CHƯƠNG
3 (tt)
3.4
Pháp Thoại Ngày 14 tháng 9 năm 94
Thưa
đại chúng, hôm nay là ngày 14 tháng 9 năm 1994, chúng ta đang
ở xóm Thượng, trong khóa mùa Thu.
THIÊN
ĐƯỜNG CỦA TUỔI THƠ
Mỗi
khi trời mưa ta thường có cảm giác êm dịu, mát mẻ và thường
nhớ đến những cơn mưa mùa hè ngày xưa. Tuổi thơ nào cũng
được dánh dấu bằng những cơn mưa. Khi còn là em bé, ta
cởi trần cởi truồng, đùa chơi dưới mưa. Cái thiên đường
kia đâu đã mất vì cho đến bây giờ ta vẫn còn có những
cơn mưa và vẫn có thể an trú trong thiên đường tuổi thơ
đó trong giờ phút hiện tại.
Quê
hương đích thực là quê hương không bao giờ bị đánh mất.
Nó không chỉ có mặt trong quá khứ mà còn có mặt bây giờ
và trong tương lai nữa. Hồi còn bé, khi được mẹ cho chén
cơm với dưa giá thịt kho, hoặc cá kho, ta mang bát cơm với
đôi đũa ra ngồi ở bực cửa, vừa ăn vừa nhìn những giọt
nước mưa từ mái lá rơi xuống. Ta cứ đưa mắt lên, đưa
mắt xuống nhìn những giọt nước mưa từ mái lá rơi xuống
do những những giọt nước mưa tạo ra và ăn rất ngon lành.
Ở tuổi đó, ta không lo lắng cho tương lai, không tiếc nuối
thời quá khứ, chỉ ngồi đó một mình và ăn rất chậm.
Có khi chậm quá mẹ phải gọi "Con ơi! Sao ăn một chén cơm
mà lâu quá vậy?" Đó là trường hợp ta ăn một mình. Nếu
sanh trong một gia đình có anh chị em, ta có thể ngồi quây
quần với nhau để ăn cơm. Chúng ta cũng ngước mắt xuống
nhìn những bong bóng phập phồng. Chúng ta đã rất sung sướng
vì có em, có chị, có anh cùng ngồi bên cạnh và cùng hưởng
cái thiên đường đó của tuổi thơ.
Khi
lớn lên, ta đánh mất cái thiên đường đó, tại vì phải
lo cho tương lai, phải nghĩ về quá khứ. Khi đi học ta lo về
chuyện thầy giáo hỏi bài, về việc thi cử, về quần áo,
về cái lược chải đầu, lo đôi giày cho bóng, lo chúng bạn
chê cười ... Ta mất đi cái hồn nhiên của tuổi thơ và từ
từ ta đánh mất cái thiên đường của tuổi thơ đó. Ta cũng
đánh mất cái thiên đường ngây thơ, quây quần với anh chị
em trong gia đình.
Hồi
đó, Tết đến ta không có nhiều quà, chỉ có một bộ quần
áo mới nhưng ta rất mừng và thường nôn nao chờ đón ngày
Tết. Sáng Mồng Một mặc áo quần mới vào, đi sột soạt
vì vải mới còn dính chất hồ, nghe rất oai. Đến trưa, mẹ
cắt cho một khoanh bánh tét, lấy một chiếc đũa cắm ngang,
lăn quanh một ít đường cát, đưa cho ta rồi nói "con đi ra
ngoài chơi". Có thể lúc đó mẹ đang bận công việc, không
muốn ta quanh quẩn vướng víu. Vui mừng ta mang khoanh bánh ra
sân, vừa nhẩn nha ăn vừa nhìn con mèo, con chó, nhìn bông
hoa vạn thọ, nhặt xác pháo Giao Thừa mà lòng tràn đầy hạnh
phúc. Những hạnh phúc đó còn lại trong tàng thức ta dưới
dạng những hạt giống hạnh phúc, khiến ta thường có cảm
tưởng thiên đường đó đã mất và thường đi tìm.
Người
Tây phương cũng như người Đông phương đều cùng có một
cảm nghĩ là quá khứ bao giờ cũng đẹp, quá khứ bằng vàng!
Những ngày tháng ngọc ngà ngày xưa bây giờ đã biến mất
rồi! Thủa đó đời sống đẹp hơn, mặt trời cũng rạng
rỡ hơn ngày hôm nay, đó là lời bái hát rất nổi tiếng
của Pháp, "Les feuilles mortes" (Những chiếc lá rơi). Cái cảm
nghĩ thiên đường trong quá khứ bao giờ cũng đẹp hơn thực
tế hiện tại, thường được nuôi dưỡng bằng những kỷ
niệm của tuổi thơ mà ta thường nghĩ bây giờ không còn
nữa.
Thực
tập chánh niệm là để khám phá ra rằng không có gì đã
qua và đã mất. Cái hạt giống hạnh phúc kia của thiên đường
tuổi thơ vẫn còn trong chúng ta. Nếu biết thực tập nghĩa
là biết cày bừa ruộng tâm, biết tưới tẩm và vun bón hạt
giống, ta có thể tiếp xúc và làm phát khởi niềm hạnh phúc
đó trở lại. Đây là một sự thực rất đáng mừng.
NGŨ
CĂN VÀ NGŨ LỰC
Đạo
Bụt có một dụng cụ rất mầu nhiệm để cày bừa, để
gieo hạt, để tưới tẩm, để vun bón, gọi là Chánh Niệm.
Chánh niệm là cái năng lượng mà ta có thể phát khởi trong
đời sống hàng ngày. Nói chung năng lượng có nhiều thứ:
Năng lượng để phá hoại, năng lượng để xây dựng, để
thanh lọc v.v...
Khi
bỏ củi vào lò để đốt, ta làm phát xuất một loại năng
lượng gọi là nhiệt lượng. Nhiệt lượng đó sưởi ấm
căn phòng, giúp cho ta có thêm hạnh phúc. Đó là một loại
năng lượng mà mùa đông ta rất cần đến. Trong con người
cũng vậy, ta cần phải có sức nóng thì mới sống được.
Vì vậy ta phải ăn cơm. Ăn cơm là đưa những nguyên liệu
vào trong cơ thể để các tế bào tạo nên một loại năng
lượng gọi là thân nhiệt. Sức nóng chữ Hán là "noãn". Khi
giận trong người ta phát ra một loại năng lượng gọi là
"giận", và cái năng lượng đó cũng làm cho ta nóng, nhưng
nóng khó chịu hơn là cái nóng của lò sưởi mùa đông. Năng
lượng giận làm cho cơ thể ta bốc cháy, đau khổ, và ta vung
vẫy niềm đau nỗi khổ của ta lên những người và vật
chung quanh.
Nghi
ngờ cũng là loại một năng lượng. Khi tưới tẩm hạt giống
nghi ngờ trong ta nó phát sinh ra một năng lượng làm ta uể
oải, mất hết sức sống, nhìn gì cũng thấy không thấy có
ý nghĩa! Năng lượng đó là loại năng lượng tiêu cực, có
tính cách phá hoại. Tương tự như thế, năng lượng giận
cũng chứa rất nhiều tiêu cực, và sức phá hoại của nó
cũng rất trầm trọng.
Hiện
nay ta có những trung tâm sản xuất năng lượng để thắp
đèn, để chạy máy. Các trung tâm này có thể dùng những
loại nhiên liệu như thác nước, dầu xăng, than đá v.v...
Họ cũng có thể dùng nhiên liêu nguyên tử Uranium để làm
ra năng lượng hùng hậu hơn.
Đạo
Bụt dạy về "Ngũ căn và ngũ lực". Ngũ căn là năm địa
điểm để phát sinh ra năm năng lượng. Ngũ lực là năm nguồn
năng lượng phát sinh từ năm địa điểm đó. Ngũ căn có
thể ví với năm nhà máy phát sinh ra năng lượng. Căn tức
là gốc, như trong các danh từ căn bản, căn cứ v. v... Hình
ảnh mà ta ví với hình ảnh của một nhà máy phát điện.
Nhà
máy điện đầu tiên trong đạo Bụt là Tín. Tín là niềm
tin. Nếu có niềm tin thì tự nhiên ta có rất nhiều năng lượng.
Khi có một đối tượng tốt để tin tưởng thì tự nhiên
ta có một nguồn năng lượng tích cực. Ba đối tượng để
tin của ta là Chân (một cái gì là Thật), Thiện (một cái
gì Lành) và Mỹ (một cái gì Đẹp). Thật có nghĩa là không
phải giả, vì đạo đức có khi là giả! Ban đầu ta có thể
tin vào đạo đức giả, nhưng sau một thời gian cái thần
tượng đó nó đổ, nó rớt xuống và lúc đó niềm tin trong
ta tan biến. Lâm vào tình trạng này là vì ta đã nhận giả
làm chân, nhận ác làm thiện, nhận ố làm mỹ. Tất cả vì
ta vô minh! Khi niềm tin không được thắp sáng bởi trí tuệ
thì nó dễ bị tan vỡ, và từ chỗ tin tưởng, ta có thể
lâm vào trạng thái nghi ngờ. Khi năng lượng của nghi ngờ
phát sinh trong tâm thức, ta sẽ uể oải, rã rời, hết muốn
làm gì nữa! Do đó theo giáo lý đạo Bụt, mọi niềm tin phải
được làm bằng chất liệu của trí tuệ. Tin mà không quán
chiếu thì niềm tin đó rất nguy hiểm. Bụt dạy "Tín ta mà
không hiểu ta tức là bài báng ta". Do đâu mà có niềm tin?
Do cái hiểu, vì vậy nhà máy năng lượng thứ hai trong đạo
Bụt là nhà máy Tuệ.
Tuệ
là cái thấy của hiểu. Năng lượng của niềm tin (Tín) được
chế tạo từ nguồn năng lượng của trí tuệ. Có quán chiếu
ta mới thấy rõ được sự thật. Thấy rõ được sự thật
thì ta mới có thể xa lìa những cái giả ngụy trang bằng
vỏ chân, những điều ác ngụy trang bằng vỏ thiện, và những
việc xấu xa ngụy trang bằng vỏ tốt đẹp. Lúc đó niềm
tin sẽ được gọi là Chánh Tín. Muốn có trí tuệ, tức là
muốn có cái thấy sâu sắc (deep insights), ta phải biết nhìn.
Nhìn cho sâu sắc tức là quán chiếu bằng năng lượng của
chánh niệm. Vì vậy nhà máy phát sinh năng lượng thứ ba trong
đạo Bụt là nhà máy Niệm.
