9-
Quán Chân Thân Phật Vô Lượng Thọ (Phật Thân Quán)
Đức
Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: Môn tưởng này đã thành tựu,
kế lại quán thân tướng quang minh của Phật Vô Lượng Thọ.
Này A Nan! Ông nên biết thân Phật A Mi Đà rực rỡ như sắc
vàng diêm phù đàn của trăm ngàn muôn ức cung trời Dạ ma.
Phật thân cao sáu mươi sáu vạn ức na do tha hằng hà sa do
tuần. Tướng bạch hào giữa đôi mày uyển chuyển xoay về
bên hữu như năm núi Tu di. Mắt Phật xanh trắng phân minh,
rộng như nước bốn biển lớn. Các chơn lông nơi thân tuôn
ra ánh sáng như Diệu cao sơn. Viên quang của Phật to rộng
như trăm ức tam thiên đại thiên thế giới. Trong ấy có trăm
muôn ức na do tha hằng hà sa Hóa Phật, mỗi vị đều có vô
số Hóa bồ tát làm thị giả.
Vô
Lượng Thọ Như Lai có tám muôn bốn ngàn tướng, mỗi tướng
có tám muôn bốn ngàn vẻ đẹp tùy hình, và mỗi vẻ đẹp
lại có tám muôn bốn ngàn tia sáng. Những tia sáng ấy soi
khắp các cõi ở mười phương, thâu nhiếp tất cả chúng
sanh niệm Phật.
"Rực
rỡ như sắc vàng diêm phù đàn" là nói về thể sắc; "trăm
ngàn muôn ức cung trời Dạ Ma", nói về thân lượng to rộng.
Na do tha cũng gọi Na du đa, Trung Hoa dịch là Ức. Số ức có
ba hạng: mười muôn, trăm muôn, ngàn muôn, nên các cổ đức
định về số này không đồng. Thân Phật tuy cao sáu mươi
sáu vạn ức na do tha hằng hà sa do tuần, nhưng khi quán tùy
theo căn cơ, tâm lượng, mỗi chúng sanh đều thấy khác nhau.
Theo ngài Thiện Đạo,nếu kẻ nào tâm lực kém yếu, chỉ
nên thành kính chú tưởng một trong ba tướng: nhục kế, bạch
hào, hay thiên bức luân nơi chơn, sẽ lần lần được thấy
các tướng hảo khác.
Hỏi:
Nếu tu các hạnh lành hồi hướng về Tây phương, đều có
thể vãng sanh. Tại sao ánh sáng của Phật soi khắp mười
phương, lại chỉ thâu nhiếp chúng sanh niệm Phật?
Đáp:
Trong ấy có ba nghĩa. 1. Thuyết minh về thân duyên: Chúng sanh
khi khởi hạnh, thân l Phật, Phật liền thấy; miệng niệm
Phật, Phật liền nghe; ý tưởng Phật, Phật liền biết. Chúng
sanh nhớ tưởng Phật, Phật cũng ức niệm chúng sanh, kia và
đây tương quan nhau, nên gọi là "thâu nhiếp". 2. Thuyết minh
về cận duyên: Chúng sanh nguyện thấy Phật, Phật liền tùy
niệm hiện thân, có cảm tất có ứng, gọi là "thâu nhiếp".
3. Thuyết minh về tăng thượng duyên: Chúng sanh niệm hồng
danh được tiêu tội trong nhiều kiếp, khi lâm chung Phật cùng
thánh chúng đến tiếp nghinh, các tà nghiệp không thể làm
chướng ngại. Có tiếng tất có vang, đây gọi là "thâu nhiếp".
Tóm lại, vì lý cơ cảm tương quan, nên ánh sáng của Phật
mới thâu nhiếp chúng sanh niệm Phật. Cho nên các hạnh khác
dù gọi là lành, so với công đức niệm Phật vẫn kém phần
trực thiệp.
Hỏi:
Người không niệm Phật, quang minh của Phật có thâu nhiếp
chăng?
Đáp:
Nghĩa thâu nhiếp trên đây là luận về sự cơ cảm giữa
chúng sanh và Phật mà thôi. Thật ra, Phật A Mi Đà trải lòng
từ bi bình đẳng, phóng quang soi khắp mười phương, những
chúng sanh niệm Phật cùng không, đều ở trong vùng nhiếp
thủ của Phật. Vậy sự đắc ích hay vãng sanh được cùng
không là do chúng sanh chớ không thể nói quang minh của Phật
thâu nhiếp có riêng tư. Như mặt trời buông ánh sáng soi khắp
mọi nơi, nhưng kẻ mù lòa không thấy là do họ tối mắt
chớ không phải tại vầng nhật. Vì thế Kinh Lăng Nghiêm nói:
"Chư Phật mẫn niệm chúng sanh như mẹ trông nhớ con, nếu
con cứ bỏ đi, thì mẹ dù nhớ cũng không biết làm sao được!"
Những
tướng hảo, quang minh cùng hóa Phật đó vô cùng, nói không
thể xiết! Hành giả chỉ nên thành kính nhớ tưởng, khiến
cho tâm nhãn được thấy.
Thấy
được tướng này, tất thấy tất cả chư Phật mười phương.
Vì thấy chư Phật, nên gọi là niệm Phật tam muội. Tu phép
quán này gọi là quán thân tất cả chư phật. Và vì quán
thân Phật nên cũng thấy tâm Phật. Tâm Phật là tâm Đại
từ bi, dùng vô duyên từ nhiếp tất cả chúng sanh niệm Phật.
Quán như thế, khi xả báo thân sẽ vãng sanh về trước chư
Phật, được vô sanh nhẫn. Cho nên người trí phải hệ niệm
quán kỹ Phật Vô Lượng Thọ.
Muốn
quán Phật Vô Lượng Thọ, phải từ một tướng hảo mà đi
vào. Trước tiên phải quán tướng lông trắng giữa đôi mày
cho cực rõ ràng. Khi thấy được tướng bạch hào, tự nhiên
tám muôn bốn ngàn tướng tốt sẽ hiện. Và thấy được
Phật A Mi Đà, tức thấy vô lượng chư Phật ở mười phương.
Vì thấy vô lượng chư Phật, nên được chư Phật hiện tiền
thọ ký.
Đây
là môn tưởng tất cả tướng nơi sắc thân, thuộc về phép
quán thứ chín. Quán như thế gọi là chánh quán. Nếu tưởng
sai khác, là tà quán.
"Tâm
nhãn" ở đây là chỉ cho dùng ý mà duyên tưởng. Vì chư Phật
đồng một pháp thân, các tướng không ngoài bản thể mà
có, nên nói "thấy được tướng này, tức thấy tất cả
chư Phật mười phương". Các pháp đều duy tâm, thân là tướng
của tâm, nên nói: "vì quán thân Phật, nên cũng thấy tâm
Phật". Bởi Phật tướng đã không, tất cả đều duy tâm,
chỉ là một thể đại từ bi, nên gọi: "tâm Phật là tâm
đại từ bi". Vô duyên từ là đức Phật dùng tâm từ bi bình
đẳng soi khắp pháp giới, không duyên trụ nơi các tướng
có, không, cùng thời gian, không gian, mà phổ nhiếp tất cả
chúng sanh. Trạng thái này, ví như mặt trăng trong tuy in bóng
khắp muôn dòng nước lặng, song thỉ chung trăng vẫn vô tâm.
Quán lý trên đây, duy bậc trí huệ mới có thể thâm nhập,
nên nói: "người trí phải hệ niệm quán kỹ Phật Vô Lượng
Thọ".
