã chứng quả A La Hán, thì đó là
tăng thượng mạn.
Thứ
sáu là Ty mạn (Unamana). Đối với những người rất ưu tú,
siêu việt như Bụt, các vị Bồ Tát lớn như Bồ Tát Quán
Thế Âm, Đại Thế Chí v.v... mà mình có mặc cảm rằng không
bao giờ mình có thể được như họ, thì mặc cảm đó là
Ty mạn. Mặc cảm này là đối tượng giáo hóa của các Kinh
Đại thừa. Ngày xưa trong tăng đoàn, cái nhân cách của Bụt
lớn quá, cái hào quang của Bụt nó vĩ đại quá, thành thử
các đệ tử của Ngài nghĩ rằng mình chỉ đạt tới cái
địa vị giải thoát là nhiều lắm rồi, không bao giờ mình
có thể có được cái nhân cách, cái hào quang sáng chói của
Đức Thế Tôn, vì vậy mà họ không có chí nguyện tu học.
Họ nghĩ mục đích đi tu của mình là để bớt khổ, khỏi
cần trở thành một vị đạo sư lớn như Bụt. Cái nhận
thức đó, cái ý nguyện đó được căn cứ trên cái mặc
cảm, trên cái nhận thức Bụt là quá ưu việt (Superman), mình
chỉ là người thường thôi và mình đừng ôm ấp cái mộng
đó. Vì vậy Kinh Đại thừa dạy rằng tất cả mọi người
đều có khả năng tính thành Bụt, và có thể giống như Đức
Thế Tôn. Kinh Pháp Hoa, trong chương Ngũ Bách Thọ Ký ta thấy
Bụt thọ ký cho thầy Xá Lợi Phất, thầy Mục Kiền Liên,
và cho tất cả các thầy Thanh Văn. Bụt nói họ cũng có thể
thành đấng toàn giác như Đức Thế Tôn. Lúc nghe như vậy,
mọi người rất mừng rỡ, các thầy trong đại chúng có cái
gì trong tay họ liệng lên trời cái đó để biểu lộ sự
vui mừng, cái khung cảnh tưng bừng náo nhiệt chưa bao giờ
từng xảy ra trong tăng đoàn trang nghiêm của Bụt! Trước
đó họ mang đầy Ty mạn, không bao giờ nghĩ rằng mình có
thể như Bụt được!
Trong
bài kệ này Bụt đề cập tới giáo lý căn bản nhất của
đạo giải thoát, giáo lý vô ngã. Khi quán chiếu, ta thấy
sự sống là một, không có biên giới, không có sự phân biệt
giữa sự sống này và sự sống khác, lúc đó ta thoát khỏi
cái ý niệm phân biệt ta và người thì tự nhiên những phiền
não, những khổ đau của ta sẽ tan biến đi rất nhiều.
Khi
nghe tin chú Charlie bị bệnh và Charlie có thể mất trong vòng
vài tháng nữa thì ta giật mình. Người vô tâm có thể nói
Charlie bệnh chứ không phải tôi bệnh, Charlie sắp chết chứ
không phải tôi sắp chết. Cái tai nạn, cái chết nó xảy
ra cho người khác chứ không bao giờ xảy ra cho tôi. Ta thường
có một niềm tin, một điều ước ngây thơ như vậy trong
tâm của ta. Chỉ những người kia mới bị tai nạn xe hơi,
chỉ những người kia mới bị chứng nan y, mới bị chìm tàu,
mới bị rơi máy bay, còn mình thì không bao giờ bị cả. Niềm
tin đó được căn cứ trên cái ngã mạn, tức là cái ý niệm
phân biệt mình là khác, người là khác. Sự thật thì những
điều đó có thể xảy tới cho tất cả mọi người. Tại
Mỹ, thống kê, năm ngoái cho biết đã có 25,000 vụ ám sát,
tính ra mỗi giờ có ba người bị ám sát tại Mỹ! (USA Homicide,
1993). Tại Nga cũng năm ngoái, số người bị ám sát lên gần
tới 70,000 người. Dân Moscova cho biết số người Việt bị
ám sát tại thủ đô trong tháng 9 vừa qua là 39 người. Đó
là số nạn nhân có khai báo, ngoài ra còn có những người
chết mà không khai báo vì sợ bị trả thù!