Trung
tâm tu học là nơi cung cấp vật liệu để tạo ra nhà máy
Niệm. Tại các trung tâm tu học, ta được dạy nhiều phương
thức để thiết lập nhà máy biến chế một loại năng lượng
tích cực gọi là năng lượng Chánh Niệm. Đây là một thứ
năng lượng rất cần thiết để chúng ta có thể nhìn sâu
và thấy được sự thật tiềm tàng trong sự sống. Khi biết
ăn cơm trong chánh niệm, biết rửa nồi trong chánh niệm, biết
đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc và thở trong chánh niệm
thì tâm của ta hưóng về một phía, nó tập trung, không bị
tán loạn. Trạng thái đó gọi là Định (Concentration).
Định
là nhà máy năng lượng thứ tư trong đạo Bụt. Người không
có định thì không làm được gì cả. Muốn giải quyết một
vấn đề cho riêng mình hoặc cho đại chúng mà không có định
thì không đi tới kết quả nào. Khi soạn một bài giảng hay
thực tập quán chiếu để tìm sự thật của một vấn đề,
ta phải có định tâm. Vì vậy nhà máy Định rất cần thiết,
nếu không có nhà máy định thì không bao giờ ta có tuệ cả.
Nếu không tập trung thì làm sao thấy được giải pháp, tìm
được sự thật?
Khi
có bốn nguồn năng lượng kể trên, đời sống của ta là
một đời sống tinh chuyên, không uể oải, không bệ rạc.
Nếu ta uể oải, rã rời, không có niềm vui, không thiết sống
là vì ta không có năng lượng tinh chuyên. Đó là nhà máy thứ
năm trong đạo Bụt, nhà máy Tấn. Tấn tức là sự siêng năng,
sự chuyên cần.
Năm
nhà máy đó gọi là năm căn. Căn ở đây là nhà máy phát
sinh ra năng lượng. Với năm nhà máy đó, khi chúng bắt đầu
hoạt động thì chúng phát sinh ra năm loại năng lượng gọi
là năm lực. Vì vậy ngũ căn cũng là Tín, Tấn, Niệm, Định,
Tuệ mà ngũ lực cũng là Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Căn
tức là hình thức của nhà máy, những trang bị của nhà máy.
Lực là năng lực phát xuất từ sự vận hành của các nhà
máy đó. Ngày xưa khi mới học tôi thường thắc mắc: "Đã
có năm căn Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ tại sao còn phải
có năm lực nữa?" Lúc đó tôi chưa hiểu năm căn là năm nhà
máy, và năm lực là năm loại năng lượng do năm nhà máy đó
phát xuất và biến chế ra.
Nếu
trong thân và tâm ta không có đủ năng lượng, hoặc năng lượng
yếu ớt, ta phải biết xét tìm trong năm nhà máy đó, xem những
bộ phận nào bị hư hỏng để lập tức tìm cách chữa trị.
Xem xét và chữa trị thường xuyên mới đúng là đời sống
tu tập tinh chuyên.
TÍNH
TƯƠNG TỨC MẦU NHIỆM CỦA CÁC CHỦNG TỬ
Nếu
năm nhà máy chế tạo năng lượng toàn hảo thì chúng sẽ
phát sinh ra năm nguồn năng lượng rất cần thiết cho sự
tu tập và chứng ngộ của ta. Bụt dạy tâm ta có hai phần:
tàng thức và ý thức. Tàng thức là nơi chứa tất cả các
hạt giống của năng lượng. Ý thức là nơi các hạt giống
biểu hiện, đơm hoa, kết trái. Có những điều mà khi nhìn
vào vùng ý thức ta không thấy, nên ta quả quyết ta không
có điều đó. Thực ta điều đó có trong tâm ta, nó nằm trong
tàng thức dưới dạng những hạt giống, và chưa phát hiện
ra mà thôi. Nếu trang bị đầy đủ phương tiện và chăm bón
các hạt giống này, chúng sẽ phát sinh ra những năng lượng
trên vùng ý thức. Ví dụ khi quý vị nói: "Bây giờ tôi không
giận ai hết". Điều đó đúng. Bây giờ có ai đỏ mặt tía
tai, có ai sân si la mắng ai đâu mà có người giận phải không?
Thật ra thì cái giận chỉ không có mặt ở trên phần ý thức,
nhưng nó vẫn có mặt ở dưới phần tàng thức. Chúng ta ai
cũng đều đang có cái giận trong lòng, nhưng nó đang ở trong
trạng thái hạt giống và đang ngủ yên trong tàng thức của
ta. Người tu học, phải khôn ngoan, phải biết lợi dụng lúc
những hạt giống tiêu cực đang ngủ yên để lo vun bón gieo
trồng những hạt giống tích cực. "Thiền sinh ru hội kết"
là một bài thực tập ru ngủ các hạt giống tiêu cực. Nội
kết là những niềm đau, nỗi khổ, ở trong lòng ta. Nếu ru
cho chúng ngủ thì ta sẽ rảnh rang để cày bừa, gieo trồng,
tưới tẩm những hạt giống tốt. Đừng nghĩ rằng khi lấy
hết những hạt giống xấu xa rồi thì ta mới có thể tu được.
Nếu những hạt giống xấu được lấy ra hết rồi thì ta
đã là toàn mỹ, và đã là toàn mỹ thì có gì sai đâu mà
phải sửa, phải tu nữa?!
Hạt
giống của nghi ngờ cũng có trong tất cả chúng ta. Nếu ta
không tu tập Tín, Tấn, Niệm, Định, và Tuệ thì hạt giống
nghi ngờ sẽ phát sinh, nó sẽ bao trùm hết cả con người
ta, và năng lượng tiêu cực đó sẽ làm tiêu mòn đời ta.
Nó sẽ làm cho ta khổ, và những người chung quanh ta cũng sẽ
khổ theo. Khi một người có niềm tin, tin vào một điều thật
lành, thật đẹp thì tự nhiên đôi mắt người đó sáng long
lanh, và người đó có rất nhiều năng lượng. Người đó
sống có định tâm, có chánh niệm và có sự hiểu biết.
Tu
học là cày bừa mảnh đất tàng thức và gieo vào những hạt
giống tốt, tưới tẩm và gieo vào đó những hạt giống tốt,
tưới tẩm để chúng nảy mầm rồi mọc thành cây trên phần
ý thức. Khi mọc, những cây đó sẽ đơm hoa, kết trái rồi
trở thành những hạt giống lành cùng loại và rơi trở xuống
mảnh đất tâm. Duy thức học gọi đó là Dẫn tự quả, nghĩa
là một hạt giống có thể sanh ra nhiều hạt giống có cùng
một tính chất. Đây là một trong sáu tính chất của chủng
tử. Muốn một hạt giống tốt phát hiện trên phần ý thức,
làm đẹp cuộc đời rồi gieo xuống tàng thức những hạt
giống tốt cùng loại, ta cần một điều kiện gọi là Đãi
chúng duyên. Đãi là đợi, chúng là những, và duyên là điều
kiện. Đãi chúng duyên là đợi những điều kiện thuận lợi.
Hạt giống nào ở dưới tàng thức cũng cần những điều
kiện thuận lợi mới phát hiện được trên phần ý thức,
kể cả hạt giống chánh niệm. Những điều kiện thuận lợi
đó gồm có điều kiện tăng thân, điều kiện thầy, điều
kiện thiền đường, điều kiện pháp thoại, điều kiện
thực tập v.v... Khi ta trang bị đầy đủ những điều kiện
đó thì hạt giống tốt tiềm tàng dưới tàng thức sẽ có
cơ hội để nảy mầm và phát sinh, làm đẹp cho cuộc sống
của ta và gieo lại những hạt giống đồng loại vào đất
tâm, làm cho rạng rỡ môi trường sinh sống của ta. Người
nào đã học 50 bài tụng duy biểu chắc còn nhớ hai tính chất
vừa nói của chủng tử. Bụt thưòng dạy rằng tất cả chúng
sinh đều có Phật tánh, tất cả chúng sinh đều có thể trở
thành những bậc toàn giác. Kinh Pháp Hoa có câu: "Nhất thiết
chúng sinh giai hữu Phật tánh", nghĩa là chúng sinh ai cũng có
hạt giống Bụt ở trong mình. Nếu hạt giống đó có đầy
đủ điều kiện thì nó sẽ phát triển. Mục đích của tu
học là nhận thức trong ta có hạt giống Bụt và tìm đủ
mọi cách, trang bị đủ điều kiện để cho hạt giống đó
phát sinh và nảy nở. Ta có thể gọi hạt giống đó là hạt
giống của chánh niệm, hay là hạt giống của tuệ giác, hoặc
hạt giống của chánh tín. Chúng cùng là một thực tại nhưng
tùy trường hợp ta có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau.
Trong trường này ta gọi là hạt giống Niệm vì trong Niệm
có chứa Định, trong Định có chứa Tuệ, trong Tuệ có chứa
Tín, trong Tín có chứa Tấn. Vì vậy Niệm là hạt giống của
Bụt ở trong ta. Ta cũng có thể gọi hạt giống ở trong ta
là Định, Tuệ, Tín hay Tấn. Nhưng để cho dễ dàng ta lấy
Niệm làm biểu tượng cho hạt giống Bụt ở dưới tàng thức.
Bụt
là phiên âm của chữ Buddha. Danh từ Buddha do động từ Budh
mà ra. Budh có nghĩa là thức dậy, hiểu biết, thức tỉnh,
giác ngộ. Biết cái gì đang xảy ra, và biết một cách sâu
xa thì gọi là Budh. Động từ Budh có hàm chứa tính chất
của chánh niệm. Chánh niệm nghĩa là biết cái gì đang xảy
ra, thấy được cái gì đang xảy ra. Và tùy theo trình độ
thấy của mình mà cái thấy đó sâu hay cạn. Nhưng tất cả
đều là cái thấy. Bụt là người đã thấy, đã hiểu, đã
tỉnh thức hoàn toàn. Mỗi chúng ta đều có khả năng tỉnh
thức. Cái khả năng tính có thể thức dậy, có thể trở
thành một vị Bụt, gọi là Phật tánh. Tiếng Phạn là Buddhata.
Phật tánh tức là hạt giống Chánh Niệm. Ta không thể nói
ta không có hạt giống đó. Tại vì chánh niệm trước hết
được định nghĩa là ý thức được cái gì đang xảy ra
trong giây phút hiện tại. Ví dụ khi tôi nâng cái ly lên và
tôi biết tôi đang nâng cái ly lên thì lúc đó năng lượng
chánh niệm đang có mặt. Khi uống nước mà tôi biết tôi
đang uống nước thì lúc đó chánh niệm cũng đang có mặt.