Tướng
bạch hào gồm nhiếp các tướng, nên khi quán tướng này thì
các tướng khác đều hiện. Cứ theo chánh văn, thì đây là
quán tướng bạch hào lớn như năm núi Tu Di, chớ không phải
hào tướng của kim thân một trượng sáu, nên mới nói: "tự
nhiên tám muôn bốn ngàn tướng tốt sẽ hiện". "Thọ ký"
là trao lời ghi nhận cho đương nhơn sẽ chứng các đạo quả,
hoặc thành Phật.
10-
Quán Thân Tướng Ðức Quán Thế Âm (Quán Thế Âm Quán)
Này
A Nan, Vi Đề Hy! Khi đã thấy Phật Vô Lượng Thọ rõ ràng
rồi,
lại nên quán tưởng Bồ tát Quán Thế Âm. Vị Đại sĩ này
thân cao tám mươi muôn ức na do tha do tuần, sắc tử kim, đảnh
có nhục kế. Viên quang nơi đầu của Bồ Tát, mỗi phía đều
rộng trăm ngàn do tuần. Trong viên quang có năm trăm Hóa Phật
như Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Mỗi vị hóa Phật đều có năm
trăm Hóa Bồ Tát và vô lượng chư thiên làm thị giả. Trong
thân quang của Bồ Tát hiện tất cả sắc tướng của ngũ
đạo chúng sanh.
Bồ
Tát đầu đội thiên quang bằng chất báu Tỳ Lăng già Ma ni.
Nơi thiên quang có một vị Hóa Phật đứng, cao hai mươi lăm
do tuần. Quán Thế Âm Đại sĩ mặt như sắc vàng diêm phù
đàn, tướng bạch hào giữa đôi mi có đủ sắc thất bảo,
chiếu ra tám muôn bốn ngàn thứ quang minh. Mỗi ánh quang minh
có vô lượng vô số trăm ngàn Hóa Phật. Mỗi vị Hóa Phật
lại có vô số Hóa Bồ tát làm thị giả. Các Hóa Bồ tát
này biến hiện tự tại đầy khắp mười phương thế giới.
Cánh
tay của Bồ tát như sắc hoa sen hồng, có tám mươi ức tia
sáng nhiệm mầu dường như chuỗi anh lạc, trong ấy hiện
ra tất cả việc trang nghiêm. Bàn tay Bồ tát như năm trăm
ức sắc tạp liên hoa, nơi đầu mỗi ngón tay có tám muôn
bốn ngàn làn chỉ đẹp dường như nét vẽ của chiếc ấn.
Mỗi làn chỉ đều có tám muôn bốn ngàn sắc, mỗi sắc lại
có tám muôn bốn ngàn tia sáng nhu nhuyn soi khắp các nơi. Bồ
tát thường dùng tay báu này tiếp dẫn chúng sanh các cõi.
Nơi
lòng bàn chân của Quán Thế Âm Đại sĩ có tướng Thiên bức
luân. Khi Bồ Tát dở chân lên, từ nơi luân tướng ấy hóa
hiện ra năm trăm ức đài quang minh. Lúc để chân xuống tự
nhiên có vô số hoa kim cương ma ni tuôn rải tản mác khắp
mọi nơi.
Ngoài
ra, các tướng khác nơi thân bồ Tát đều đầy đủ và xinh
đẹp như đức Vô Lượng Thọ Thế Tôn; duy trừ nhục kế
và tướng vô kiến đảnh là không bằng Phật.
Đây
là môn tưởng sắc thân chân thật của Bồ Tát Quán Thế
Âm, thuộc về phép quán thứ mười.
Đoạn
chánh văn trên đây đã din tả chơn thân của Quán Thế Âm
Bồ Tát. Câu "năm trăm Hóa Phật như Thích Ca Mâu Ni Như Lai"
là chỉ cho chư Hóa Phật đều cao một trượng sáu và có
đủ ba mươi hai tướng như thân tướng của đức Thích Ca
Mâu Ni. Những tướng lạ nơi tay của Bồ Tát, tiêu biểu cho
năng dụng từ bi, sự hóa hiện nơi chân hiển thị về quả
pháp công đức. "Thiên bức luân" là hình tướng bánh xe có
ngàn cây căm. Câu"duy trừ nhục kế và tướng vô kiến đảnh
là không bằng Phật" hiển minh phần quả nguyện của Bồ
Tát chưa bằng Phật, nên hai tướng ấy phải kém hơn.
A Nan!
Nếu chúng sanh nào muốn quán thân tướng của Bồ Tát Quán
Thế Âm, phải nên quán tưởng đúng như vậy. Kẻ tu thành
môn quán nầy không còn gặp các tai họa, trừ sạch nghiệp
chướng và tội lỗi trong vô số kiếp sanh tử. Chúng sanh
chỉ nghe danh hiệu vị Bồ Tát ấy còn được vô lượng phước,
huống nữa là quán kỹ sắc thân? Kẻ nào muốn quán tưởng
Bồ Tát Quán Thế Âm, trước nên quán nhục kế trên đảnh,
tiếp quán đến thiên quan, bao nhiêu tướng khác cũng lần
lượt quán cho rõ ràng, như; thấy các làn chỉ trong bàn tay.
Quán
như thế, gọi là chánh quán. Nếu tưởng sai khác, là tà quán.
Đoạn
văn trên, đức Phật đã nhấn rõ lại nghi thức tu quán. Quán
Thế Âm Bồ tát có bản nguyện tìm tiếng cứu khổ, chúng
sanh nào chỉ thường xưng niệm danh hiệu cũng được trừ
tội, sanh phước, khỏi các tai nạn, huống chi là quán đến
sắc thân? Cho nên kẻ nào tu thành môn quán này, không những
hiện đời được lợi ích, mà khi lâm chung cũng chắc chắn
sẽ được sanh về Tây phương vậy.
11-
Quán Thân Tướng Ðức Ðại Thế Chí (Ðại Thế Chí Quán)
Kế
đến Bồ Tát Đại Thế Chí. Thân lượng của vị đại sĩ
nầy cũng tương đương với Bồ Tát Quán Thế Âm. Viên quang
nơi đảnh của Đại Thế Chí Bồ Tát mỗi phía đều rộng
một trăm hai mươi lăm do tuần; từ quang thể nầy ánh sáng
lại chiếu xa thêm hai trăm năm mươi do tuần nữa.
Quang
minh toàn thân của Bồ Tát ánh ra mầu sắc từ kim, chiếu
khắp các cõi ở mười phương, những chúng sanh hữu duyên
đều được trông thấy. Chúng sanh nào chỉ thấy ánh sáng
nơi một lỗ chân lông của vị bồ Tát nầy, tức thấy quang
minh trong sạch nhiệm mầu của mười phương vô lượng chư
Phật. Vì thế, vị đại sĩ này được gọi là Vô Biên Quang.
Và bởi Bồ Tát dùng ánh sáng trí huệ soi khắp tất cả chúng
sanh, khiến cho xa lìa tam đồ, được sức vô thượng, nên
lại có tên là Đại Thế Chí.
Thiên
quang của Đại Thế Chí Bồ Tát có năm trăm bảo hoa, mỗi
bảo hoa có năm trăm bảo đài. Trong mỗi bảo đài hiện rõ
tướng quốc độ tịnh diệu rộng rãi của mười phương
chư Phật. Nhục kế nơi đảnh của Bồ Tát hình như hoa bát
đầu ma. Trên nhục kế có một bảo bình đựng các thứ quang
minh, hiện Phật sự khắp mọi nơi. Ngoài ra, các tướng khác
nơi thân, cũng đồng như Quán Thế Âm Bồ Tát.