Mỗi
lần có một người bị giết như vậy là mình chết, tại
vì người đó là mình. Khi nói chuyện với đồng bào ở Moscow,
tôi đã nói rằng "Mỗi lần có một người bị bắn ngã,
tức là vũ trụ sụp đổ một lần", rất đúng! Đã có lần
tôi nói rằng "Nếu chúng ta không thương nhau, nếu chúng ta
không ngồi lại với nhay để bảo vệ cho nhau, thì ngày mai
có thể sẽ tới phiên chúng ta". Cố nhiên khi nghe tin Charlie
chết, thì có sự sụp đổ trong tim của tất cả chúng ta,
tại Charlie là một người anh em đã từng ngồi nghe Pháp thoại,
đã từng đi thiền hành với chúng ta, đã từng nấu cơm,
chẻ củi với chúng ta. Trong quá khứ có lúc ta đã khó ôm
được người anh em ấy, nhưng bây giờ thì ta thấy rất rõ,
dầu muốn dầu không, Charlie cũng là người anh em của chúng
ta, và chúng ta đã ôm lấy Charlie ở trong lòng. Tôi đã nhiều
lần nói rằng khi thấy được người kia là mình thì cái
ranh giới giữa ta và người không còn nữa, và tự nhiên những
giận hờn, ganh tị, và mặc cảm tan biến hết. Ta chấp nhận
người anh em của ta một cách dễ dàng hơn. Quí vị nên thấy
rằng có một Charlie đã chết, nhưng còn nhiều Charlie đang
sống cạnh chúng ta. Trong sự thực tập, phải làm sao để
ôm cho được những "Charlie còn sống" ở chung quanh ta, ngay
bây giờ và ở đây, đừng đợi đến ngày mai mà có thể
trễ. Cách ôm hữu hiệu nhất là thấy rằng người đó là
mình, người đó cần có hạnh phúc, cần được an tĩnh, cần
có sự đùm bọc giống hệt như mình vậy. Người nào cũng
là ta, sự ra đi của bất cứ người nào cũng là một sự
sụp đổ của chính ta. Thấy được như vậy thì ta có thể
sống một cách an lạc, có nhiều hòa điệu với em, với chị,
hay là với anh của ta. Vượt thoát những mặc cảm này, những
ý niệm ranh giới về ngã này là điều căn bản của hạnh
phúc. Nếu chưa vượt thoát những ranh giới đó thì hạnh
phúc vẫn chưa là hạnh phúc đích thực. Trong Kinh Samiddhi Bụt
nói hạnh phúc một cách rất là sâu sắc:
Hạnh
phúc chân thật: Hạnh phúc chân thật chỉ có thể đạt được
bằng sự quán chiếu, nhìn sâu để thấy rằng không có ranh
giới giữa ta và người.
Cái
số phận, cái hoàn cảnh của cái gọi là ta và người là
cái số phận chung, hoàn cảnh chung. Quán chiếu sâu sắc để
thấy rằng cái ý niệm về hạnh phúc của ta cái ý niệm
giả tạo, cạn cợt, và chính vì những ý niệm đó mà chúng
ta dấn thân vào những nẻo đường tăm tối, hôn mê.