Năng lượng của chánh niệm có mặt trong khi tôi nâng ly lên,
và năng lượng của chánh niệm có mặt trong khi tôi đang uống
nước. Vì vậy không thể nói ta không có Phật tánh. Tại
vì sự có mặt của chánh niệm chứng minh rằng ta có hạt
giống chánh niệm trong tàng thức của ta. Câu chào hỏi "Sen
búp xin tặng người, một vị Bụt tương lai" nó chỉ có nghĩa
là "Nhìn thấy cái hạt giống Phật tánh ở nơi anh, tôi xin
thân kính chào anh". Khi nói "một vị Bụt tương lai" là mình
nói tới cái Phật tánh đó.
CÁC
HẠT GIỐNG VÔ GIÁ TRONG TÀNG THỨC
Ta
có mặc cảm thấp kém và thường nghĩ rằng mình chỉ có
thể là chúng sinh thôi, không thể nào thành Bụt được. Đó
là vì ta không công nhận hạt giống Bụt ở trong ta.
Một
trong ba mặc cảm mà Kinh Samiddhi đề cập tới là mặc cảm
tự ti, nói rõ ra là mặc cảm cho rằng mình chỉ có thể là
chúng sinh thôi. Thật ra trong chúng ta ai cũng đều có hạt
giống Bụt, tức là có khả năng tính thành Phật. Khả năng
tính thành Phật là danh từ mới, trong quá khứ ta gọi là
Phật tính. Dầu sống trong thất niệm 24 tiếng mỗi ngày và
chánh niệm không bao giờ có mặt trên vùng ý thức, nhưng
trong tâm ta lúc nào chánh niệm cũng nằm trong tàng thức dưới
dạng một hạt giống. Cái kho tàng ta thường đi kiếm nó
nằm ngay trong tâm của ta mà ta không hay! Chúng ta ai cũng nghĩ
rằng mình chỉ là người bần cùng, suốt đời đi cầu xin
một chút tình thương, một chút hiểu biết, một chút giác
ngộ của Bụt, còn chính ta thì không có gì cả. Vì vậy mà
Bụt nói Kinh Pháp Hoa để giúp ta đánh tan mặc cảm thấp
kém đó. Kinh dạy rằng trong tâm ta có đủ kho tàng của giác
ngộ, hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc, đừng tìm kiếm
đâu xa:
Hỡi
người giàu sang bậc nhất,
Tha
phương cầu thực xưa nay,
Hãy
thôi làm thân cùng tử,
Về
đây tiếp nhận gia tài.
Ngày
xưa có một vị Bồ Tát vì thấy được cái Phật tánh trong
mọi người là một sự thật nên Ngài phát một hạnh nguyện
rất lớn. Ngài thường làm một việc rất bình thường và
vì công việc đó mà Ngài thường bị người ta la rầy, xua
đuổi nhưng không bao giờ Ngài mất niềm tin. Ngài tên là
Thường Bất Khinh. Thường Bất Khinh là nghĩa là tôi không
dám khinh ai cả, tại vì tôi biết mỗi người đều có khả
năng tính thành Phật. Gặp bất cứ người nào, lớn cũng
như bé, có địa vị hay không có địa vị. Ngài đều cúi
xuống rất thấp và nói rằng "Tôi không dám khinh bạn đâu,
bạn là một vị Bụt tương lai, bạn có khả năng tính thành
Bụt". Có người nghe nói vậy rất lấy làm sung sướng, có
được niềm tin, nhưng cũng có người khi nghe họ nghĩ rằng
anh này chế nhạo mình, thành ra họ lấy đá liệng, lấy gậy
đánh đuổi Ngài. Tuy vậy Ngài không bao giờ thối chí, suốt
đời chỉ mang cái hạnh nguyện nhắc cho mọi người biết
rằng họ có một kho châu báu ở bên trong, đừng bỏ đi mà
uổng.
Một
hạt giống khác có liên hệ mật thiết với hạt giống Phật
tánh là khả năng tính yêu thương, hay khả năng thương yêu.
Lắm khi ta có cảm tưởng ta không thương được ai cả. Trong
tình trạng chán nản, rã rời đó, ta thấy mình không còn
là gì và không có một giá trị tối thiểu nào hết! Không
thương được ai là vì ta không thương được chính bản thân
của ta, do đó ta thường đi đến kết luận trong tôi không
có tình thương. Điều đó có thể đúng trong phạm vi ý thức,
nhưng đứng trong chiều sâu của tàng thức thì nó không đúng.
Vì trong ta ai cũng có hạt giống gọi là hạt giống thương
yêu, tức hạt giống từ và hạt giống bi. Bụt được làm
bằng chất liệu của tỉnh thức, của chánh niệm, nhưng Bụt
cũng được làm bằng chất liệu của thương yêu, của từ,
của bi. Chánh niệm và thương yêu là hai bề mặt của cùng
một thực tại. Hiểu biết và thương yêu cũng cùng là một
thực tại. Hễ có hiểu biết thì có thể thương yêu được,
ngược lại khi thương yêu đích thực thì lòng thương yêu
đó được làm bằng chất liệu của sự hiểu biết. Tương
tự như vậy, niềm tin mà ta gọi là Chánh Tín cũng được
làm bằng chất liệu của sự hiểu biết. Vì vậy khi nghi
ngờ cái khả năng thương yêu trong ta, ta phải nhớ lời Bụt
dạy: Trong ta ai cũng có hạt giống thương yêu cả. Mạch nước
thương yêu chưa phun lên được là vì ta chưa biết đào giếng.
Ta hãy tự đào giếng bằng những năng lượng của tinh tấn,
của chánh niệm, của chánh định, của chánh tín. Khi thấy
một người bạn tu không tự thương mình và không thương
được những người chung quanh, ta đừng nản. Ta nên nghĩ
người đó đang ở vào tình trạng khó khăn, nếu được giúp,
mai klia họ có thể tiếp xúc và tưới tẩm hạt giống thưong
yêu trong người, lúc đó hạt giống thương yêu sẽ nảy mầm,
đơm hoa và họ có thể mỉm cười. Là bạn tu, mình có bổn
phận phải quán chiếu, không phải chỉ ở trong tâm thức
của người mình mà còn phải quán chiếu nơi tâm thức người
khác nữa. Bụt dạy quán chiếu trong tự tâm mình và quán
chiếu trong tâm của người khác nghĩa là như vậy. Kinh Niệm
Xứ luôn luôn nhắc lại điều này. Nếu có vốn liếng của
hiểu biết, của thương yêu thì ta nên làm công việc giúp
bạn tu của ta tiếp xúc, vun bón, tưới tẩm hạt giống tốt
để một mai người đó có thể mỉm cười nhận ra rằng
mình cũng có khả năng thương yêu, và cái mặc cảm mình không
ra gì, mình bất lực sẽ tan biến đi.
Một
khả năng tính nữa là khả năng tính hạnh phúc (La capacité
d’être heureux), một khả năng rất quí giá trong đời sống
hàng ngày. Người có khả năng hạnh phúc thì sống trong điều
kiện nào cũng có thể có hạnh phúc, rất là mầu nhiệm.
Được sống chung với một người như vậy là ta có phước
lắm. Khi lâm vào tình trạng khó khăn, người có khả năng
hạnh phúc thường có đủ khả năng tạo ra ánh sáng cùng
niềm vui cho mình và cho người chung quanh. Nếu đi vào địa
ngục người đó sẽ làm cho địa ngục sáng lên, làm cho tiếng
cười vang lên nơi địa ngục. Những người như vậy có thật.
Bồ Tát Địa Tạng là một người chuyên đi vào những chỗ
tối tăm nhất, khổ đau nhất để làm cho ánh sáng và tiếng
cười có mặt ở những nơi đó. Nếu không tu tập phát triển
hạt giống của hạnh phúc, không dày công vun xới khả năng
tính hạnh phúc trong ta, thì làm sao ta làm được điều đó,
làm sao ta đi vào được những nơi tăm tối như vậy để
cứu giúp người? Khả năng tính hạnh phúc là một chất liệu
tạo nguồn vui cho mọi người. Nếu trong đại chúng có một
người mà trong hoàn cảnh nào cũng cười được, vui được
và cũng không mất niềm tin, thì đại chúng đó đã được
hưởng rồi, huống hồ khi trong đại chúng có được nhiều
người như vậy? Thử hỏi ta có phải là một người như
vậy hay không? Mới nhìn vào vùng ý thức, ta hơi nghi ngờ
cái khả năng của mình. Nhưng như vậy là ta đã mang cái mặc
cảm thứ ba, mặc cảm thua kém. Ta phải theo gương Bồ Tát
Địa Tạng, Bồ Tát Thường Bất Khinh, nhìn sâu vào tàng thức
và công nhận các khả năng tính của ta, công nhận ta có thể
có hạnh phúc được. Muốn dễ dàng có hạnh phúc, trong đời
sống hàng ngày ta phải tu tập và phát triển cái hỷ tính
của mình. Tiếng Phạn là Muditatà, nghĩa là khả năng trong
trường hợp nào cũng vui cười được cả. Ai trong chúng ta
mà lại không có kinh nghiệm về rửa chén? Lúc mới nghĩ đến,
ta thường có cảm tưởng rửa chén không phải là niềm vui
mà là một cực hình, một "dirty work" nói theo tiếng Anh, Nhưng
khi đã xăn hai tay áo lên và nước lạnh, nước nóng đã chảy
ra, bọt xà bông bắt đầu xuất hiện, thì ta có thể tìm
được hạnh phúc trong lúc rửa chén. Chúng ta ai cũng đã đi
qua con đường ấy rồi. Trước khi rửa chén thì thấy khác
nhưng trong khi rửa chén thì thấy thấy rửa chén đâu có khổ
như mình tưởng? Nếu có tu tập, biết thở biết mỉm cười
trong khi rửa chén, thì rửa chén có thể là giây phút tuyệt
diệu. Quý vị đã từng hái mận. Trước khi hái mận mình
có thể than "Trời, lại bắt hái mận nữa!". Nhưng khi đã
xuống tới vườn mận cùng với những người bạn của mình
trong đó có thầy Xá Lợi Phất, thì mình thấy hái mận cũng
vui quá chừng. Hái mận cũng có thể là một cơ hội, một
môi trường để tưới tẩm hạt giống hạnh phúc. Tăng chúng
Làng Mai ai cũng đều có kinh nghiệm này hết.
Tất
cả đều tùy thuộc vào cách ta tiếp xử với hoàn cảnh.
Nếu có khả năng hạnh phúc thì trong điều kiện nào ta cũng
có thể tạo dựng được hạnh phúc cho ta và cho những người
chung quanh. Ngược lại, nếu không tu tập và cứ nghĩ rằng
hoàn cảnh này không tạo được niềm vui cho ta, ta phải đi
kiếm một hoàn cảnh khác, thì ta luôn luôn làm tăng thân cùng
tử, làm thân của một cô hồn lang thang.