Khi
vị đại sĩ này cất chân bước đi, mười phương thế giới
thảy đều chấn động. Ngay chỗ Bồ Tát bước tự nhiên
hóa hiện năm trăm ức bảo hoa, mỗi bảo hoa trang nghiêm cao
sáng như diệu tướng ở cõi Cực Lạc. Lúc Bồ Tát ngồi
xuống, cả cõi thất bảo đồng thời rung chuyển. Giữa khoảng
từ cõi Phật Kim Quang ở phương dưới cho đến cõi Phật
Quang Minh Vương ở phương trên, có vô lượng trần số những
phân thân của Phật Vô Lượng Thọ, Quán Thế Âm và Đại
Thế Chí, đều vân tập đầy dẫy nơi hư không cõi Cực Lạc.
Tất cả phân thân của Tam thánh đều ngồi trên hoa sen din
nói pháp mầu, độ chúng sanh mê khổ.
Đây
là môn tưởng thân tướng của Đại Thế Chí Bồ Tát, thuộc
về phép quán thứ mười một. Tu môn quán này sẽ trừ được
a tăng kỳ sanh tử trong vô số kiếp, không còn ở bào thai,
thường dạo chơi nơi các quốc độ tịnh diệu của chư Phật.
Môn tưởng này thành, gọi là đã quán thấy đầy đủ sắc
thân của Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí.
Quán
như thế, gọi là chánh quán. Nếu tưởng sai khác là tà quán.
Quang
minh của Đại Thế Chí Bồ Tát thuộc ánh sáng trí huệ vô
lậu, vì thể vô lậu vẫn đồng nhau, nên nói "chỉ thấy
ánh sáng nơi một lỗ chân lông của vị Bồ Tát này, tức
thấy quang minh trong sạch nhiệm mầu của mười phương vô
lượng chư Phật". "Sức vô thượng" tức là thập lực của
Phật. "Bát đầu ma" chính là hoa sen đỏ. Khi Đại Thế Chí
Bồ Tát bước đi, tự nhiên hóa hiện ra nhiều bảo hoa, vì
thứ hoa báu ấy có nhiều kỳ trần nghiêm sức rực rỡ, nên
mới ví như tướng trang nghiêm ở cõi Cực Lạc.
Hỏi:
- Kinh Mi Đà nói: "Chúng sanh ở cõi kia không có các sự khổ,
chỉ hưởng những điều vui." Như thế, tại sao trong chánh
văn đây lại nói các phân thân tham thánh thuyết pháp độ
chúng sanh mê khổ?
Đáp:
- Hai chữ mê khổ trong đây, ý nói: cảnh giới của bậc địa
tiền không bằng bậc địa thượng, trí chứng bậc sơ địa
không bằng bậc nhị địa, chẳng phải chỉ cho sự khổ vui
như tam giới ở cõi Ta Bà. Tam thánh thuyết pháp để đưa
chư thượng thiện nhơn từ quả vị thấp lên quả vị cao,
khiến cho vô minh phần diệt, chơn trí tăng sanh, nên mới gọi
là "độ mê khổ." Bởi thánh chúng ở Cực Lạc đều lấy
vô lậu làm thể, đại bi làm dụng, tâm an trụ nơi lý chân
thường, lìa sự sanh diệt của phân đoạn, có tướng trạng
gì gọi là khổ ư?
A tăng
kỳ, Trung Hoa dịch là Vô số, hoặc Vô ương số. Không còn
ở bào thai, là không còn bị đọa vào bào thai, thường được
hóa sanh về các tịnh độ của mười phương chư Phật.
12-
Quán Thấy Mình (Tự Vãng Sanh Quán)
Khi
đã thấy việc ấy, hành giả nên từ nơi chân tâm, khởi
tưởng mình sanh về thế giới Cực Lạc ở phương tây, ngồi
kiết dà trong hoa sen. Kế tưởng hoa sen khép lại, rồi tưởng
hoa sen nở ra. Khi hoa sen nở, tưởng có năm trăm sắc quang
minh soi chiếu đến thân mình. Lại tưởng mình mở mắt ra,
thấy Phật và Bồ Tát đầy giữa hư không, những âm thanh
phát ra từ các Hóa Phật cho đến chim, nước, rừng, cây,
đều din nói pháp mầu, hợp với mười hai bộ kinh. Khi xuất
định, vẫn phải ghi nhớ đừng để quên mất.
Thấy
được tướng này, gọi là thấy Phật Vô Lượng Thọ và
thế giới Cực Lạc. Hành giả sẽ được vô số hóa thân
của Phật Vô Lượng Thọ cùng Quán Thế Âm, Đại Thế Chí
thường quang lâm đến chỗ mình.
Đây
là môn phổ quán tưởng, thuộc về phép quán thứ mười hai.
Trong
môn quán này, nếu tuần tự phân ra, có mười chi tiết:
-
Trụ
tâm nơi chân tánh của mình.
-
Khởi
tưởng sanh về Tây.
-
Tưởng
ngồi kiết dà trong hoa sen.
-
Hoa sen
khép.
-
Hoa sen
nở.
-
Bảo
quang soi đến thân.
-
Đã được
quang minh chiếu đến, tưởng mình mở mắt.
-
Khi mở
mắt ra thấy Phật, Bồ Tát cùng cảnh giới Cực Lạc.
-
Nghe pháp
mầu hợp với khế kinh.
-
Lúc xuất
định không quên mất.
Nếu
hành giả quán thành, tất có sự cảm ứng thường được
Phật và Bồ Tát đến an ủi, thuyết pháp, ấn hứa cho vãng
sanh.
13-
Quán Xen Về Phật và Bồ Tát (Tạp Tưởng Quán)
Đức
Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy:
- Nếu
kẻ nào chí tâm muốn sanh về Tây Phương, trước nên quán
thân Phật A Mi Đà cao một trượng sáu đứng trên bờ ao thất
bảo.
Như
trước đã nói, thân Phật Vô Lượng Thọ rộng lớn vô biên,
tâm lực của phàm phu khó nổi quán cho khắp được. Tuy nhiên,
nhờ đức Như Lai kia có túc nguyện lực, nên nếu chí tâm
quán tưởng tất sẽ được thành tựu. Chúng sanh chỉ tưởng
hình tượng Phật còn được vô lượng phước, huống chi
quán đầy đủ thân tướng của Như Lai? Phật A Mi Đà có
sức thần thông như ý, biến hiện tự tại khắp các cõi
ở mười phương, hoặc hiện thân lớn đầy cả hư không,
hoặc hiện thân nhỏ cao một trượng sáu, hay tám thước.
Những thân hóa hiện đều là sắc chân kim. Còn tướng viên
quang, Hóa Phật cùng hoa sen báu, như trước đã din tả.
Về
thân lượng của hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm, ở khắp tất
cả chỗ, nên quán đồng như thân của các bậc thượng thiện
nhơn. Hành giả chỉ cần phân biệt sự sai khác của tướng
đầu để biết đó là Bồ Tát Quán Thế Âm hay Đại Thế
Chí. Hai vị đại sĩ này thường phụ trợ Phật A Mi Đà,
giáo hóa tất cả chúng sanh.
Đây
là môn tạp tưởng quán, thuộc về phép quán thứ mười ba.
Trước
đức Phật đã din tả thân lượng của Tây Phương tam thánh
rộng rãi vô biên, tướng nhiệm mầu không thể kể xiết!