PHẢI
THÔI HY VỌNG MỚI CÓ HẠNH PHÚC CHÂN THẬT
Sau
khi nói xong bài kệ thứ ba Bụt hỏi vị thiên giả: "Con có
hiểu bài kệ hay không? Nếu không hiểu thì cứ nói". Cố
nhiên những bài kệ này ý nghĩa rất là thâm ảo, dầu vị
thiên giả có thông minh thì cũng phải nghe đi nghe lại nhiều
lần mới nắm được cái yếu chỉ của lời Bụt dạy. Vì
vậy vị thiên giả bạch Bụt: "Con chưa hiểu, bạch Đức
Thế Tôn, con chưa hiểu, bạch Đức Thiện Thệ". Đây là một
chi tiết mà ta cần phải chú ý. Đây là lần thứ ba vị thiên
giả nói "Con chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con chưa hiểu,
bạch Đức Thiện Thệ". Nếu chưa hiểu, chưa nắm được
thì phải nói là chưa hiểu, chưa nắm được để thầy dạy
lại cho mình, đừng sợ thầy chê mình chậm hiểu, hay sợ
các bạn chê mình không thông minh. Một vị thiên giả hào
quang sáng chói mà khi chưa hiểu thì nói là chưa hiểu, tại
sao mình lại không làm được điều đó?
Lúc
đó Bụt đọc thêm cho vị thiên giả một bài kệ thứ tư:
Cắt
ái và danh sắc,
Trừ
mạn hết buộc ràng,
Chấm
dứt mọi sân hận,
Nội
kết và hy cầu,
Là
giải thoát mọi cõi,
Đời
này và đời sau.
Tôi
dịch là:
Trừ
dục, vượt ba mạn,
Tâm
lặng, hết mong cầu,
Mọi
đau phiền cởi bỏ,
Đời
này và đời sau.
Ta
ghi lại hai bài chữ Hán để dễ đối chiếu. Bài kệ trong
Tạp A Hàm là:
Đoạn
ái cập đanh sắc,
Trừ
mạn vô sở hệ,
Tịch
diệc tức sân nhuế,
Ly
kết tuyệt hy vọng,
Bất
kiến ư nhân thiên,
Thử
thế cập tha thế.
Bài
trong Biệt Dịch Tạp A Hàm:
Đoạn
ái cập đanh sắc,
Diệt
trừ tam chủng mạn,
Bất
xúc ư chư dục,
Diệt
trừ ư sân nhuế,
Bạt
trừ chư độc căn,
Chư
tưởng nguyện dục tận,
Nhược
năng như thị giả,
Đắc
độ sinh tử hải.
Những
bài kệ trong Biệt Dịch Tạp A Hàm thường dài hơn, nhưng
rõ ràng hơn.
Đoạn
ái cập danh sắc, đoạn tức là cắt đứt, là vượt thoát;
ái ở đây là ái dục; danh sắc là cái ý niệm về sắc,
thọ, tưởng, hành, thức. Sắc này là thân chứ không phải
là nữ sắc, còn danh này là tâm chứ không phải là danh tiếng.
Câu này có nghĩa là vượt thoát những ý niệm về danh và
về sắc. Ta thường có ý niệm về hạnh phúc này, về sắc,
thọ, thọ, tưởng, hành, thức kia, những ý niệm đó thường
sai lầm, và chính những sai lầm đó dẫn ta đi vào những
nẻo đường tăm tối. Vì vậy "đoạn" ở đây tức là chấm
dứt, là thoát khỏi những ý niệm, những khái niệm sai lầm
mà ta đã có về hạnh phúc.
Diệt
trừ chúng tam mạn là lấy đi, đoạn trừ ba thứ mặc cảm
bằng người, hơn người, thua người. Vô sở hệ là không
bị buôc ràng vào cái gì hết. Hệ có nghĩa là buộc ràng.