Vậy
thì hoàn cảnh nào là hoàn cảnh lý tưởng của ta? Thật ra
thay vì thắc mắc như vậy, ta phải tự hỏi: "Ta có khả năng
có hạnh phúc hay không?" Nếu có thì trong hoàn cảnh nào ta
cũng tạo được hạnh phúc cả. Sống tại đây ta cũng thấy
vui, ở Úc hay Mỹ cũng vậy, mà ở Việt Nam ta cũng tìm được
hạnh phúc như thường. Sống ở đâu ta cũng có hạnh phúc,
đó là nhờ trong khi tu tập ta cắm rễ được trong giây phút
hiện tại, và lấy tất cả những điều kiện trong giây phút
hiện tại làm nền tảng cho sự sống, cho niềm vui của ta.
Trời nắng ta vui, trời mưa ta cũng thấy hạnh phúc. Trời
mưa là một trong những yếu tố không thể thiếu trên quê
hương đích thực của tôi. Nếu sanh qua nước Bụt A Di Đà
mà không có trời mưa thì thôi sẽ thấy thiếu thốn vô cùng,
tôi sẽ thấy rằng cõi tịnh độ của Ngài chưa được toàn
hảo và thế nào tôi cũng năn nỉ Bụt A Di Đà cho mưa mỗi
ngày một lần, cho nắng mỗi ngày một lần, cho cõi Bụt A
Di Đà có cây chanh, cây khế, cây mận, cây trúc, cây đào
...
Tuy
nhiên, mình đâu cần phải đi đâu? Đâu cần du lịch về
tương lai hay quá khứ mới có những điều đó. Những cái
thuộc về quê hương đích thực của ta nó đang có mặt ngay
ở đây và trong giờ phút này, chỉ vì ta không có khả năng
tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc, chỉ vì ta đang
làm thân cùng tử, đang làm người hành khất, chỉ vì ta không
có khả năng an trú trong hiện tại cho nên ta chưa thấy thoải
mái đó thôi.
Vậy
thì khả năng tính thương yêu (còn gọi là "tính" như trong
"Phật tính"), khả năng tính hạnh phúc, khả năng tính hiểu
đều có trong ta dưới hình thái của những hạt giống. Tu
tập là cày bừa, tưới tẩm, vun bón, để cho những khả
năng tính đó nảy mầm, nở hoa, kết trái để sau đó những
hạt giống của hạnh phúc, của hiểu biết, của thương yêu
sẽ rào rào rơi xuống tàng thức và sẽ mọc mầm, lên canh
xanh tốt trở lại. Khi đi trong một khu vườn không được
chăm sóc, ta có thể gặp một bông hồng rất tươi đẹp,
và ta muốn hái bông hồng đó. Tuy vậy muốn hái bông hồng,
ta phải bước qua đám gai vàng! Thường thì trong khu vườn
hoang, bông hồng nở nhưng những bụi gai cũng mọc đầy. Không
thể vì gai mà ta không hái được bông hồng. Muốn hái hoa,
ta tìm cách rẽ cành gai cho đừng vướng áo, hay lấy gậy
đè nó xuống để bước tới được dễ dàng. Trong đời
sống tu tập hàng ngày cũng vậy,ta đừng nói rằng vì có
chướng ngại nên ta không thể có hạnh phúc. Thật ra là vì
trong tâm ta còn giận hờn, còn buồn, nên ta không thể hưởng
được cái hạnh phúc mà đáng lý ta được hưởng. Ta phải
biết xử lý cơn giận, nỗi buồn để đừng đánh mất đóa
hoa tươi thắm và niềm an lạc trong đời sống hàng ngày.
Chỉ cần khéo léo một chút là ta sẽ hái được bông hoa
tươi thắm cho ta,và cả cho những người chung quanh ta nữa.
Phải
biết rằng những lúc nội kết và niềm đau của ta ngủ yên,
thì đó là thời gian thuận lợi nhất cho sự tu tập để
những hạt giống tốt, những niềm vui có cơ hội đơm hoa,
kết trái, để những hạt giống của chúng rơi trở lại
trong miếng đất tâm của ta. Nếu đợi cho đến khi niềm
đau, nỗi khổ ào ào nổi lên, xâm chiếm cả vùng ý thức
của ta thì lúc đó tu tập khó hơn nhiều. Vì vậy Làng Mai
ta có bài Thiền sinh ru nội kết:
Ngủ
đi nội kết mông lung,
Để
cho hơi thở mấy tầng vào ra,
Sớm
khuya gieo hạt từ hòa,
Mai
này lòng đất nở hoa cho đời,
Ngủ
đi nội kết ta ơi,
Ngày
mai chuyển hóa cho đời thương nhau.
Đừng
lấy cớ là ta có niềm đau mà không tu tập bây giờ. Ta phải
hái đóa hoa hồng tươi thắm đó ngay ngày hôm nay.
TIẾP
XÚC VỚI HIỆN TẠI LÀ TIẾP XÚC VỚI HẠNH PHÚC
Ngày
xưa lúc Bụt sắp nhập diệt, thầy A Nan rất đau buồn. Thấy
vắng thầy A Nan nên Bụt hỏi, các thầy mới bạch cho Bụt
biết thầy A Nan đang đứng khóc ở sau một gốc cây. Bụt
liền kêu thầy A Nan đến và an ủi rằng: "Nếu chư Bụt quá
khứ có những thị giả giỏi, thì họ cũng chỉ giỏi bằng
thầy A Nan mà thôi". Thầy A Nan lo cho Bụt hết lòng. Kinh Du
Hành và Kinh Niết Bàn có ghi lại những câu Bụt khen thầy.
Tuy nhiên, trong những kinh khác, ta thấy thỉnh thoảng thầy
A Nan cũng được Bụt nhắc nhở là đừng có lo chuyện thị
giả quá mà quên những điều mầu nhiệm đang xảy ra chung
quanh mình. Dưới mắt của người thị giả thì chỉ có Thầy
thôi, còn tất cả những chuyện khác đều như không có. Như
vậy chưa phải là thị giả giỏi. Bằng chứng là Bụt thường
nhắc thầy A Nan nhìn và sống với những cái mầu nhiệm đang
xảy ra trong giây phút hiện tại. Trong kinh có rất nhiều câu
nhắc nhở của Bụt:
- Này
thầy A Nan, thầy có thấy những thửa ruộng trải dài dưới
chân đồi, những cánh đồng lúa chín vàng, trải tận chân
trời, đẹp mầu nhiệm như thế nào không?
- Đẹp
lắm, đẹp lắm, thưa Đức Thế Tôn.
Nếu
Bụt không nhắc thì thầy đâu có thấy! Rồi Bụt lại nói:
- Cái
áo Tăng Già Lê của các thầy nếu may theo kiểu của những
đám ruộng này thì chắc đẹp lắm.
- Dạ
để về con bàn với mấy sư huynh, chế cách may áo Tăng Già
Lê theo mô thức của những đám ruộng đó.
Có
lúc Bụt lại hỏi:
- Thầy
A Nan thầy có thấy núi Linh Thứu đẹp không?
- Bạch
Đức Thế Tôn đẹp lắm!
Đến
năm thầy trò an cư lần cuối ở thành phố Vaisali, Bụt nói:
- Thành
phố Vaisali đẹp quá hả thầy A Nan?
- Dạ
bạch Đức Thế Tôn đẹp lắm.
- Cái
đền này đẹp không?
- Dạ
đẹp lắm.
- Cái
đền kia cũng đẹp phải không?
- Da
bạch Đức Thế Tôn cũng đẹp lắm.
Khi
tới vùng có suối nước nóng, Bụt cũng khen và thầy A Nan
cũng nhớ những vùng có suối nước nóng là rất đẹp. Đức
Thế Tôn luôn luôn nhắc nhở như vậy vì Ngài thấy thầy
A Nan mải lo cho Bụt mà quên hái những bông hoa tươi thắm
trong đời sống hàng ngày.
Tại
Làng Mai những vị đã từng làm thị giả cho thầy, chắc
đã thấy thầy học được rất kỹ bài học này của Bụt.
Khi nào thầy thấy ngôi sao mai lấp lánh trên nền trời thì
thầy nói "Con! Con có thấy ngôi sao mai lấp lánh kia không?"
Hay "Con có thấy hoàng hôn rực rỡ hay không?" và luôn luôn
thầy nhắc như vậy. Đó là một sự thực tập. Ta phải sống
như thế nào để những hạt giống của hạnh phúc được
tưới tẩm trong ta. Khi được tiếp xúc với hạnh phúc mà
ta có khả năng tiếp nhận được hạnh phúc thì ta mới có
thể giúp được sư em, sư chị, sư anh và sau này, học trò
của ta. Cái đó gọi là "La culture de là joie", "La culture du
bonheur", tu tập hạnh phúc, tu tập niềm vui, tu tập thương
yêu.
Mình
chỉ có thể làm được những điều đó khi mình có cái năng
lượng gọi là chánh niệm. Nếu không có chánh niệm thì làm
sao thấy được núi Linh Thứu đẹp? làm sao thấy được trời
mưa là đẹp? làm sao nhận ra mưa là một phần phải có của
quê hương đích thực của ta, và làm sao thấy chính ta đang
ở trong quê hương đích thực, không cần phải đi tìm ở
đâu cả? Thở vào tôi biết là trời đang mưa, thở ra tôi
mỉm cười với mưa, thở vào tôi biết mưa là một phần
phải có của quê hương đích thực của tôi, thở ra tôi mỉm
cười với quê hương của tôi hiện đang có mặt.
Cái
thiên đường mình nghĩ rằng đã mất, ai sẽ giúp mình khôi
phục được nó? Chánh niệm! Chánh niệm có thể giúp khôi
phục lại cái quê hương mình đã đánh mất. Muốn phát ra
cái năng lượng chánh niêm đó, chúng ta cần có một bầu
không khí, một môi trường để tu tập cùng với tăng thân.
NGỒI
CHO YÊN, ĐỨNG CHO VỮNG
Chúng
ta thường có khuynh hướng muốn đi tìm hạnh phúc và phủ
nhận, chối từ cái quê hương đang có trong hiện tại vì
nghĩ rằng hiện tại chỉ là khổ đau. Ta nghĩ hạnh phúc chỉ
có thể có được ở trong tương lai và quê hương đích thực
chỉ có mặt trong quá khứ mà bây giờ thì đã mất rồi!
