Phẩm
Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát
Thứ
Hai Mươi Tám
Khi
đã thể nhận được rằng:
Pháp
thân bất động
Ứng
hiện tùy duyên
Khứ
lai vô ngại
Liễu
triệt tứ sinh
Vô
thường thị thường
Ứng
cơ tiếp vật
Bản
giác thường minh
Thì
sự vận hành mới vô trụ vô chấp được.
Phẩm
“Phổ Hiền Bồ Tát khuyến pháp” được tuyên bày vào cuối
thời “Pháp Hoa Hải Hội” là hiển bày “nhất chân thật
tướng pháp giới” làm cho chúng hội liễu triệt được
tính “Diệu trạm tổng trì”. Nghĩa là ở nơi thể như như
bất động mà ứng hiện tùy duyên. Trí vàdụng không hai.
Do
vậy vào đầu phẩm kinh đã nêu:
“Lúc
bấy giờ Ngài Phổ Hiền Bồ Tát dùng sức thần thông tự
tại oai đức danh văn, cùng vô lượng bất khả xưng số vị
Đại Bồ Tát từ phương Đông mà đến, các nước đi ngang
qua khắp đều rúng động”.
Vi
Phổ Hiền Bồ Tát là biểu tượng tượng trưng cho “đại
hạnh”. Hạnh khắp cả pháp giới là “Phổ”, làm cho muôn
loài giác ngộ, thể nhập “tri kiến Như Lai” là “Hiền”.
“Bồ Tát Phổ Hiền” và vô số Đại Bồ Tát từ phương
Đông mà đến, nghĩa là “đại hành”, chính từ “trí
tuệ Bát Nhã” mà hiện hành. Khi đã hiện hành thì sẽ làm
cho “các cõi nước đi qua khắp đều rúng động” hay làm
cho những tư tưởng lầm chấp của chúng sinh trong tam giới
đều tỉnh giác quy hướng về “bản tâm”. Nên đoạn kinh
đã viện dẫn:
“Các
nước đi ngang qua khắp đều rúng động lại cùng vô số
đại chúng Trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà... vây quanh đều
đến cõi Ta bà đầu mặt lạy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đi
quanh bên hữu bảy vòng”.
Chính
vì “Phổ Hiền Bồ Tát” là “giác pháp”. Hiện hành giác
pháp ấy không ngoài “bản giác diệu minh”. Cho nên “Phổ
Hiền Bồ Tát” ở nơi nước của “Bảo Oai Đức Thượng
Vương Phật”. Nghĩa là “Phổ Hiền hạnh” ở nơi “bản
tâm thanh tịnh” của mỗi chúng sinh. Nhưng nước của Đức
Phật ấy đối với cõi Ta bà lại rất xa. Cũng như “chân
tánh thanh tịnh nhiệm mầu” của mỗi mỗi chúng sinh vốn
từ vô thỉ vô chung thường hằng ngự trị nơi mỗi sắc
thân mà chúng sinh đang nhận lãnh. Thế mà chúng sinh lại dùng
“vọng tưởng hư minh” để phủ mờ chân tánh, làm cho chân
tánh trở thành xa lạ. Nhất là sau khi Như Lai diệt độ ở
nơi đời ác năm trược làm thế nào chúng sinh thể nhập
được “Tri kiến Như Lai”. Do vậy mà đức Phổ Hiền Bồ
Tát đã bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Con ở nơi nước của
Đức Bảo Oai Đức Thượng Vương Phật, xa nghe cõi Ta bà này
nói kinh Pháp Hoa nên cùng với vô lượng vô biên trăm nghìn
muôn ức chúng Bồ Tát đồng đến để nghe. Cúi mong Đức
Thế Tôn vì chúng con mà nói đó. Nếu thiện nam tử, thiện
nữ nhân sau khi Như Lai diệt độ làm thế nào mà có thể
đặng kinh Pháp Hoa này?”.
Nghĩa
là sau khi Đức Thế Tôn diệt độ việc ngộ nhập “Tri kiến
Như Lai” hay thể nhập “Pháp Hoa tam muội” thật là khó
vô cùng.