Chữ hệ này có cùng nghĩa với chữ hệ lụy, tức là bị
buộc ràng, bị vướng vào. Vô sở hệ là không bị buộc
ràng vào cái gì hết, nó có nghĩa là thảnh thơi. Khi có ba
ý niệm hơn người, bằng người, thua người thì ta bị buộc
ràng vào, vì vậy mà có những phiền não. Khi trừ được
ba cái mạn đó thì ta hết bị buộc ràng, lúc đó tâm ta có
trạng thái vắng lặng, gọi là tịch diệt. Vắng lặng là
vắng lặng vẻ những xôn xao của suy tư: ta thua người đó,
ta hơn người đó, ta bằng người đó. Như vậy chữ tịch
diệt này có nghĩa là niết bàn, giải thoát. Tức sân nhuế,
tức ở đây có nghĩa là chấm dứt. Tịch diệt cũng có nghĩa
là chấm dứt. Khi chấm dứt được những cái như là sân
giận, ganh tị, tranh đua, chán nản, thì mình Ly kết. Ly tức
là xa lìa, kết là nội kết (Sam-yojana) tức là những nổi
khổ, niềm đau đã đóng thành từng khối trong lòng. Không
bị thu hút, không chạy theo, không có những mối ràng buộc
ở trong lòng thì gọi là ly kết. Mắt thấy hình sắc là tâm
có nội kết. Hình sắc ghê rợn cũng có nội kết, hình sắc
êm đềm cũng có nội kết. Sở dĩ anh chàng kia cứ đi quanh
quanh ngôi nhà đó nhiều lần mà không có ích lợi gì hết
là vì trong lòng anh ta có một nội kết, một hình ảnh tuyệt
đẹp về người yêu. Đi cho tới ngày thấy xác pháo đầy
hết ở trước sân thì mới không đi nữa. Cái sức mạnh
đẩy anh chàng đó đi vòng vòng mỗi ngày là do nội kết tạo
nên.
Tuyệt
hy vọng, tuyệt cũng có nghĩa là chấm dứt, hy vọng là sự
chạy theo, sự tìm cầu, tiếng Anh là teaching of no hope, no expectation,
no longing. Ta nên biết rằng đây là văn xưa, ngày nay ta dịch
là nguyện. Vô nguyện là một trong ba giải thoát môn. Vô nguyện
hay vô tác. Hai giải thoát môn kia là Không và Vô tướng. Vô
nguyện tức là không đặt mình trước một đối tượng của
sự tìm bắt, dầu đối tượng đó là bằng cấp, là mỹ
nhân hay là danh hoặc lợi. Không chạy theo tiếng Phạn là
Apranihita, nghĩa là không đặt mình trước một đối tượng
để chạy theo. Chừng nào mình không chạy theo một điều
gì nữa hết, thì chừng đó mình mới thực sự có hạnh phúc.
Chừng nào mình còn chạy theo một cái gì thì chừng đó mình
còn nói rằng ta chưa có hạnh phúc, những điều kiện có
trong hiện tại không đủ để ta có hạnh phúc nên ta phải
đi tìm. Hạnh phúc đích thực là khi ta không còn chạy tìm
nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa. Tôi không
cần thêm một điều kiện nào nữa, tất cả những điều
kiện sẵn có của hạnh phúc tôi đã có ở đây và bây giờ.
Chỉ khi nào đạt tới cái nhận thức như vậy thì mới có
hạnh phúc thật sự.
Trong
đạo Cơ Đốc, giáo lý về hy vọng đóng một địa vị rất
quan trọng. Hy vọng một niềm hạnh phúc trong tương lai, cho
nên người ta có nghị lực để chịu đựng cái đau khổ
trong hiện tại. Ráng lên, ráng lên! Ngày mai, ngày mốt mình
sẽ hết khổ mình sẽ về Nước Chúa! Như vậy điều căn
bản của giáo lý đó là công nhận hiện tại chỉ là khổ
đau, cho nên đi ngược lại với giáo lý của đạo Bụt: Hạnh
phúc có thể tìm được trong hiện tại. Vì vậy cho nên phải
tuyệt hy vọng, phải "ending all hopes, ending all longing". Đây
là một điều rất đặc thù của đạo Bụt. Các tôn giáo
khác thường treo cái hy vọng "được cứu chuộc trong tương
lai", trong khi đó Bụt dạy ta phải chấm dứt cái đó, phải
trở về khai thác mảnh đất hiện tại cho thật sâu sắc.
Ly kết tuyệt hy vọng! Danh từ rất mạnh, lối dùng chữ rất
là hùng vĩ!
Làm
được những điều đó thì Bất kiến ư nhân thiên, không
thấy mình trôi nổi, vào ra, bập bềnh trong cõi nhân và cõi
thiên. Thử thế cập tha thế, đời này và cả trong tương
lai mình không còn là con người đi lang thang, luân hồi nữa.