Cái khuynh hướng trốn chạy và chối từ đó đã trở thành
một tập khí, nên bây giờ ta không đứng yên, không ngồi
yên được nữa, ta chỉ có thể chạy thôi! Người Việt thường
nói ngồi như ngồi trên đống lửa! là vì ta đã mất cái
khả năng gồi yên, cái khả năng an tọa. Xin mời sư huynh
an tọa, nghĩa là mời anh ngồi xuống trên một đóa sen, đừng
ngồi như ngồi trên một đống lửa. Người không tu tập
không tu tập thì không có khả năng ngồi yên. An tọa có nghĩa
là ngồi yên và ngồi yên an lạc thì đó là ngồi trên một
đóa sen. Dầu ngồi trên một tảng đá, dưới một gốc cây,
hay trên một đồi cỏ, nếu ta biết an tọa thì chỗ ngồi
đó sẽ biến thành một đóa liên hoa. Ta thường vẽ Bụt
ngồi trên đóa sen là vì Bụt biết an tọa. Bụt ngồi ở
đâu cũng là ngồi trên đóa hoa sen là vì Ngài am tường nghệ
thuật an tọa.
Khi
về tới quê hương là ta đã trở về nơi ta thương yêu nhất,
thoải mái nhất, thì ta còn phải đi tìm gì nữa? Gia đình
Phật tử Việt Nam có bài hát "Kính mến Thầy", trong đó có
một câu rất ngộ:
Hôm
nay Thầy về đây,
Chúng
con xin kính chào Thầy,
Trong
giờ phút vui này,
Chúng
con biết làm gì đây?
Thương
thầy và được gặp thầy thì mình ngồi yên, an tọa với
thầy là chuyện phải làm. Cái gì mà thương mến nhất, điều
gì khiến ta cảm thấy thoải mái nhất, khi đã đạt rồi
thì ta đâu cần làm gì nữa? Tại sao gặp được người mình
thương, tới được chỗ ta coi là quê hương mà còn phải
lăng xăng "không biết làm gì đây"? Vì vậy tôi đề nghị
với các cháu sửa câu này lại là:
Trong
giờ phút vui này,
Chúng
con quyết lòng ngồi đây.
Người
Việt có nhiều câu rất hay để diễn tả những người không
có khả năng đi đứng, nằm, ngồi yên ổn. Ví như trong truyện
Kiều:
Vậy
nên những chốn thong dong,
Ở
không yên ổn, ngồi không vững vàng,
Ma
đưa lối, quỉ dẫn đàng,
Lại
tìm những chốn đoạn tràng mà đi.
Ở
những chỗ thong dong như mái chùa, như tại Làng Mai, xóm Thượng,
xóm Hạ, mà mình vẫn không an trú được, thì đúng là ta
bị ma quỉ nó xúi đi về những nẻo đường tăm tối, những
nẻo tạo nên trạng huống đau buồn đứt ruột. Những nẻo
đường đó do đâu mà có? Chính là do những tập khí năm
xưa, và tập khí đó là ma, là quỉ.
Một
câu ví von khác là "Như bắt cóc bỏ vào đĩa!" Con cóc sống
mà đạt lên cái đĩa thì nó ngồi yên được bao lâu? Nếu
ta ngồi không yên, đi không vững ngay tại những nơi đáng
lý ta phải có an lạc, thì đó là những năng lượng tiêu
cực của tập khí, những năng lượng phát sinh từ tư tưởng
ta đã đánh mất quê hương, đánh mất thiên đường, và từ
ý tưởng rằng quê hương ấy chỉ có trong quá khứ hoặc
trong tương lai. Nếu chuyên tâm và khôn khéo tu tập, ta có
thể tạo được, khôi phục lại được cái quê hương ấy
ngay bây giờ và ở đây.
ĐI
CHO THẢNH THƠI
Giới
bình dân mô tả những người không thể đi một cách thong
thả, thảnh thơi bằng những câu rất hay như "chân đi không
dính đất", "chạy như chó đạp lửa". "Đi mà chân không dính
đất là đi mà không biết mình đi, là đi như ma đi, còn chó
mà đạp phải lửa thì nó chạy cuống quít, vừa chạy vừa
kêu la, tâm thần tán loạn!
Cái
khả năng có thể tìm ra quê hương, an trú trong quê hương,
hái được bông hồng trong quê hương, nghe được tiếng mưa
trên quê hương là một hạt giống tích cực. Cái tập khí
trốn chạy, làm thân cùng tử là một loại năng lượng tiêu
cực. Nhờ tu tập chánh niệm, mỗi khi hạt giống tiêu cực
này phát hiện, ta nhận diện được nó, mỉm cười với nó
và nói "biết rồi, ta biết ngươi rồi". Ngay giây phút ta nhận
thức được cái tập khí đó, thì nó không còn làm gì được
ta nữa, tự nhiên ta an trú được liền trong chánh niệm. Có
rất nhiều kinh đề cập đến việc ma vương xuất hiện trong
thời gian Bụt ngồi dưới cội Bồ Đề, nhưng mỗi lần ma
vương xuất hiện, Bụt biết là ma vương và Ngài nói "Ta biết
ngươi là ma vương", thì ma vương vội vàng biến đi. Những
bậc tu hành thâm hậu họ có khả năng ngồi yên, ngồi yên
trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hòa Thượng Thích Quảng Đức
là một điển hình, Ngài đã ngồi yên trên tòa sen giữa đường
Phan Đình Hùng trong khi lửa bốc cháy, thiêu đốt nhục thân
của Ngài. Đó là một hình ảnh có thể dùng để cực tả
cái khả năng an trú trong hiện tại của một con người. Vì
vậy mà ta gọi Ngài là Bồ Tát Quảng Đức.
Kinh
Samiddhi dạy ta những phương pháp tu tập để tận hưởng
được nguồn hạnh phúc có ngay trong giây phút hiện tại.
Kinh cũng dạy ta đừng chạy trốn, đừng lìa bỏ quê hương
mà ta đang có để đi tìm một quê hương, một thiên đường,
một bóng dáng của hạnh phúc vốn chỉ là ảo mộng mà thôi.
Ta có thể nghiên cứu Kinh Samiddhi rất sâu để tìm được
giáo lý mầu nhiệm của Bụt tiềm tàng trong từng câu, từng
chữ trong Kinh.
BỐN
LÃNH VỰC CỦA CHÁNH NIỆM
"Niệm"
có nhiều nghĩa. Nghĩa đầu tiên là nhớ lại. Trong cách viết
chữ Hán, phần trên của chữ niệm là chữ kim, có nghĩa là
bây giờ, phần dưới là chữ tâm, tức là cái tâm của ta.
Vậy trước hết Niệm có nghĩa là cái tâm của ta ngay trong
lúc này. Một điều gì ta đã quên, bây giờ nó trở về trong
giây phút hiện tại thì gọi là nhớ. Ví dụ gặp lại một
người mà ta đã gặp cách đây 20 năm, và đã quên tên người
ấy. Tuy nhiên "cái hạt giống tên" của người đó vần còn
trong tâm ta, cho nên sau khi tìm kiếm và bươi xới tàng thức,
thì hạt giống đó nảy mầm và ta nhớ lại tên người đó.
Đó gọi là niệm, ức niệm. Nói về nhớ, ta có nhiều thứ
và nhiều cách để nhớ. Chẳng hạn ta nhớ những việc đã
qua như nhớ đến những khổ đau, những kỷ niệm vui buồn
trong quá khứ, và trong khi nhớ ta có thể đánh mất mình,
có thể chìm đắm trong những kỷ niệm khổ đau, hay hạnh
phúc trong quá khứ. Cái đó cũng là niệm, nhưng hoài niệm.
Trong giáo pháp Bụt dạy, những sự nhớ nghĩ như vậy là
tà niệm, vì ta tự đánh mất mình trong lúc nhớ, nên nó không
phải là chánh niệm.
Khi
nghĩ tới tương lai, ta lo lắng, thao thức, chìm đắm trong
tương lai thì điều đó cũng là một loại niệm, nhưng nó
được gọi là vọng niệm.
Ngay
cả trong hiện tại nếu ta bị lôi cuốn bởi những hình sắc,
những âm thanh, tâm ta không tự chủ được, không an trú được
trong cái thấy chân thật về thực tại, thì tuy thuộc hiện
tại, nhưng nó cũng không phải là chánh niệm. Ví dụ khi ăn
bánh hay cà rem, ta có hạnh phúc trong khi ăn, Nhưng nếu quên
rằng ăn những thứ đó nhiều quá, sẽ nguy hại cho thân và
tâm của ta, thì tuy đang sống trong hiện tại, nhưng ta đang
không sống trong chánh niệm, mà đang sống trong thất niệm.
Cho nên không phải khi tiếp xúc được với những gì trong
hiện tại, thì gọi là chánh niệm. Tiếp xúc mà bị lôi cuốn
bởi những cái trong hiện tại thì đó là tà niệm. Bởi chánh
niệm cho ta thấy rằng ăn cà rem nhiều như vậy thì nguy quá.
Ăn nửa ly hay một ly mà biết rằng ăn nửa ly hay một ly thì
không đến nỗi nào tức là lúc đó ta có thực tập quán
ăn uống chừng mực. Nhưng ăn tới ly thứ hai mà vẫn không
có sự soi sáng, thì rõ ràng ta đang bị cà rem nó kéo đi.
Như vậy tuy gọi đang sống trong hiện tại, nhưng kỳ thực
ta đang bị hiện tại kéo đi, ta không có tự chủ. Điều
đó gọi là thất niệm. Thất niệm là đánh mất chánh niệm.
Chánh niệm là không bị lôi cuốn và chìm đắm trong quá khứ,
không bị lôi cuốn và chìm đắm trong tương lai, cũng như
không bị lôi cuốn và chìm đắm trong hiện tại. Sống mà
có sự tỉnh thức thì mới gọi là sống trong chánh niệm.
Chánh
niệm có bốn lãnh vực: lãnh vực của thân, của thọ, của
tâm, và của pháp. Khi những gì đang xảy ra trong bốn lãnh
vực này mà ta biết được, thấy được, thì gọi là ta đang
có chánh niệm.
* Khi
biết những gì đã xảy ta torng cơ thể của ta, ví dụ khi
ngồi, ta biết ta ngồi; khi cúi xuống, biết ta cúi xuống;
khi đi biết ta đi; khi đau bụng, biết ta đau bụng; gan yếu,
biết gan ta yếu, thì những cái thấy và biết đó được
gọi là thân niệm. Quán chiếu về cơ thể và về sự vận
hành sinh lý của cơ thể thì gọi là thân hành niệm. Kinh
Thân Hành Niêm dạy rất rõ về những phép quán chiếu này.
* Khi
nhận diện được những cảm thọ của ta như vui, buồn, dễ
chịu, khó chịu, hay không vui buồn, không dễ chịu, không
khó chịu thì gọi là thọ niệm. Thọ là một trong 51 tâm
hành của ta. Trong tàng thức ta có 51 hạt giống, gọi là 51
tâm hành. Trong đó Niệm là một, Thất Niệm là hai, Thọ là
ba, Tưởng là bốn, Xúc là năm v.v... Và Thọ Thọ được liệt
kê riêng ra như một đối tượng đặc biệt của Chánh niệm
vì Thọ là một tâm hành rất quan trọng.