Nhưng vì thương xót chúng sanh ở cõi này tâm lượng phần
nhiều kém nhỏ, khó nổi quán chân thân của ba vị đại thánh,
nên đức Như Lai lại tùy cơ mà nói ra quán cảnh này. Bởi
Phật A Mi Đà thần thông tự tại, tùy nơi mà biến hiện
lớn nhỏ, nên quán thân cao một trượng sáu cũng gọi là
thấy sắc thân của Phật. Và khi quán thân Phật nhỏ, tất
phải tưởng thân của hai vị Bồ Tát thị giả cũng nhỏ
đồng như thân ba mươi hai tướng của các bậc thượng thiện
nhơn. "Phân biệt sự sai khác của tướng đầu," là nơi thiên
quan của đức Quán Thế Âm có hình Hóa Phật đứng, thiên
quan của đức Đại Thế Chí có bình báu chiếu ánh quang minh.
Nếu
quán cảnh này thành, hành giả có thể thấy sắc thân của
Tây Phương tam thánh lơn hơn tùy theo tâm lượng. Từ môn Nhật
quán đến môn Tạp tưởng Quán này đã thuyết minh xong phần
đức Thế Tôn đáp ứng lời thỉnh vấn "dạy về phép tư
duy và chánh thọ" của bà Vi Đề Hy. Có lời kể tổng tán
rằng:
-
Trước
dạy Nhật quán trừ hôn ám
-
Tưởng
nước thành băng để định tâm
-
Dưới
đất bảo tràng châu sáng rỡ
-
Trên
không thiên nhạc pháp thâm trầm.
-
Mây,
lọng, thần quang muôn ức đạo
-
Cây ngọc
hoa quỳnh sanh trái báu
-
Ao Vàng
nước đức chảy trong hoa
-
Lầu
xinh các lạ nghìn kỳ xảo
-
Hoa tòa
mầu nhiệm đẹp vô cùng
-
Bảo
trụ mành châu ánh vạn trùng
-
In bóng
mười phương nhiều Phật sự
-
Trang
nghiêm dường thể Dạ Ma cung.
-
Không
lường tướng hảo ngợi Mi Đà
-
Tay báu
Quan Âm cứu ái hà
-
Thế
Chí thần uy hay chấn động
-
Huệ
quang soi khắp cõi hằng sa.
-
Cực
Lạc sanh về tưởng thấy mình
-
Ngồi
trong hoa báu định tâm tình
-
Cánh
sen tưởng khép rồi tươi nở
-
Soi đến
trăm màu ánh tịnh minh.
-
Vì đâu
Điều Ngự động ai lân?
-
Cảnh
tướng chân thân khó vạn phần!
-
Trượng
sáu mở bày môn tiệm quán
-
Bên bờ
ao báu tưởng kim thân!
14-
Quán Sanh Về Thượng Phẩm (Thượng Phẩm Sanh Quán)
Đức
Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: "Thượng phẩm thượng sanh là
thế nào? Nếu chúng sanh muốn sanh về cõi kia, nên phát ba
thứ tâm, là tâm chí thành, tâm sâu thiết, tâm hồi hướng
phát nguyện, tất sẽ được vãng sanh. Lại có ba hạng hữu
tình được sanh về Cực Lạc: Một là hạng có lòng xót thương,
không giết hại, giữ tròn các giới hạnh. Hai là hạng đọc
tụng kinh điển Phương Đẳng đại thừa. Ba là hạng tu hành
lục niệm, hồi hướng phát nguyện sanh về An Dưỡng. Nếu
đủ các công đức như thế, từ một ngày cho đến bảy ngày,
liền được vãng sanh.
Do
kẻ ấy tinh tấn dõng mãnh, nên lúc vãng sanh Phật A Mi Đà
cùng hai Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số Hóa Phật,
trăm ngàn Thanh Văn Tỳ Kheo đại chúng, vô lượng chư thiên
và cung điện thất bảo đều hiện đến. Khi ấy Quán Thế
Âm Bồ Tát bưng đài kim cang, cùng Đại Thế Chí Bồ Tát tới
trước hành giả. Phật A Mi Đà phóng đại quang minh chiếu
đến thân người vãng sanh, rồi cùng chư Bồ Tát đồng đưa
tay tiếp dẫn. Hai vị Đại thánh Quan Thế Âm, Đại Thế Chí
lại cùng vô số Bồ Tát đồng thanh khen ngợi, khuyến tấn.
Hành giả mục kích cảnh ấy rồi, sanh tâm vui mừng khấp
khởi, tự thấy mình ngồi trên đài kim cang, theo sau Phật
và Thánh Chúng, trong khoảng khảy ngón tay, sanh về Cực Lạc.
Khi
đã sanh về cõi kia, lại thấy kim thân của Phật đầy đủ
các tướng, chư Bồ Tát sắc tướng cũng cụ túc trang nghiêm;
các ánh sáng và rừng báu đều din thuyết pháp mầu. Hành
giả nghe xong, liền ngộ vô sanh pháp nhẫn, trong giây phút
thừa sự chư Phật khắp mười phương, được thọ ký trước
chư Phật, rồi trở về bản quốc, chứng vô lượng trăm
ngàn môn Đà La Ni. Đây gọi là thượng phẩm thượng sanh.
Về
tâm chí thành, "chí" là chơn, "thành" là thật. Đây ý nói
người muốn vãng sanh, điểm cần yếu là ba nghiệp thân,
miệng, ý, trong khi tu, đều phải từ nơi tâm chân thật mà
phát ra, không nên bề ngoài hiện tướng tinh tấn hiền lành,
bên trong lại ẩn niệm lơ là giả dối. Nếu đem tâm hư ngụy
cẩu thả mà tu, thì dù ngày đêm hành trì bất tuyệt, trạng
như lửa đốt đầu, chung qui cũng là hạnh tạp độc. Lại
sự chân thật có hai, là tự lợi chân thật và lợi tha chân
thật. Tự lợi chân thật là tâm không còn mảy may tham luyến
phước báu ngũ dục cõi người cõi trời, ở đời này hoặc
đời sau, chỉ tha thiết nguyện sanh về Tây Phương. Trong khi
thân l Phật, miệng tụng niệm, ý quán tưởng, cùng tu các
hạnh lành, đều phải cung kính chí thành. Lợi tha chân thật
là thành thật khen ngợi công đức y chanh ở Cực Lạc, khuyên
người tinh tấn tu hành, thấy ai làm được việc lành nhỏ
mọn cũng sanh tâm tùy hỉ. Tâm sâu thiết, tức lòng tin hiểu
sâu. Tâm này cũng có hai:
Hành
giả phải tin hiểu sâu chắc mình là kẻ phàm phu tội chướng,
từ kiếp vô thỉ đến nay mãi trôi chìm trong vòng lục đạo,
gây nên nghiệp ác không lường.
Phải
tin sâu rằng Phật A Mi Đà có nguyện lực rộng lớn, nếu
chúng sanh nào thành tâm hệ niệm quy hướng, thì dù có bao
nhiêu tội chướng, cũng quyết định sẽ được tiếp dẫn
vãng sanh. Tâm hồi hướng phát nguyện là hành giả tu bao nhiêu
công đức lành, dù là một chút mảy may nhỏ ít, cũng đều
đem hồi hướng cầu sanh về Tây Phương, không một niệm
cầu phước báu nhơn thiên chi khác. Phải biết sự an vui nghiêm
tịnh ở Cực Lạc còn vượt hơn tam giới rất xa, và được
sanh về Cực Lạc thì bao nhiêu hạnh nguyện độ mình, độ
người đều sẽ thành tựu một cách chắc chắn.