Nhưng
nếu chúng sinh nào thành tựu bốn pháp sau đây thì sẽ thể
nhập được “Pháp Hoa tam muội”.
1.
Phải được các Phật hộ niệm.
Nghĩa
là tánh giác phải luôn luôn được giữ gìn.
2.
Trồng các cội công đức.
Nghĩa
là thể nhận được “tự tánh nhiệm mầu” không sinh, không
diệt, năng sinh muôn pháp, nhóm chứa hằng sa phước đức
và nhận ra được tự tánh các pháp là không (Chư pháp tùng
bổn lai, Thường tự tịch diệt tướng). Ý nghĩa này cũng
trùng hợp như trong kinh Pháp Bảo Đàn đức Lục Tổ đã dạy:
“Kiến tánh là công - bình đẳng là đức”.
3.
Vào trong chánh định.
Nghĩa
là ở nơi thể như như bất động mà tùy duyên ứng tiếp
khách trần.
4.
Phát lòng cứu tất cả chúng sinh.
Nghĩa
là phải tự giác, giác tha.
Điều
đó đã nói rằng: Nếu chúng sinh nào trực nhận bản tâm,
dùng trí tuệ Bát Nhã ở nơi thể an định mà ứng cơ tiếp
vật, thì chúng sinh đó đã thể nhập “Pháp Hoa tam muội”.
Do
vậy mà Đức Thế Tôn đã dạy:
“Nếu
thiện nam tử, thiện nữ nhân thành tựu bốn pháp thời sau
khi Như Lai diệt độ sẽ đặng kinh Pháp Hoa này: Một là được
các Phật hộ niệm. Hai là trồng các cội công đức. Ba là
vào trong chánh định. Bốn là phát lòng cứu tất cả chúng
sinh”.
Đến
đây Ngài Phổ Hiền Bồ Tát bạch cùng Đức Thế Tôn: “Trong
đời ác năm trược, nếu chúng sinh nào thọ trì kinh điển
này, con sẽ giữ gìn trừ các sự khổ hoạn làm cho đặng
an ổn, khiến không ai đặng tiện lợi rình tìm chỗ dỡ mà
làm hại đặng”.
Điều
đó có nghĩa là nếu mỗi chúng sinh đang sống trong “vọng
thức điên đảo” mà biết quay về “tánh giác”. Thể nhập
“pháp giới tính nhiệm mầu”. Hiện hành đức tướng vi
diệu để giác hữu tình, hay còn gọi là “thọ trì kinh điển
này”.Thì đại hạnh bao trùm cả pháp giới ấy chính là
“Phổ Hiền Bồ Tát” hộ trì. Như thế mới không còn chỗ
để cho những ác tưởng u uẩn dấy khởi tổn hại đến
thân tâm được.
Cho
nên chúng sinh đó đi, đứng đều ứng hợp với chân như
tánh, có trí tuệ tuyệt vời như “tượng vương trắng”.
Có đầy đủ sáu pháp Ba la mật như “sáu ngà quý báu của
tượng vương”.
Thể
nhập lý tánh được như thế mới có công năng xoay chuyển
vạn pháp vào nơi “vô tướng bình đẳng chân như pháp tính”.
Nghĩa là xoay chuyển các pháp trở về “nhất pháp”. Từ
nơi “nhất pháp” mà nảy sinh vô lượng pháp. Đó chính
là pháp thân bất động, ứng hiện tùy duyên. Đó là tâm
mật triền Đà la ni, bởi vì “triền” có nghĩalà xoay chuyển,
“Đà la ni” là tổng trì.
“Xoay
chuyểnđể thâu nhiếp vạn pháp, thâu nhiếp vạn pháp để
xoay chuyển”.
Cho
nên gọi là “người đó hoặc đi hoặc đứng đọc tụng
kinh này, bấy giờ con cỡi tượng vương trắng sáu ngà cùng
chúng Đại Bồ Tát đều đến chỗ người đó mà tự hiện
thân ra để cúng dường thủ hộ an ủi tâm người đó...
Do thấy thân con nên liền đặng tam muội và Đà la ni tên
là “triền Đà la ni” trăm nghìn muôn ức “triền Đà la
ni”, pháp âm phương tiện Đà la ni”.