* Còn
50 loại tâm hành khác được liệt kê vào phạm trù thứ ba
gọi là Tâm, còn gọi là tâm hành. Khi buồn, khi vui, mà ta
biết ta đang buồn, đang vui thì cái biết đó gọi là tâm
niệm. Quán chiếu về tâm tư và về sự vận hành tâm là
gọi là tâm hành niệm.
* Lãnh
vực thứ tư là Pháp, tức là những đối tượng của tâm
hành. Có tất cả là 51 tâm hành. Mỗi tâm hành đều có đối
tượng riêng của nó, nghĩa là ta cũng có 51 pháp. Ví dụ giận
là một tâm hành. Giận có đối tượng của giận, giận ai
hay giận điều gì? Như vậy "ai" hay "điều gì" là Pháp. Niệm
cũng vậy. Niệm là nhớ. Nhớ thì phải nhớ ai hay là nhớ
cái gì. "Ai" hay "cái gì" là đối tượng của Niệm.
Ta
phải nắm cho vững những điều này. Để dễ hiểu ta dùng
hình vẽ một trái quít có năm múi. Trái quít này có thể
đem ví với năm yếu tố làm ra con người (năm uẩn). Múi
đầu là Sắc, nghĩa là thân của ta. Múi thứ hai là Thọ,
tức là những cảm thọ của ta (dễ chịu, khó chịu, và trung
tín). Múi thứ ba là Tưởng (tri giác cũng là một trong 51 tâm
hành). Múi thứ tư là hành, có nghĩa là tâm hành, tiếng Pháp
là "Formations mentales", tiếng Anh là "Mental formations", nó gồm
49 tâm hành trên tổng số 51 tâm hành. Tuy hai tâm hành kể
trên (Thọ và Tưởng) cũng thuộc về phạm trù thứ tư, nhưng
vì chúng quan trọng quá, nên Bụt liệt riêng thành một dòng
hiện tượng để quán chiếu, và 49 tâm hành còn lại thì
gom vào một mối và gọi chung là hành. Múi thứ năm là Thức,
thức ở đây là tàng thức, nó chứa đựng tất cả những
hạt giống của 51 tâm hành. Vì vậy tàng thức được ví
với nhà kho, còn ý thức được xem như phòng khách. Trong nhà
kho chúng ta chứa rất nhiều đồ đạc. Thọ, Tưởng và Hành
thường xuất hiện trong phòng khách. Khi ta buồn, vui, thương,
ghét nhớ, quên v.v... thì tất cả những tâm hành đó phát
hiện trên ý thúuc. Khi không có mặt trong phòng khách, chúng
nằm nghỉ ở tàng thức dưới dạng những hạt giống. Vì
vậy ở đây có nghĩa là tàng thức, và thọ, tưởng, hành
là nội dung của ý thức.
Thường
trong phòng khách chỉ có một người khách, nhưng đôi khi cũng
có hai, ba người tới thăm cùng lượt. Tuy vậy không khi nào
cả 51 "người khách tâm hành" cùng vào ngồi một lần trong
đó. Lý do là khi giận thường ta không thương, khi thưong thường
ta không giận, khi quên ta không nhớ, khí nhớ ta không quên.
Điều đó có nghĩa là trong khách ta thường chỉ có "một
chàng khách" thôi. Chàng có thể làm cho phòng khách vui hơn
hay tan nát hoặc ngổn ngang là tùy vào bản chất của chàng
khách đó.
Khi
một người khách dễ thương, một người khách có hạnh phúc
tới thăm thì ta có hạnh phúc, vì vậy mà ta nên tìm đủ
cách để giữ người đó lại, ta cầu cho trời mưa để người
đó đừng về, (Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách). Ngược lại
nếu lỡ mời một người khách không dễ thương vào nhà,
ta phải biết cách làm cho người đó đừng tạo ra khung cảnh
sầu đau, u ám. Một trong những phương pháp để tránh khó
khăn là ta nên tỉnh táo để mời thêm một người bạn biết
tiếp khách, "Người bạn Chánh Niệm" tới để soi sáng, vỗ
về và chăm sóc người bạn kia. Cũng như khi đứa con khóc
thì bà mẹ dù đang ở dưới bếp cũng chạy lên ẵm lấy
con. Vì vậy mỗi khi ta buồn chán, giận ghét ta phải mời
người bạn chánh niệm lên để ôm lấy cái buồn, cái giận,
cái ghét, cái chán đó mà an ủi, chuyển hóa chúng. Tu tập
nghĩa là luôn luôn mời chánh niệm lên để ý thức được
ai đang ở trong phòng khách, và phải tiếp xử như thế nào
để cho cái phòng khách của ta nó đẹp, nó vui hầu ta luôn
luôn có hạnh phúc. Cũng cùng trong mục đích đó mà ta niệm
Bụt. Niệm Bụt là gì? Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng tức
là chánh niệm! Vì biết phòng khách của ta cần có những
người khách quí như vậy nên ta niệm Bụt tức ta mời người
khách có giá trị bậc nhất vào trong phòng khách của ta. Tại
vì ta biết rằng nếu người đó ngồi lại lâu trong phòng
khách của ta thì có lợi lắm. Mỗi phút có mặt, người đó
sẽ gieo vào tàng thức của ta vô số hạt giống thương yêu,
hiểu biết. Cho nên niệm Bụt tức là mời vào phòng khách
của ta một người khách hay nhất đẹp nhất, hiền nhất,
dễ thương nhất để ta được lợi lạc.
BỐN
Ý NGHĨA CỦA NIỆM
Như
đã nói ở trên, trước hết niệm có nghĩa là nhớ. Niệm
là một trong 51 tâm hành và được gọi là "Tâm sở Niệm".
Tâm sở niệm có thể là niệm.
Kế
đến, niệm còn có nghĩa là chánh niệm, nó tương đương
với "Đức Bụt tiềm tại trong ta". Đây chính là Phật tánh
ở trong ta, và là một trong năm lực.
Nghĩa
thứ ba của niệm là khoảng thời gian ngắn nhất, như sát
na. Ví dụ trong Văn Cảnh Sách Qui Sơn có câu:
Niệm
niệm tấn tốc, nghĩa là sát na này nói theo sát na kia, thời
gian đi qua rất mau.
Chuyển
tức tức thị lai sinh, thay một hơi thở là đã đi sang đời
mới rồi,
Hà
nại yến diên không quá, vì vậy không nên chần chờ để
cho thời gian trôi qua.
Trong
mỗi niệm có thể có những cảm thọ, nhiều tri giác. Thành
ra niệm còn có nghĩa là khoảng thời gian chứa đựng những
cảm thọ, những tri giác.
Thứ
tư, niệm còn có nghĩa là tà niệm. Tà niệm tức là tri giác
sai lầm. Nghĩa này mới phát sanh, không phải có từ thời
Bụt còn tại thế. Vào đời Đường, trong khi Thiền Tông
rất hưng thịnh, có hai thầy tên là Vô Tướng và Vô Trú.
Thầy Vô Tướng ở Chùa Tịnh Chúng (Tịnh Chúng Tự), và thầy
Vô Trú ở Chùa Bảo Đường, hai thầy cực lực tuyên dương
giáo lý gọi là "Vô Niệm". Từ đó trong Thiền Môn chữ vô
niệm trở thành một danh từ rất là quan trọng. Vô niệm
tức là vô vọng niệm, nghĩa là không có vọng niệm. Vọng
có nghĩa là sai lầm. Đáng lý phải nói là vô vọng tưởng
vì vọng tưởng là tri giác sai lầm, nhưng các thầy đã dùng
chữ vô vọng niệm, cho nên đã tạo ra những lầm lẫn cho
con cháu về sau. Ví dụ có người nói rằng tu thiền cao rồi
thì không cần chánh niệm nữa, tại vì chánh niệm cũng vẫn
là niệm! Điều đó chứng tỏ người đó không biết chữ
"niệm" dùng trong Thiền học là không cùng nghĩa với chữ
"niệm" trong danh từ chánh niệm. Chánh niệm là tất cả vốn
liếng của Bụt, chánh niệm là sự tỉnh thức. Nó không phải
là khái niệm, nó không phải là vọng niệm. Không có chánh
niệm thì không có sự tỉnh thức, cho nên khi nói chánh niệm
cũng là niệm, là đã không phân biệt được sự khác nhau
giữa chánh niệm và vọng niệm.
Như
vậy ta có hai danh từ: Tưởng và Niệm. Tưởng là một tri
giác, tiếng Pháp là "concept" hay là "idée", nghĩa là cái ý
niệm của chúng ta. Có lẽ sự lầm lẫn cũng từ chỗ đó
mà ra. Ví dụ bên Nhật Bản có ngọn Núi Phú sĩ (Mount Fuji).
Núi Phú sĩ rất cao và đỉnh núi có tuyết phủ quanh năm.
Nếu chưa tới đó thì cái tự thân, cái chân như của núi
Phú sĩ ra sao ta sẽ không biết. Nếu đã tới đó rồi ta cũng
chỉ biết một phần nào về núi Phú sĩ thôi, chứ không thể
nào ta có một cái thấy, một tri giác hoàn toàn về núi Phú
sĩ được. Làng Mai cũng vậy. Nếu tới thăm Làng một ngày
ta cũng có thể có ý niệm về Làng Mai, nhưng cái ý niệm
đó không phải là Làng Mai thật sự, và nó rất khác với
thực tại của Làng Mai. Chúng ta đã từng nghe nói tới núi
Phú sĩ. Thầy Nhất Hạnh đã leo núi Phú sĩ, nhưng cái ý niệm
của Thầy khác hơn cái ý niệm về núi Phú sĩ của Sư chú
Vô Ngại. Thầy Nhất Hạnh biết rất rõ rằng, tuy thầy đã
leo lên núi Phú sĩ, nhưng cái biết về núi Phú sĩ của thầy
nó vẫn còn là một ý niệm, nó chưa phải là núi Phú sĩ
tự thân, chưa phải là chân như của núi Phú sĩ. Vì vậy
cho nên cái ý niệm, cái tri giác của ta về một thực tại,
không phải là thực tại đó. Nếu bị kẹt vào trong những
tri giác, những ý niệm đó thì ta đánh mất thực tại. Tu
học là phải vượt thoát những ý niệm. Vì vậy mới có
giáo lý vô niệm, nghĩa là phải vượt thắng hết tất cả
những ý niệm về thực tại, thì ta mới đạt tới chân như.