"Lục
niệm" là: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm
Giới, niệm Thiên. Đây là sáu niệm của đại thừa, riêng
về niệm Thiên tức là nhớ giữ mười nghiệp lành, chớ
không phải niệm cầu sanh về cõi trời. Câu "nếu đủ công
đức như thế từ một ngày cho đến bảy ngày", thuyết minh
ảnh hưởng của Bồ Tát hạnh lớn lao vô cùng, chỉ một
niệm còn có thể làm Phật chủng, huống chi từ một ngày
đến bảy ngày ư? Đà la ni, Trung Hoa dịch là Tổng trì, có
nghĩa hay giữ pháp lành, ngăn pháp ác; đây là chỉ cho sự
thông đạt vô lượng pháp môn.
Thượng
phẩm trung sanh là thế nào? Có chúng sanh tuy không thọ trì
kinh Phương Đẳng, nhưng khéo hiểu nghĩa thú, đối với đệ
nhất nghĩa tâm không kinh động, tin sâu lý nhân quả, không
phỉ báng pháp đại thừa. Nếu hành giả đem công đức này
niệm Phật hồi hướng cầu sanh Cực Lạc, thì khi lâm chung
Tây Phương tam thánh cùng vô lượng đại chúng quyến thuộc
bưng đài tử kim, hiện đến trước mặt khen rằng: "Pháp
tử! Ngươi tu đại thừa, hiểu đệ nhất nghĩa, nên nay ta
đến tiếp nghinh. Liền đó đức Vô Lượng Thọ Thế Tôn
cùng với một ngàn Hóa Phật đồng thời đưa tay xuống tiếp
dẫn. Bấy giờ hành giả tự thấy mình ngồi trên đài tử
kim, chắp tay khen ngợi chư Phật, rồi trong khoảng một niệm
liền sanh về nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc.
Đài
tử kim ấy như hoa báu lớn, trải một đêm liền nở. Bấy
giờ hành giả thân sắc tử kim, dưới chơn lại có hoa sen
tha-'t bảo, được Phật và Bồ Tát đồng thời phóng quang
soi đến mình, mắt liền mở sáng. Do túc tập trước kia,
lúc đó tự nghe các âm thanh khắp nơi đều nói thuần là
pháp đệ nhất nghĩa đế rất thâm mầu. Nghe xong, liền bước
xuống kim đài l Phật và chắp tay khen ngợi đức Thế Tôn.
Trải qua bảy ngày, liền được không thối chuyển nơi quả
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, có thể tự tại bay đi
khắp mười phương thừa sự chư Phật, tu các môn tam muội.
Như thế qua một tiểu kiếp, chứng được vô sanh nhẫn và
mong chư Phật thọ ký. Đây là cảnh thượng phẩm trung sanh.
Hiểu
đệ nhất nghĩa là rõ suốt các pháp thảy đều vắng lặng;
đây là lý duyên khởi không tự tánh, vì nó tuyệt đối,
vượt hơn các pháp, nên gọi "đệ nhất." "Tâm không kinh động",
là bậc khéo hiểu nghĩa không của đại thừa, tuy nghe nói
những đạo lý: tất cả pháp đều không, sanh tử niết bàn
vẫn không, phàm thánh mê ngộ cũng không, cảnh lục đạo
của thế gian và vị tam hiền thập thánh của xuất thế nguyên
đồng thể tánh, lòng vẫn thản nhiên, không nghi trệ. "Tin
sâu lý nhân quả" là rõ biết các pháp tuy không, song nhân
quả lành dữ không mảy may sai lạc. Hiểu như thế mới gọi
là không phỉ báng pháp đại thừa.
Bậc
có tín giải đại thừa nếu chẳng nguyện về Tây Phương
thì cũng còn ở trong vòng luân chuyển, khó bảo đảm không
thối thất, nên đức Thế Tôn khuyên hồi hướng cầu sanh
Cực Lạc. Bảy ngày và một tiểu kiếp trên đây, theo lời
bình giải của các cổ đức, là ước về thời gian ở cõi
Ta Bà chớ không phải Cực Lạc. Như thế thì bảy ngày chỉ
là một khoảnh khắc ở Cực Lạc mà thôi.
Thượng
phẩm hạ sanh là thế nào? - Có chúng sanh tuy cũng tin nhân
quả, không báng đại thừa, nhưng chỉ phát tâm cầu đạo
vô thượng, rồi đem công đức ấy niệm Phật nguyện về
Cực Lạc. Hành giả ấy khi lâm chung được Phật A Mi Đà,
Quán Thế Âm, Đại Thế Chí cùng chư Bồ Tát cầm hoa sen vàng,
hóa hiện năm trăm vị Phật đến nghinh tiếp. Lúc đó năm
trăm Hóa Phật đồng thời đưa tay xuống và khen rằng: "Pháp
tử! Ngươi nay thanh tịnh, phát vô thượng đạo tâm, nên ta
đến rước ngươi."
Khi
hành giả mục kích cảnh ấy rồi, liền thấy mình ngồi nơi
hoa sen vàng, ngồi xong cánh hoa khép lại, theo sau đức Thế
Tôn sanh về ao thất bảo. Như thế trải qua một ngày đêm,
hoa sen nở ra, bảy hôm sau mới được thấy Phật. Nhưng tuy
thấy Phật, đối với các tướng hảo tâm còn chưa rõ ràng,
đợi qua hai mươi mốt ngày, mới nhận được minh bạch. Bấy
giờ người vãng sanh nghe các âm thanh đều din pháp mầu, bay
dạo mười phương cúng dường chư Phật, và được nghe pháp
thậm thâm trước các đức Thế Tôn. Trải qua ba tiểu kiếp
như thế, được bách pháp minh môn, trụ sơ hoan hỷ địa.
Đây là cảnh thượng phẩm hạ sanh.
Trên
đây là môn tưởng thượng bối vãng sanh, thuộc về phép
quán thứ mười bốn.
Câu
"tuy cũng tin nhân quả", chỉ cho lòng tin còn chưa được sâu.
Cũng bởi chưa tin sâu nhân quả khổ vui, nên lòng lành thường
thối, niệm ác hằng sanh. Nếu kẻ đã hiểu sâu sự khổ
luân hồi, thì đối với các tội nghiệp không còn tái phạm.
Và đã tin sâu cảnh vui tịnh độ tất khi phát tâm tu không
còn lui sụt biếng lười. Câu "không báng đại thừa" là nói
lòng tin tuy có gián đoạn, song đối với pháp đại thừa
không còn nghi báng; nếu quả có tâm nghi báng thì dù ngàn
Phật hiện thân, cũng không thể cứu độ. Câu "ngươi nay
thanh tịnh" chỉ cho tội chướng của hành giả đã được
tiêu trừ.
Các
điều lành tin lý nhân quả, không báng đại thừa, tuy dường
như vô công song nhờ hành giả phát tâm niệm chán khổ, ưa
cảnh giới chư Phật, muốn mau thành tựu nguyện đại bi để
cứu độ chúng hữu tình, nên mới được vãng sanh. Đây chính
là tâm vô thượng bồ đề vậy. Được Bách pháp minh môn
là thế nào? - Kinh Hoa Nghiêm nói: "Bậc Sơ địa Bồ Tát trong
khoảng sát na, chứng một trăm môn tam muội, thấy được
một trăm đức Phật, sức thần thông có thể đi qua và làm
chấn động một trăm Phật sát, ánh sáng soi khắp một trăm
Phật độ, thành tựu chắc chắn được một trăm chúng sanh,
biết quá khứ vị lai trăm ức kiếp, hay vào trăm pháp môn
và hóa thân trong trăm cõi. Lại bậc Bồ Tát này mỗi mỗi
hóa thân đều có một trăm Bồ Tát trang nghiêm làm quyến
thuộc." Sơ Hoan hỷ địa tức là Sơ Địa, vì khi Bồ Tát
chứng được ngôi này tâm rất vui mừng, nên gọi là hoan
hỷ. Có lời khen rằng:
-
Thượng
bối nguyên là bậc lợi căn,
-
Cầu
sanh cõi tịnh tuyệt tham, sân.
-
Công
tu sai khác thành ba phẩm,
-
Ngôi
vị đồng chung bậc thượng nhân.
-
Một
đến bảy ngày chuyên tịnh niệm,
-
Tăng
cùng tục khách thoát phù trần.
-
Mừng
duyên phước gặp môn mầu nhiệm!
-
Sớm
chứng chơn thường diệu pháp thân.
15-
Quán Sanh Về Trung Phẩm (Trung Phẩm Sanh Quán)
Đức
Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: Trung phẩm thượng sanh là thế
nào? Nếu chúng sanh thọ trì ngũ giới, giữ bát quan trai, hoặc
tu các giới khác, không tạo tội ngũ nghịch và các điều
lỗi lầm, rồi đem căn lành ấy hồi hướng cầu sanh về
thế giới Cực Lạc ở phương Tây. Chúng sanh đó khi lâm chung,
được Phật A Mi Đà cùng các Tỳ khưu quyến thuộc vi nhiu,
phóng kim quang soi đến mình, din thuyết các pháp khổ, không,
vô thường, vô ngã, cùng khen ngợi hạnh xuất gia thoát khổ.
Mục kích cảnh ấy, hành giả sanh tâm vui mừng, tự thấy
mình ngồi trên đài sen, vội quì gối chắp tay cúi xuống
l Phật. Lúc chưa ngước mặt lên, đã sanh về thế giới Cực
Lạc.
Sau
khi vãng sanh, vừa lúc hoa sen nở ra, hành giả nghe các âm thanh
khen ngợi pháp tứ đế, liền chứng quả A La Hán, đầy đủ
tam minh, lục thông và bát giải thoát. Đây là cảnh trung phẩm
thượng sanh.
Trên
đây là cảnh giới vãng sanh của hạng tiểu căn, nên hành
giả chỉ thấy Phật và chúng Thanh Văn, không thấy chư Bồ
Tát. A La Hán, Trung Hoa dịch là Vô sanh, vì bậc này hoặc nghiệp
đã tiêu trừ, không còn phải thọ thân sau nữa. Tam minh: Túc
mạng minh, Lậu tận minh và Thiên nhãn minh; vì đối với quá
khứ, hiện tại, vị lai đều thấu suốt, nên gọi là "minh."
Lục thông: Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Tha tâm, Túc mạng, Như ý
và Lậu tận; vì với cả sáu môn này không còn bị ủng trệ,
nên gọi là "thông." Bát giải thoát cũng gọi Bát bội xả;
là:
-
Nội
hữu sắc ngoại quán.
-
Nội
vô sắc ngoại quán.
-
Duyên
tịnh bội xả.
-
Không
xứ bội xả.
-
Thức
xứ bội xả.
-
Vô sở
hữu xứ bội xả.
-
Phi phi
tưởng xứ bội xả.
-
Diệt
thọ tưởng bội xả.
Trung
phẩm trung sanh là thế nào? Nếu chúng sanh giữ chín chắn
giới bát quan trai hoặc giới Sa Di hay giới Cu Túc trong một
ngày đêm, các oai nghi đều toàn vẹn, đem công đức huân
tu giới hương đó hồi hướng cầu sanh Cực Lạc. Khi lâm
chung, hành giả này thấy Phật A Mi Đà cùng quyến thuộc cầm
hoa sen thất bảo phóng kim quang hiện đến trước mặt mình.
Bấy giờ đương nhơn nghe giữa hư không có tiếng khen rằng:
"Lành thay thiện nhơn! Ngươi đã biết thuận theo lời dạy
của chư Phật ba đời mà tu tập, nên nay ta đến rước ngươi.
Khi đó hành giả thấy mình ngồi nơi hoa sen, cánh hoa khép
lại, liền được sanh về bảo trì ở cõi Cực Lạc.
Qua
bảy ngày hoa sen nở ra, hành giả chắp tay khen ngợi Phật,
được nghe pháp diệu, sanh tâm hoan hỷ, liền chứng quả Tu
Đà Hoàn, và nửa kiếp sau mới chứng quả A La Hán. Đây là
cảnh trung phẩm trung sanh.
Trên
đây là cảnh giới vãng sanh của hạng phàm phu thuộc về
tiểu thừa hạ thiện. Muốn được vãng sanh hành giả phải
giữ oai nghi và một trong ba giới ít nhứt là khoảng một
ngày đêm cho thanh tịnh, đừng để khuyết phạm. Trong một
ngày đêm nếu phạm giới khinh, kể như đã phạm trọng tội,
sự vãng sanh khó thành. "Giới hương" là người giữ giới
thanh tịnh, có đức hạnh tiếng tốt lan xa, ví như mùi hương.
"Được nghe pháp diệu" chính là nghe pháp tứ đế và khổ,
không, vô thường, vô ngã. Tứ đế là khổ, tập, diệt, đạo;
khổ, tập thuộc về nhân quả thế gian, diệt đạo thuộc
về nhân quả xuất thế. Tu Đà Hoàn, Trung Hoa dịch là Nhập
lưu hay Nghịch lưu. Nhập lưu là vào dòng thánh, Nghịch lưu
có nghĩa: ngược dòng sanh tư luân hồi.
Trung
phẩm hạ sanh là thế nào? - Nếu thiện nam tử, thiện nữ
nhơn hiếu dưỡng cha mẹ, tu hạnh nhân từ theo thế gian, khi
lâm chung gặp thiện tri thức giảng cho nghe về sự vui nơi
cõi Phật A Mi Đà và bốn mươi tám đại nguyện của Tỳ
kheo Pháp Tạng. Kẻ ấy nghe xong hoan hỷ niệm Phật mà qua
đời, thần thức liền được sanh ngay về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, lẹ như khoảng co duỗi cánh tay của người
tráng sĩ.
Qua
bảy ngày sau, hành giả được gặp Bồ Tát Quán Thế Âm và
Đại Thế Chí, nghe pháp nhiệm mầu, sanh tâm vui đẹp, được
quả Tu Đà Hoàn, sau một tiểu kiếp mới chứng quả A La Hán.
Đây là cảnh trung phẩm hạ sanh.
Môn
tưởng này gọi là trung bối vãng sanh, thuộc về phép quán
thứ mười lăm.
Hạnh
nhân từ theo thế gian, tức là hạnh bác ái, thường bố thí,
an ủi, giúp đỡ mọi người; nhà Nho gọi là "suy ái cập
vật." Trong chánh văn không nói hoa nở, là hàm ý: vì còn tùy
theo niệm tinh tấn ít nhiều của người vãng sanh, mà hoa nở
có sớm hay muộn. Ba cảnh vãng sanh trên đây đều thuộc về
trung phẩm của hạng trung căn nên gọi là trung bối vãng sanh.
Có lời khen rằng:
-
Trung
bối căn lành thuộc bậc trung,
-
Giữ
tròn nghi giới một ngày đêm.
-
Phước
lành hiếu thuận tâm hằng nguyện
-
Nhân
đẹp từ bi hạnh giúp thêm.
-
Ánh ngọc
bảo trì về đến cảnh,
-
Sen vàng
kim các bước lên thềm.
-
Bảy
hôm hoa nở, lòng cùng nở,
-
Lòng
nở bừng trong tiếng pháp âm.
16-
Quán Sanh Về Hạ Phẩm (Hạ Phẩm Sanh Quán)
Đức
Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy: Hạ phẩm thượng sanh là thế
nào? - Hoặc có chúng sanh ngu tối, tuy không phỉ báng kinh điển
Phương Đẳng, nhưng tạo nhiều nghiệp ác không biết hổ
thẹn, kẻ ấy khi lâm chung gặp thiện tri thức nói cho nghe
danh đề của mười hai loại kinh đại thừa, liền được
trừ diệt nghiệp ác rất nặng trong một ngàn kiếp. Bậc
tri thức lại bảo phải chắp tay niệm "Nam Mô A Mi Đà Phật";
do đương nhơn thành tâm xưng danh hiệu Phật, nên tiêu trừ
tội trong năm mươi ức kiếp sanh tử. Ngay lúc ấy đức Vô
Lượng Thọ Như Lai cảm biết, liền sai Hóa Phật, Hóa Quán
Âm và Hóa Thế Chí hiện đến trước hành giả khen rằng:
"Lành thay thiện nhơn! Người đã xưng danh hiệu Phật, nên
các tội tiêu diệt, ta đến đây để rước ngươi."
Bấy
giờ hành giả thấy ánh sáng của Hóa Phật đầy khắp nhà
mình, trong lòng vui mừng, liền xả thọ, ngồi trên hoa sen
báu theo Hóa Phật sanh về ao thất bảo. Sau khi vãng sanh trải
qua bốn mươi chín ngày hoa sen mới nở. Vừa lúc hoa nở, Đại
Bi Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí phóng ánh sáng lớn,
trụ trước người ấy, giảng thuyết cho nghe nghĩa lý thâm
diệu của mười hai loại kinh. Đương nhơn nghe rồi tin hiểu,
phát tâm vô thượng bồ đề, trải qua mười hai tiểu kiếp,
thành tựu bách pháp minh môn, được vào Sơ địa. Đây là
cảnh hạ phẩm thượng sanh.
"Tạo
nhiều nghiệp ác", ý nói không phải thuộc về nghiệp cực
ác. "Không phỉ báng kinh điển Phương Đẳng", là còn có lòng
chánh tín. Mười hai loại kinh là: Khế kinh, Trùng tụng, Thọ
ký, Phúng tụng, Cô khởi, Nhân duyên, Thí dụ, Bản sanh, Bản
sự, Phương quảng, Vị tằng hữu và Luận nghị. Đây cũng
gọi là mười hai phần giáo. Theo bảo Cao Ly, có nói đủ về
việc nghe danh hiệu Phật, Pháp, Tăng; bản này chỉ lược
thuyết Phật và Pháp mà thôi. Ba phẩm trung ở đoạn trước
vì muốn thuyết minh nhân quả của thượng thiện, hạ thiện
thuộc tiểu thừa và thượng thiện thuộc thế gian, nên mới
nói về tiểu quả; kỳ thật trung phẩm cũng lần lượt vào
đại thừa và chứng trước hạ phẩm.
Hỏi:
- Tại sao nghe danh đề của mười hai loại kinh đại thừa
chỉ trừ tội trong ngàn kiếp, mà chỉ xưng niệm câu hồng
danh lại được tiêu tội đến năm mươi ức kiếp?
Đáp:
- Người tạo nghiệp bị chướng nặng, gia dĩ lúc lâm chung
sự khổ bức bách, nghe tên nhiều loại kinh tâm d phù tán,
nên sức diệt tội phải kém. Còn danh hiệu Phật chỉ là
một, đương nhơn d nhiếp tâm chuyên chú, gây thành tác dụng
mạnh, nên diệt tội được nhiều.
Hạ
phẩm trung sanh là thế nào? - Hoặc có chúng sanh ngu tối hủy
phạm ngũ giới, bát giới, giới cụ túc, trộm của tăng kỳ
và vật hiện tiền tăng, bất tịnh thuyết pháp, lòng không
hổ thẹn, dùng các nghiệp ác để tự trang nghiêm. Kẻ tạo
tội chướng như thế, tất phải bị đọa vào địa ngục,
nên lúc lâm chung các tướng lửa của địa ngục đồng thời
hiện ra. Nhưng người này may mắn được gặp thiện tri thức
giảng nói cho nghe về oai đức thập lực, sức thần thông
quang minh của Phật A Mi Đà, cùng những pháp: giới, định,
huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Đương nhơn nghe xong
sanh lòng tín trọng nên trừ diệt tội trong tám mươi ức
kiếp sanh tử, lửa dữ địa ngục hóa thành gió mát thổi
các hoa trời, trên hoa có Hóa Phật và Hóa Bồ Tát hiện thân
tiếp dẫn, trong khoảng một niệm liền được sanh về hoa
sen nơi ao thất bảo.
Sau
khi vãng sanh, trải qua sáu kiếp hoa sen mới nở. Vừa lúc hoa
nở, Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí hiện đến, dùng
tiếng phạm âm an ủi và vì giảng thuyết pháp thậm thâm
của đại thừa. Hành giả nghe xong, liền phát đạo tâm vô
thượng. Đây là cảnh hạ phẩm trung sanh.
Trên
đây nói phạm ngũ giới cho đến Cụ Túc chỉ là lược thuyết,
trong ấy đã bao trùm có giới Sa Di. Tăng kỳ, Trung Hoa dịch
là Đại chúng, tức của thường trụ, có hai:
Thường
trụ thường trụ, như chùa chiền, ruộng đất, thuộc về
bất động sản.
Thập
phương thường trụ, như lúc gạo, thức ăn, có thể cúng
dường chung cho chư tăng mười phương.
Vật
hiện tiền tăng cũng có hai:
Hiện
tiền hiện tiền, tức là vật riêng hay phần chia riêng của
chư Tăng.]
Thập
phương hiện tiền, tức là của tác pháp phổ thí.
Bất
tịnh thuyết pháp là thuyết pháp với dụng tâm không trong
sạch, mục đích mưu cầu danh vọng, sự cúng dường. "Dùng
các nghiệp ác để tự trang nghiêm" ý nói nghiệp ác dẫy
đầy, người thấy đều khinh chán. Thập lực là mười trí
lực của Phật, gồm có: Thị xứ phi xứ lực, Nghiệp trí
lực, Định lực, Căn lực, Dục lực, Tánh lực, Chí xứ đạo
lực, Túc mạng lực, Thiên nhãn lực và Lậu tận lực. Năm
phần: Giới, Định, Huệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến,
ba pháp trước có thể suy danh để hiểu, còn phần thứ tư,
tu nhân cảm quả gọi là Giải thoát, và sau khi đắc quả
khởi ra trí dụng tự tại, gọi là Giải thoát tri kiến.
Vì
cảnh tùy tâm chuyển, người ác nghe công đức của Phật
sanh niệm tín trọng, nên chuyển ác thành thiện; các tướng
lửa như: vạc dầu, nước đồng sôi, thiết trụ, thiết hoàn,
hỏa luân, hỏa xa, đều biến thành gió mát, hoa trời, được
Phật Bồ Tát hóa thân đến tiếp dẫn. Đây là thuyết minh
sức diệu dụng biến hiện của tự tâm.
Hạ
phẩm hạ sanh là thế nào? - Hoặc có chúng sanh tạo tội ngũ
nghịch thập ác, làm đủ các việc chẳng lành; kẻ ngu ấy
do nghiệp ác đáng lẽ phải bị đọa vào ác đạo, trải
qua nhiều kiếp chịu khổ vô cùng. Nhưng khi lâm chung, người
này nhờ gặp thiện tri thức dùng nhiều cách an ủi, nói phép
mầu cho nghe, lại dạy bảo tưởng niệm Phật. Đương nhơn
tuy nghe lời dạy, song vì sự khổ bức ách, không yên rảnh
để quán tưởng đức Vô Lượng Thọ Như Lai. Thấy thế,
thiện hừu lại bảo: "Nếu ông không thể tưởng đức Phật
kia, thì nên chí thành xưng "Nam Mô A Di Đà Phật" tiếng tăm
liên tiếp không dứt cho đủ mười niệm." Hành giả vâng
lời. Và do nhờ xưng danh hiệu Phật nên mỗi mỗi niệm trừ
được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Khi mạng chung,
người ấy thấy hoa sen vàng rực rỡ như vầng nhật hiện
ra trước mặt. Trong khoảng một niệm, liền được vãng sanh
về thế giới Cực Lạc.
Như
thế mãn mười hai Đại kiếp hoa sen mới nở. Khi hoa nở,
hai vị đại sĩ Quán Thế Âm, Đại Thế Chí dùng tiếng đại
bi vì hành giả nói rộng về thật tướng của các pháp và
cách trừ diệt tội chướng. Đương nhơn nghe rồi thân tâm
vui đẹp, liền phát lòng vô thượng bồ đề. Đây là cảnh
hạ phẩm hạ sanh.
Môn
tưởng trên gọi là hạ bối vãng sanh, thuộc về pháp quán
thứ mười sáu.
Tội
ngũ nghịch là: giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá sự
hòa hợp của chư Tăng, và làm cho thân Phật ra máu. Vì năm
tội này trái ân phụ đức, nên gọi là "nghịch." Thập ác
là ba nghiệp dữ của thân, bốn nghiệp dữ của miệng, và
ba nghiệp dữ của ý; tất cả ác nghiệp đều nhiếp về
mười điều này. "Mười niệm", ước về số ít là mười
câu, nhiều là mười hơi.
Hỏi:
- Theo kinh Vô Lượng Thọ, đoạn bốn mươi tám điều đại
nguyện, có câu "duy trừ những người tạo ngũ nghịch và
báng chánh pháp, ngoài ra đều được vãng sanh." Nay trong chương
Hạ phẩm hạ sanh của Quán kinh đây lại nhiếp thủ người
tạo ngũ nghịch, không thâu kẻ báng chánh pháp là ý thế
nào?
Đáp:
- Việc ấy nên hiểu theo nghĩa ức chỉ môn, tức là lời
nói ngăn đón trong Phật pháp. Bởi người đã tạo tội ngũ
nghịch tất nghiệp chướng rất nặng nề, khó hồi tâm hướng
về chánh pháp, nên đức Như Lai mới nói lời rào đón trước,
để cho kẻ ấy được d dàng trong sự vãng sanh. Nếu người
tạo ngũ nghịch thập ác mà biết hồi tâm niệm Phật, tất
đức Phật sẵn sàng tiếp dẫn. Chư Phật lòng từ vi vô lượng,
đối với kẻ lỗi lầm biết quay đầu về hướng thiện,
lẽ nào lại không tiếp độ? Cho nên quán kinh nhiếp thủ
người tạo ngũ nghịch, là bởi ý đó.
Trong
kinh đây không nói đến kẻ báng pháp, là bởi nếu đã tạo
tội nặng mà biết tin tưởng chánh pháp, thì còn có thể
hóa độ, bằng trái lại thì dù có khuyên bảo, chỉ e luống
vô công. Tuy nhiên, nếu có người trước kia không tin tưởng,
thường phỉ báng chánh pháp sau bị tai nạn, hay thấy ác tướng,
hoặc gặp duyên sự gì, biết thức tỉnh trở lại nẻo chánh
chơn, thì chư Phật với tâm bình đẳng từ bi vẫn sẵn sàng
tiếp độ. Vì thế, kinh Quán Phật Tam Muội nói: "Nếu trong
hàng tứ chúng, có kẻ báng kinh đại thừa, tạo tội ngũ
nghịch, phạm bốn trọng giới, mà biết chí tâm hệ niệm
quán tưởng một tướng hảo của Phật trong một ngày đêm,
thì các tội chướng thảy đều tiêu diệt." Thế thì những
kẻ báng chánh pháp nếu có thể hồi tâm, tất đều vãng
sanh chớ chẳng phải là không được thâu nhiếp đâu!
Nhưng
người báng chánh pháp dù được vãng sanh, phải ở trong hoa
sen, trải qua nhiều kiếp. Trong thời gian lâu xa ấy, đương
nhơn tuy hưởng sự vui như tam thiền, song còn ba điều chướng
là: không được thấy Phật và Thánh chúng, không được nghe
chánh pháp, không được thừa sự cúng dường các đức Thế
Tôn. Tuy thế, cũng còn hơn là kẻ không hồi tâm để bị
đọa vào địa ngục A Tỳ! Về hạ phẩm vãng sanh đến
đây đã xong.
Có
lời khen rằng:
-
Hạ bối
căn non, kém hiểu biết,
-
Ngũ nghịch,
thập ác, gây nhiều nghiệp
-
Phá giới,
phạm trai, trộm của Tăng,
-
Không
tin đại thừa, báng chánh pháp.
-
Lâm chung
tướng khổ hội như mây,
-
Ưng đọa
A Tỳ vô lượng kiếp.
-
Thiện
hữu khuyên xưng niệm Phật danh
-
Mi Đà
hóa hiện tay vàng tiếp.
-
Mười
niệm khuynh tâm đến bảo trì,
-
Luân
hồi từ ấy thoát trường kỳ.
-
Mười
hai đại kiếp hoa sen nở
-
Đại
nguyện theo với tiếng đại bi.
Khi đức
Thế Tôn nói lời ấy rồi, Vi Đề Hy phu nhơn cùng năm trăm
thị nữ liền thấy tướng rộng dài của thê giới Cực Lạc,
sắc thân của Phật A Mi Đà và hai vị Bồ Tát. Tất cả đều
sanh lòng vui mừng, khen là việc chưa từng có. Phu nhơn hoát
nhiên đại ngộ, chứng vô sanh pháp nhẫn. Năm trăm thị nữ
phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nguyện sanh về
Cực Lạc. Đức Thế Tôn thọ ký cho tất cả đều được
vãng sanh và sau khi sanh về tịnh độ đều chứng Chư Phật
Hiện Tiền tam muội.
Vô
lượng chư thiên phát tâm vô thượng bồ đề.
Trước
chỉ nói bà Vi Đề Hy thấy cõi Cực Lạc, nay lại thuyết
minh năm trăm thị nữ đều thấy, đây là mật ý chỉ cho
phu nhơn và năm trăm thị nữ đều có nhơn duyên với miền
An Dưỡng.
Hỏi:
- Luận Vãng Sanh nói: "Người nữ kẻ căn thiếu. Nhị thừa
chủng không sanh." Như thế tại sao trong kinh này Phật lại
ấn hứa cho người nữ được vãng sanh?
Đáp:
- Đó là ý nói ở Cực Lạc không có người nữ cùng kẻ
sáu căn không đủ, chứ chẳng phải nữ nhơn và kẻ thiếu
căn niệm Phật không được vãng sanh đâu! Còn "nhị thừa
chủng" là chỉ cho hàng định tánh Thanh Văn lấy quả Vô dư
niết bàn làm cứu cánh, không tin có cõi Cực Lạc. Nếu những
vị này hướng về đại thừa, phát tâm niệm Phật tất đều
được vãng sanh.