Do
vì hiện hành những đức tướng vi diệu vô trụ vô chấp
mà “Nhất thừa pháp” được hiển lộ. Như thấy thân “Phổ
Hiền Bồ Tát” mà đặng tam muội và “triền Đà la ni”.
Chính sự tổng trì thâm mật ấy mới rời bỏ được “khát
ái” rời bỏ ngũ dục. Nên người “đặng chú Đà la ni
này không có phi nhân nào phá hoại”. Nghĩa là không còn niệm
khởi u uẩn vọng động, cũng không còn “người nữ nào
làm mê loạn”. Nghĩa là không còn bị dục vọng cuốn trôi.
Sự
thâm mật này được Ngài Phổ Hiền tuyên thuyết bằng một
loại ngôn ngữ hàm chứa vô lượng nghĩa không thể nghĩ bàn
nên cũng không cần lý giải. Muốn thâm nhập vào loại ngôn
ngữ vô lượng nghĩa này thì chúng sinh cần phải đạt thành
“vô phân biệt trí” ở nơi thể “hiện nhất thiết sắc
thân tam muội” mà giác hữu tình thì sẽ tương ưng thâm
nhập. Tâm mật ấy là:
“A
đàn địa, đàn đà bà địa, đàn đà bà đế, đàn đà cưu
xá lệ, đàn đà tu đà lệ, tu đà lệ, tu đà la bà để,
Phật đà ba chuyên nể, tác bà đà la ni a bà đa ni, tác bà
bà sa a bà đa ni, tu a bà đa ni, tăng già bà lý xoa ni, tăng
già niết đà đà ni, a tăng kỳ, tăng già bà dà địa, đế
lệ a đọa tăng già đâu lược, a la đế ba la đế, tát bà
tăng già địa, tam ma địa, dà lan địa, tát bà đạt ma tu
ba lợi sát đế, tát bà tát đỏa lâu đà kiêu xá lược,
a nâu dà địa, tân a tỳ kiết lợi diệt đế”.
Cho
nên chúng sinh nào trì kinh Pháp Hoa này là hiện hành hạnh
Phổ Hiền. “Đại hạnh” này có đầy đủ trí tuệ, từ
bi và nhẫn nhục. Nghĩa là chúng sinh ấy đã vào nhà Như Lai,
mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai và được Như Lai lấy tay
xoa đầu.
Ngay
trong đời ác năm trược mà hiện hành được những đức
tướng vi diệu để giác hữu tình thì phải biết đó là
sức oai thần của Bồ Tát Phổ Hiền.
“Nếu
chỉ biên chép người này mạng chung sẽ sinh lên trời Đao
Lợi. Bấy giờ bốn muôn tám nghìn thiên nữ trổi các kỷ
nhạc mà đến rước đó. Người đó liền đội mão bảy
báu ở trong hàng thể nữ, vui chơi khoái lạc. Huống là thọ
trì, đọc tụng ghi nhớ chân chính hiểu nghĩa thú kinh, đúng
như lời mà tu hành”.
Với
ý nghĩa, nêu chỉ trực nhận được rằng:
- Mỗi
chúng sinh đều có “tri kiến Như Lai”.
- Mỗi
chúng sinh đều có “tự tánh nhiệm mầu”.
Dụ
như người “biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa” thì cũng
đủ phước báu vô lượng không thể nghĩ bàn. Vì sao ? Vì
niềm tin dõng mãnh ấy làm cho hạt giống vô lậu nảy mầm.
Không thể dùng sự sung sướng ở cảnh giới nơi cung trời
Đao Lợi mà ví được.
Lại
nữa, “nếu có người thọ trì, đọc tụng, hiểu nghĩa thú
kinh này, người đó khi mạng chung được nghìn Đức Phật
trao tay... lên cung trời Đâu Suất, có trăm nghìn muôn ức
thiên nữ quyến thuộc sinh vào nơi đó”.
Bởi
vì thọ trì, đọc tụng, hiểu nghĩa thú kinh này là dụ cho
sự “minh tâm kiến tánh”, liễu triệt tử sinh. Ánh giác
đã bừng lên, đặng môn “Diệt ý tam muội” không còn rơi
vào ba đường dữ mà hiện hành các pháp thuần thiện.