Cho nên Vô Niệm là giáo nghĩa Thiền Tông rất trọng yếu
từ đời Đường cho đến bây giờ. Nói tới Thiền tức là
nói tới giáo lý Vô Niệm. Trong cuốn Nẻo Vào Thiền Học
tôi cũng có nói về giáo lý Vô Niệm, mà tôi dịch là "The
non-conception way" (Con Đường Vô Niệm).
Ý
niệm của con mọt về cái bàn này nó khác với ý niệm về
cái bàn của con người. Con mọt có thể cho cái bàn này là
kho thực phẩm, nhưng đối với con người thì cái bàn này
là một nơi có thể để bình bông hay bình trà. Vì vậy, ý
niệm không phải là thực tại, nếu mình cứ khăng khăng cho
ý niệm đó là thực tại thì mình bị kẹt vào "niệm" và
mình không bao giờ có thể đạt tới cái chân như của vạn
pháp cả. Cho nên con đường của Thiền Tông là con đường
Vô Niệm, con đường diệt trừ tất cả những ý niệm trong
tâm ta. Vô niệm ở đây có nghĩa là vô vọng niệm, tại vì
cái ý niệm của mình dù có chính xác hơn cái ý niệm của
người khác, nó vẫn chứa chất một phần tính cách do tưởng
do vọng ở bên trong nó. Ví dụ ta dã nhận ra dây là sợi
dây chứ không phải là con rắn, tức là ta đã xóa bớt rất
nhiều ảo vọng ở trong tâm rồi. Tuy vậy ta vẫn còn những
si mê đối với sợi dây đó; Không biết sợi đây làm bằng
chất gì, ai để ở đó? Và ta tưởng sợi dây đó là một
thực thể độc lập đối với những hiện tượng khác. Nói
rõ ra, dầu ta cẩn thận bao nhiêu đi chăng nữa, thì trong cái
niệm, cái tri giác của ta về một thực tại vần còn những
yếu tố sai lầm. Vì vậy khảo cứu về thực tại mà căn
cứ vào ý niệm thì không bao giờ có thể đạt tới chân
như của thực tại cả, phải đi theo con đường vô niệm,
tức là con đường vượt thoát ức tưởng phân biệt. Đối
với tôi, giáo lý này tuy thâm sâu nhưng có tính cách lý thuyết,
không thực dụng lắm, và còn có thể nguy hiểm cho người
hành trì.
Như
vậy, theo định nghĩa của giáo lý này, vô niệm tức là vô
vọng niệm, chứ không có nghĩa là vô chánh niệm (vì chính
nhờ chánh niệm nên ta mới biết được điều đó là vọng
niệm). Khi một điều gì chánh mà ta biết là chánh, một cái
gì vọng mà ta biết là vọng, thì đó là chánh niệm. Tuy vậy,
trong truyền thống thiền này, hành giả thường có nhận thức
hết sức sai lầm; họ phân biệt vọng niệm và những cái
không phải là vọng niệm. Sự sai lầm bắt nguồn từ chỗ
họ cho rằng những cái không vọng niệm cũng có thể là vọng
niệm. Ví dụ khi đang ngồi thiền mà ta nghĩ tới tới hủ
tiếu thì nó là vọng niệm. Có phải vậy không? Đang ngồi
thiền, đang thở, vào, ra, sâu, chậm, tại sao lại nghĩ tới
hủ tiếu? Vậy thì nghĩ đến hủ tiếu trong lúc này là vọng
niệm. Nhưng khi ta đưa chánh niệm về và nói rằng: tôi đang
thở vào, tôi biết tôi đang nghĩ tới hủ tiếu, thì tự nhiên
cái niệm đó trở thành chánh niệm. Nghĩ tới hủ tiếu và
biết rằng mình đang nghĩ tới hủ tiếu là chánh niệm rồi.
Thành ra cái vọng, cái chân không không phải là những thực
tại khách quan, mà là những thực tại chủ quan. Nghĩ tới
hủ tiếu hay là nghĩ tới danh, tới lợi, tới sắc thì ai
cũng cho đó là vọng niệm, không ai phản đối, cãi bàn. Nhưng
sự thực là khi tới Bụt, tới Pháp, tới Tăng mà ta không
có nhận thức chính xác về Bụt, về Pháp, về Tăng thì dù
rằng ta đang nghĩ tới Bụt, đó vẫn là một vọng niệm như
thường! Ví dụ ta nghĩ đến Bụt như một vị thần linh ban
phúc giáng họa, Bụt như là một người có thể hối lộ
được, chỉ cần một ít chuối, một ít xôi, và một ít
nhang đèn là Bụt có thể tha thứ cho ta, Bụt có thể giúp
cho con ta thi đậu, thì cách tưởng niệm tới Bụt đó là
một vọng niệm, một tư tưởng sai lầm. Khi giảng Kinh Hoa
Nghiêm cũng vậy, nếu hiểu Kinh Hoa Nghiêm sai thì ta giảng
Kinh Hoa Nghiêm sai. Cho nên đừng nghĩ rằng nghĩ tới ma mới
là vọng niệm, còn nghĩ tới Bụt thì luôn luôn là chánh niệm!
Nghĩ tới thầy cũng vậy. Thầy không phải là đối tượng
chánh hay vọng, mà cái tri giác của mình về Thầy nó tạo
ra cái tính cách chánh hay vọng. Điều này tôi đã giảng trong
một khóa tu vừa rồi.
Khi
đang có vọng niệm mà ta nhận diện được nó thì tự nhiên
vọng niệm đó biến đi và chánh niệm liền có mặt. Thành
rra nếu vọng niệm không có, thì tất nhiên phải có chánh
niệm. Vì vậy những câu như "biết vọng không theo" là những
câu khuyên thừa. Khi ta biết vọng là vọng rồi thì nó tan
đi mất, đâu còn vấn đề theo hay không theo nữa!
Nguy
hiểm hơn nữa là khi mình bị kẹt vào một ý niệm mà mình
cho là "chân như", là "không", là "vô ngã", hay một ý niệm
về Bụt, về Pháp, về Tăng. Rất nhiều người trong ta đang
bị kẹt vào những ý niệm như vậy. Kinh Bảo Tích dạy rằng
khi kẹt vào "ý niệm có", ta có thể dùng "ý niệm không" để
tháo gở, nhưng khi bị kẹt vào cái "ý niệm không" thì ta
đành bó tay! Thành ta ý niệm về danh, về lợi, về sắc đã
là nguy hiểm, mà ý niệm về Chân Như, Không, Vô Ngã, về
Bụt, Pháp, Tăng, và về Sinh, Diệt, Vô Thường lại càng nguy
hiểm hơn. Tất cả những ý niệm này đều có thể có tính
chất vọng bên trong chúng. Khi nói "biết vọng không theo",
ta nghĩ "vọng" là danh, là lợi, là tài, là sắc, chứ ta không
biết rằng chân như cũng có thể là vọng, và vô ngã, Bụt,
Pháp cũng đều có thể là vọng, "vọng" là vì cái nhận thức
của ta mang theo tính chất hư vọng.
Nói
chánh niệm cũng vẫn là niệm thì thật là sai lầm. Ta phải
nhớ rằng vô niệm chỉ có nghĩa là vô vọng niệm, và nó
cũng có nghĩa là vô tưởng. Vô tưởng ở đây có nghĩa là
được tự do đối với tri giác. Vì tri giác cũng có thể
sai lầm, cho nên ta phải luôn luôn thực tập câu thần chú
"Are you sure?", "Ta có chắc tri giác của ta là chính xác hay
không?".
Vốn
liếng của người tu là cái năng lượng của chánh niệm,
một nguồn năng lượng giúp ta có mặt, tỉnh táo để thấy
được cái gì đang xảy ra để giữ được sự tự do của
ta và không bị cái đang xảy ra cuốn theo. Vì vậy, phương
pháp tu tập chánh niệm là phương pháp an toàn và cụ thể
nhất.
BA
LOẠI NĂNG LƯỢNG CỦA CHÁNH NIỆM
Trưóc
hết, năng lượng của chánh niệm giúp cho ta có mặt đích
thực bây giờ và ở đây, nhờ vậy mà ta có thể trở về
với quê hương của mình được. Chánh niệm tức là phương
tiện chuyên chở, giúp ta trở về quê hương của mình. Đã
về, đã tới, và về được tới tới được là nhờ chánh
niệm.
Năng
lượng thứ hai của chánh niệm là công nhận sự có mặt
của đối tượng. Nếu không có mặt thì làm sao ta công nhận
sự có mặt của kẻ kia được? Phải có mặt trước thì
ta mới nói được rằng tôi biết anh đang ngồi đó. Thở
vào, tôi biết là tôi có mặt ở đây, thở ra tôi biết là
anh đang ngồi đó, trước mặt tôi. Nội một hơi thở như
vậy thôi đã có thể đem lại cái khả năng tỉnh thức, hiểu
biết, thương yêu rồi. Mà thương yêu là gì? Thương yêu là
công nhận sự có mặt của con sâu, tờ lá, mặt trăng, cây
khế, hay của bà mẹ, người anh, người chị.
Nếu
không có mặt thì làm sao ta bước được bước thứ hai là
công nhận sự có mặt của kẻ kia? Cho nên khi nhìn lên mặt
trăng rằm mà nhìn bằng con mắt có năng lượng của chánh
niệm thì mình thấy được mặt trăng tròn, sáng và mát. Mà
sở dĩ mặt trăng có mặt một cách hiện thực, rõ ràng, tươi
mát, là tại vì ta có mặt. Ngược lại nếu ta đánh mất
ta trong sự lo nghĩ, giận hờn thì làm sao mặt trăng đó tươi
mát được? Có mặt đích thực mới thấy được ngôi sao
mai, và mới nói được với thị giả: "Này con, con có thấy
ngôi sao mai không?" Người học trò của mình có mặt, và ngôi
sao trên trời cũng có mặt, là nhờ mình có mặt. Cho nên khi
ta vun bón hạt giống chánh niệm, thì hạt giống chánh nhiệm
tạo ra một nguồn năng lượng để giúp ta có mặt đích thực.
Hòa
Thượng Thích Quảng Đức đã đốt lên lên ngọn lửa chánh
niệm cho toàn thế giới, để cho mọi người thấy rằng đau
thương của Việt Nam đang có mặt! Nếu không nhờ ngọn lửa
chánh niệm, có mấy ai nhận diện được cái đau thương bốc
cháy của chiến tranh Việt Nam? Chúng ta cũng vậy, nếu cái
mặt trăng tròn kia, nếu cây khế kia không có mặt là tại
vì chúng ta không đốt đuốc chánh niệm có mặt trong ta. Chúng
ta chỉ cần thở vào, thở ra, là làm cho chúng ta đích thực
có mặt, thì tự nhiên cây khế, cây chanh đó, người Sư anh,
Sư chị đó, mặt trăng ngôi sao mai đó sẽ hiện ra. Bụt dạy
cái này có là vì cái kia có, nếu ta không có mặt thì không
có gì hết. Khi chúng ta thương yêu, khi chúng ta biết trân
quí sự sống, trân quí những cái mầu nhiệm của sự sống,
là chúng ta đã có năng lượng của chánh niệm. Khi người
ta thương đang khổ đau, ta ngồi đó với tất cả sự mặt
của ta và nói rằng: "Tôi biết anh đau khổ, vì vậy cho nên
tôi đang ngồi bên anh". Như vậy, dù mình chưa làm gì hết,
mình chỉ cần có mặt thôi, thì cái đau khổ của người
kia đã vơi bớt đi rồi. Chỉ có chánh niệm trong một sát
na thì hai cái phép là này (mình có mặt đích thực thì cái
kia có mặt đích thực) hiển bày ra liền. "Cái kia" có thể
là hạnh phúc mà cũng có thể là khổ đau, cả hai trường
hợp đều cần sự có mặt đích thực của ta. Nếu có mặt
trước một sự mầu nhiệm thì ta làm cho sự mầu nhiệm đó
hiện rõ ra, tỏa chiếu, và mầu nhiệm hơn lên. Như mặt trăng,
như hoa anh đào, như người mình thương. Ngược lại nếu
ta không có mặt thì cái đó, người đó cũng không có mặt,
hoặc có cũng như không. Truyện Kiều có hai câu do chính Kiều
nói:
Bây
giờ rõ mặt đôi ta,
Biết
đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?
Đôi
ta là ai? là mình và mặt trăng. Khi nhìn mặt trăng tròn mầu
nhiệm đang đi trên thái không mà mình thấy được sự mầu
nhiệm đó là nhờ mình có năng lượng của chánh niệm, mình
có mặt đích thực. Có những người sống 70 năm nhưng chưa
bao giờ nhìn mặt trăng với chánh niệm cả. Cái mặt trăng
của họ luôn luôn lu mờ là vì chính họ cũng lu mờ! Cho nên
chỉ một giây phút có mặt cho đích thực và sâu sắc, là
cả vũ trụ của sự sống có mặt đích thực và sâu sắc.
Thành ra nhìn mặt trăng mà mỉm cười: "Bây giờ rõ mặt đôi
ta" là mình biết rằng trong tương lai mình sẽ không hối hận
vì mình đã thấy mặt trăng rồi, mình đã từng có mặt và
đã từng thấy mặt trăng trong cái chiều sâu thẳm của thực
tại rồi.
Bây
giờ trời đang mưa. Trời mưa cũng là một thực thể rất
mầu nhiệm, không kém gì trời nắng hay mặt trăng tròn. Trời
mưa là một phần không thể thiếu trong quê hương ta. Nếu
ta có mặt thì trời mưa sẽ có mặt, và ta sẽ tiếp xúc được
với trời mưa một cách rất sâu sắc. Nếu ta không có mặt,
thì trời mưa cũng như không mưa!
Ngày
xưa có một Thiền sư chỉ vì ngắm hoa đào, thấy được
hoa đào mà chứng ngộ. Một hôm tôi tình cờ đi xuống vườn
Mai ở Xóm Hạ trong mùa hoa mai nở (nếu quí vị ở lại được
tới đầu tháng tư thì sẽ thấy những đồi mai đầy hoa
trắng rất đẹp). Khi đi giữa những hàng mai một mình, nhìn
những bông hoa trắng nõn nà, tôi chợt hiểu tại sao vị Thiền
sư đó chỉ cần nhìn hoa đào mà chứng ngộ. Là vì khi cái
tinh lực của chánh niệm tràn đầy, hùng hậu, thì một bông
mai có thể làm hiển lộ được cả cái Pháp thân mầu nhiệm,
cũng như một cách hoa hồng, một mặt trăng tròn, và quê hương
đích thực, niết bàn của hiện tại có đó, nhưng vì ta chỉ
biết chạy, chỉ biết đi tìm cái ảo tưởng, cho nên ta không
tiếp xúc được.
Chánh
niệm là cái năng lượng giúp chúng ta ngồi xuống an ổn để
có thể tiếp xúc được với cái thực tại mầu nhiệm kia.
Ngồi thiền là để làm chuyện đó, đi thiền hành là để
làm chuyện đó, và ngồi uống trà cũng là để làm chuyện
đó mà thôi. Nếu không có vốn liếng của chánh niệm thì
những điều mà ta làm trong đời sống hàng ngày và gọi là
tu tập, chỉ là hình thức cạn cợt, chỉ là những công tác
lao động mệt nhọc mà thôi.
Khi
cái đối tượng trở nên mầu nhiệm, nó sẽ có tính cách
nuôi dưỡng, có tính cách trị liệu. Tiếp xúc được với
chúng rồi, thì đương nhiên ta sẽ được nuôi dưỡng, được
trị liệu. Đi thiền hành, nhìn cây, nhìn trời, thở khí trời,
an trú trong hiện tại, tiếp xúc với những mầu nhiệm của
sự sống là một phương pháp trị liệu thân tâm rất là
mầu nhiệm. Trị liệu cho ta và cho người quanh ta. Do đó khi
cái đối tượng mà ta tiếp xúc bằng chánh niệm là khổ
đau, thì những khổ đau đó sẽ vơi đi, vì chánh niệm là
một nguồn năng lượng có thể làm êm dịu những khổ đau.
Có mặt mà có mặt với chánh niệm là đã thương yêu, đã
làm vơi bớt niềm đau. Thương yêu ở đây có nghĩa là làm
vơi bớt niềm đau và dâng hiến hạnh phúc, tức là từ và
bi. Từ là dâng hiến hạnh phúc bằng cách giúp cho người
kia tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống.
Bi là làm vơi bớt niềm đau bằng cách đem cái năng lượng
hiểu biết để xoa dịu và chuyển hóa nỗi khổ đau của
người kia.
Năng
lượng thứ ba của chánh niệm là nhìn sâu. Nhìn sâu vào trong
lòng thực tại để làm cho cái tưởng, cái tri giác của ta
từ từ mất đi tính sai lầm của nó. Mỗi tri giác của ta
đều có chứa yếu tố sai lầm, càng thực tập nhìn sâu thì
những yếu tố sai lầm đó càng được chuyển hóa. Đó gọi
là nhìn kỹ hay quán chiếu, tiếng Anh là "deep looking", tiếng
Pháp là "le regard profond". Hồi mới viết đoản văn cho ngày
Vu Lan, tôi đặt tên là "Bông Hồng Cài Áo" và gởi về cho
một nhóm sinh viên ở Đại học Saigon. Nhưng khi in họ đổi
tên lại là "Nhìn kỹ mẹ". Ý này cũng đúng, tại vì có một
bà mẹ nhưng có thể chưa bao giờ ta nhìn kỹ mẹ cả. Bởi
vậy cho nên ta không khám phá ra cái kho tàng mầu nhiệm, ngọt
ngào của bà.
HAI
BƯỚC CỦA THIỀN TẬP
Thiền
tập có hai bước, bước đầu là chỉ, bước thứ hai là
quán. Chỉ tức là dừng lại và tập trung vào một đối tượng.
Quán là đưa mắt nhìn xâu vào để thấy rõ như nhìn kỹ
mẹ, nhìn kỹ em, nhìn kỹ cây hoa đào, nhìn kỹ mặt trăng,
nhìn kỹ con sâu, nhìn kỹ lá gan của mình. Nhìn kỹ trong bốn
phạm vi Thân, Thọ, Tâm, Pháp, gọi là Tứ niệm xứ. Khi nhìn
kỹ như vậy thì ta mới thấy và mới hiểu. Cái hiểu, cái
thấy đó cởi trói, giúp cho ta giải thoát và chuyển hóa.
Những bước thiền tập đó sẽ dẫn đến tuệ.
Tập
khí năm xưa rồi chuyển hóa,
Vườn
tâm tuệ giác nở trăm hoa.
Thành
ra những chữ Giác, Trí, Tuệ, có thể dịch bằng những danh
từ rất đơn giản như Hiểu và Thấy.
Con
người khổ đau là tại vì cái tà niệm, cái vọng niệm,
cái tri giác sai lầm của mình. Khi nhìn sâu, quán chiếu để
làm tan những vọng niệm, những sai lầm của tri giác, thì
ta có tuệ, nghĩa là giải thoát được những khổ đau của
ta. Ta giận hờn, ghen tuông và khổ đau là vì ta bị trói buộc
bởi những tri giác sai lầm của chính ta. Do công phu quán chiếu,
nhìn sâu thì ta hiểu, ta thấy và ta được cởi trói, cho nên
ta chuyển hóa được và có hạnh phúc. Tất cả những công
trình đó thực hiện được là nhờ một loại năng lượng
gọi là chánh niệm. Ngoài công việc thực tập hơi thở chánh
niệm, thực tập, đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc trong chánh
niệm, thực tập ăn cơm có chánh niệm, uống trà có chánh
niệm, thì ta đâu còn cơ hội nào để sản xuất được thứ
năng lượng quí giá gọi là chánh niệm đó? Cho nên công phu
thực tập hàng ngày rất quan trọng. Có thể ta cũng đi thiền
hành với mọi người, cũng ăn cơm yên lặng, ngồi thiền,
rửa bát, chùi phòng tắm, cầu tiêu với mọi người, nhưng
nếu trong khi người khác làm công việc đó mà phát ra tinh
lực chánh niệm tràn đầy, còn ta chỉ làm hình thức thôi
thì đó là một điều rất uổng phí. Đi thiền hành nửa
giờ có thể làm lưu xuất không biết bao nhiêu là tinh lực
của chánh niệm để nuôi dưõng, soi sáng và chuyển hóa. Nếu
chỉ đi cho có hình thức, đi là vì người khác đi, thì rất
uổng. Cũng như cùng đi qua một rừng trầm hương châu báu,
có người thu thập được rất nhiều châu báu, trong khi ta
lại về tay không! Vì vậy khi vào tu viện, chúng ta nên học
ngay những bài Thi Kệ Nhật Dụng như Uống nước, Rửa tay,
Rửa chân, Mặc áo, Đi cầu, Ngồi xuống, Đứng dậy v.v..
Tất cả mọi sinh hoạt đều phải được thực hành theo những
bài Thi Kệ trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu. Trong truyền
thống của ta, thực tập chánh niệm là điều căn bản, do
đó những điều đã được đem ra để học hỏi, thực tập,
ta phải chấp hành một cách thật nghiêm chỉnh, như vậy mới
thực sự sống trong truyền thống của Làng Mai.