Không
phải trong cõi người ta mới bị hệ lụy, mà trong cõi trời
ta cũng bị hệ lụy luôn. Hệ lụy là vì sao? Vì sự chạy
tìm của ta, vì những phiền não như sân hận, ganh tị, thèm
khát, giận hờn trong con người của ta. Những cái đó được
chuyển hóa là nhờ ở sự thực tập diệt trừ những ý niệm,
vọng tưởng sai lầm về hạnh phúc, về thực tại, trong đó
có danh và sắc. Vượt được những ý niệm sai lầm về thực
tại, vượt được những ý niệm về ngã, giải thoát khỏi
những sợi dây ràng buộc thì tự nhiên ta đạt tới giải
thoát và không còn thấy mình quanh quẩn, luân hồi, khổ đau
trong cõi Người và cõi Trời nữa.
Bước
sang bài kệ trong Biệt Dịch tạp A Hàm, Đoạn ái cập danh
sắc, diệt trừ tam chủng mạn nghĩa là đoạn trừ ý niệm
về ái và về danh sắc, diệt trừ ba loại ngã mạn. Bất
xúc ư chư dục là không tìm tới những đối tượng mà ta
gọi lầm là hạnh phúc. Diệt trừ những tâm niệm phiền
não trong lòng như sân nhuế. Bạt trừ chư độc căn, Bạt
tức là nhổ lên, trừ diệt tận gốc. Chư độc căn là những
cái gốc làm độc ở trong con người của ta. Những độc
căn đó là tham (thèm khát), sân (giận hờn), si (u mê), ganh
tị, tranh đua. Bạt trừ chư độc căn, tức là nhổ trừ cho
sạch những gốc rễ của các chất độc ở trong con người
của ta. Chư tưởng nguyện dục tận là những cái vọng tưởng,
những cái hy cầu, những cái tham dục đã chấm dứt rồi.
Nhược năng như thị giả, nếu có thể làm được như vậy
(năng là có thể), thì Đắc độ sinh tử hải. Nghĩa là có
thể vượt qua được biển sinh tử. "Đắc độ sinh tử hải"
nó hay hơn "Bất kiến ư nhân thiên, thử thế cập tha thế".
Bất kiến ư nhân thiên, thử thế cập tha thế là một hình
tượng được lập đi lập lại nhiều lần trong nhiều kinh
khác. Vượt thoát biển sanh tử thì ta có mặt trong cõi nhân
và cõi thiên cũng không sao, chứ không phải ra khỏi cõi nhân
cõi thiên mới là vượt thoát sinh tử. Bụt và các vị Bồ
Tát cũng đã và đang có mặt trong cõi Nhân và cõi Thiên. Như
vậy bài kệ này có mục đích khai triển những điều Bụt
đã nói trong hai bài kệ trước. Không có gì mới, nhờ vậy
mà lần này vị thiên giả hiểu được. Nghe Pháp thoại cũng
cậy, đề tài nghe rồi nhưng nghe nữa, rồi nghe nữa, thì
có lúc sẽ thấm.
Đến
đây vị thiên giả mới bạch: "Con đã hiểu, bạch Đức Thế
Tôn, con đã hiểu, bạch Đức Thiện Thệ". Nghe Bụt nói kinh
này xong, vị thiên giả vui mừng vâng theo, biến đi không còn
trông thấy tăm dạng đâu nữa.
Kinh
này ta có thể đưa vào trong Nghi Thức Tụng Niệm năm 2000.
Kinh tuy ngắn, nhưng chứa đựng rất nhiều giáo nghĩa của
Bụt. Ta cũng cần in một cuốn sách mỏng để có thể chú
giải được những bài kệ ở trong Kinh này, tại vì chủ
lực của Kinh này là lời giải thích của thầy Samiddhi về
hiện pháp lạc trú (thời và phi thời), và ba bài kệ của
Đức Thế Tôn dạy (2).
(2)
Xem "Tuổi trẻ, lý tưởng và hạnh phúc, Kinh Samiddhi bình giải",
Thích Nhất Hạnh, Lá Bối, 1999.