Phước
báu khôn lường mà kinh đã dụ là: “Lên cung trời Đâu Suất...
có trăm nghìn muôn ức thiên nữ quyến thuộc sinh vào trong
đó”.
Sự
“minh tâm kiến tánh” có lợi ích như thế cho nên “người
trí phải một lòng tự chép hoặc bảo người chép, thọ trì,
đọc tụng, ghi nhớ chân chính, đúng như lời mà tu hành”.
Muốn
giữ gìn, hỗ trợ cho chúng sinh trở về với “chân tánh”
hay muốn “giữ gìn kinh này” thì phải thực hành “đại
hạnh”. Đại hạnh ấy do sức trí tuệ Bát Nhã từ nơi “bản
giác diệu minh” hiển bày. Do vậy mà kinh đã gọi là được
“Đức Thế Tôn thủ hộ cho”.
Chúng
sinh nào thọ trì kinh này sẽ thể nhập được “Tri kiến
Như Lai” nên gọi là “thấy Phật nghe pháp”.
Chúng
sinh nào thọ trì kinh này sẽ trừ được tam độc tham, sân,
si, đó mới là Phật tử. Nên được “Đức Thích Ca Mâu
Ni lấy tay xoa đầu, lấy y trùm cho”.
Người
như thế chẳng còn tham ưa ngũ dục, chẳng ưa kinh sách của
ngoại đạo, rời bỏ được “vọng tưởng hư minh”. Không
còn bị những ý tưởng “ngã mạn, tà mạn, tăng thượng
mạn” dấy khởi. Chúng sinh đó sẽ đạt thành hạnh nguyện
Phổ Hiền. Và chúng sinh đó chính là “Phổ Hiền Bồ Tát”
là “giáo pháp vi diệu” từ nơi “tự tánh nhiệm mầu”
hiển hiện viên dung.
Phải
biết rằng trong thời kỳ mạt pháp, nếu chúng sinh nào thọ
trì kinh này thì “chẳng bao lâu sẽ đến đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác”.
“Chúng
sinh đó sẽ đến đạo tràng phá dẹp binh ma, chuyển pháp
luân vô thượng.... rưới mua pháp, ngồi tòa sư tử trong đại
chúng trời người”.
Chúng
sinh nào trong thời kỳ mạt pháp mà thọ trì kinh này “người
đó chẳng còn ham ưa y phục giường nằm, những vật nuôi
sống”.
Vì
chúng sinh đó đã nhận rõ tướng chân thật của vạn pháp.
Dùng trí tuệ Bát Nhã phá dẹp tứ ma: phiền não ma, ngũ ấm
ma, tử ma, thiên ma, mà thể nhập “pháp giới tính nhiệm
mầu”.
Nếu
chúng sinh nào khinh chê người thọ trì, đọc tụng kinh Pháp
Hoa là tự khinh chê mình. Tự chôn vùi Phật tánh của mình,
và sống không xứng hợp với chân lý. Niệm niệm sinh diệt
như “cuồng lưu” mê muội điên đảo. Như thế “đời
đời sẽ không có mắt” hay đời sống trong đen tối.
Tạo
tác những điều nhơ nhớp xấu xa thân tâm dao động chẳng
khi nào an định, như “kẻ bị hủi lở ngứa ngáy khó chịu”.
Nếu
khinh cười tức là kẻ tăng thượng mạn được ít cho là
đủ, giống như “kẻ răng nướu thưa thiếu, môi xấu, mũi
xẹp”.
Nếu
theo tà kiến không nhận rõ chân lý, không tin kinh này thời
giống như “kẻ chân tay cong quen, mắt lé thân thể hôi dơ”.
Các
tướng trạng ấy để dẫn dụ chỉ cho những chúng sinh đã
tự chôn vùi hạt giống Phật nơi mình.
Vì
thế Đức Thế Tôn đã dạy:
“Này
Phổ Hiền! Nếu thấy người thọ trì kinh này, phải đứng
dậy ra rước, phải kính như Phật”.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch