Phẩm
Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự
Thứ
Hai Mươi Bảy
Sau
khi phá trừ hành ấm, cội gốc của sự khởi động u uẩn
để sinh ra các pháp đều đã thôi dứt. Sáu căn rỗng lặng
không dong ruổi theo sáu trần.
Sinh
diệt đã diệt, tịch diệt hiển bày, nhân đó phát sinh trí
tuệ đạt đến thể vô sinh.
Các
bậc Nhị thừa thì phá trừ “câu sinh ngã chấp” nghĩa là
phát trừ sự huân tập tiềm ẩn, u uẩn vận hành chấp ngã
mà đạt thành A la hán tiến vào “lý đạo Nhất thừa”.
Các
vị Bồ Tát thì phá trừ “câu sinh ngã chấp” và đang trừ
nốt “câu sinh pháp chấp” để tiến vào thể “diệu giác
chân thường” như thế ma sự không còn quấy nhiễu nữa.
Người
chưa rõ chân lý, tạm thời diệt được sinh diệt và cũng
tạm thời tịch diệt hiển bày.
Sau
căn thanh tịnh, trong ngoài sáng suốt, đem cái trí bất động
sáng suốt nhập vào cái thể bất động. Nhưng sự thật “trí
và thể” “bất nhị” nên không có gì để nhập. Do bởi
thức ấm hãy còn nên mặc dù thấy rõ nguyên nhân thọ mạng
của các loài chúng sinh. Thấy rõ thể tánh của các loài chưa
từng sinh diệt. Thấy được sự đồng nhất của tất cả
sự vật. Nhưng sự đồng nhất đó là sự đồng nhất đối
đãi với sự không đồng nhất. Chưa thể nhập nơi tính “không
đồng không dị” của sự sự vật vật.
Ví
như nhận rằng “cỏ cây mười phương đều là hữu tình
cùng với người không khác”. Cỏ cây làm người, người
chết rồi trở thành cỏ cây. Với nhận thức ấy sẽ rơi
vào cái chấp “tri vô tri”. Nghĩa là chấp tất cả đều
có hay biết, bỏ mất chánh tri kiến.
Hoặc
khi hành ấm được phá trừ, thức ấm hiện tiền lại nhận
lầm tất cả sự sự vật vật đều do sự ngày sinh ra. Chúng
sinh này đã sa vào cái chấp “năng phi năng”. Nghĩa là không
phải năng sinh mà cho là năng sinh, bạn bè với bọn “đại
mạn thiên”, nhận mình là tạo hóa sinh ra tất cả. Vì nướng
theo đại định tạm thời diệt được sinh diệt, gần thể
nhập pháp giới tính nhiệm mầu, lại bị vi tế vô minh sai
khiến nên rơi vào mê lộ chấp ngã chấp pháp. Tự cho mình
“liễu đạo” chỉ bày cho chúng sinh khác lạc vào tà đạo.
Phạm tội đại vong ngữ vừa hại mình hại người mà sa
vào ba đường dữ.
Nếu
không phá trừ vi tế vô minh nơi thức ấm thì không thể nào
nhập “tri kiến Như Lai”, thể nhập pháp giới tính nhiệm
mầu.
Do
vậy Phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương” được tuyên bày để
phá trừ vi tế vô minh nơi “thức ấm”.
Vì
thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì tính thể “Diệu trạm
tổng trì” được hiện lộ. Tính thể ấy không tăng, không
giảm, không sinh, không diệt, tự tại dung thông, vô thỉ vô
chung sáng sáng vô cùng.
Đến
đây chúng hội đã rõ thông tâm mật Đà la ni phá trừ được
sự u uẩn vận hành của thức, vừa thâu nhiếp vừa hiện
hành những đức tướng vi diệu phát xuất từ “niệm giác
bất tư nghị” để giác hữu tình.
Chính
vì thế mà Đức Thế Tôn đã chỉ bày cho chúng hội rõ tính
thể “Diệu trạm tổng trì” hãy chỉ bày cho chúng hội
nhận ra “bản lai diện mục” của tự thân. Do vậy mà vọng
thức không còn sinh khởi nên khứ lai vô ngại ứng hiện tùy
duyên.
Vì
thế Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự được tuyên bày
còn có ý chỉ thâm diệu là làm sáng tỏ “tự tánh sáng
suốt, tự tánh chân chính, tự tánh thanh tịnh” của mỗi
chúng sinh. Nên vào đầu phẩm kinh Đức Thế Tôn bảo hàng
đại chúng rằng:
“Về
thuở xưa cách đây vô lượng vô biên bất khả tư nghị a
tăng kỳ kiếp, có Đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Tú Vương
Hoa Trí Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri... Phật Thế Tôn”.
Với
ý nghĩa, từ vô thỉ “tiếng huyền diệu của chân tâm”
như tiếng sấm trên mây, vang dội khắp cùng. Chiếu tỏa muôn
nơi, có oai lực không lường như “thuở xưa từ vô lượng
bất khả tư nghì kiếp có Đức Phật hiệu Vân Lôi Âm Tú
Vương Hoa Trí”.
Vậy,
Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai là chỉ cho “Diệu Âm
thường chiếu”. Diệu Âm ấy không ngoài “bản giác diệu
minh”. Vì thế nên “Đức Vân Lôi Âm Phật” ở nơi quốc
độ “quang minh trang nghiêm”.
Bây
giờ là nơi thể an định sáng suốt nhiệm mầu diệu dụng
tùy duyên, vô trụ vô chấp, lấy cái “diệu” của “bản
tâm thanh tịnh” trang nghiêm làm “Chúa” cho các pháp hiện
hành. Để phá trừ “thức ấm” nên “trong pháp hội Phật
Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai có vua tên là “Diệu
Trang Nghiêm”. Chính vì “Diệu” nên nội tâm an định, mà
có thể nói là “tịnh trị vô minh, có danh tịnh đức”.
Nghĩa
là do nơi thể an định mà dứt trừ được vi tế vô minh,
nhóm chứa hằng sa công đức. Nên kinh đã viện dẫn là “vua
Diệu Trang Nghiêm có phu nhân tên Tịnh Đức”.
Vua
thì tên là “Diệu Trang Nghiêm”, phu nhân tên là Tịnh Đức.
Như thế mới thật là “Diệu trạm tổng trì”. Như thế
mới có thể tạo thành “phước huệ trang nghiêm”.
Ngoài
hiện những đức tướng vi diệu thu nhiếp vọng tâm, trong
dung thông tự tại liễu liễu minh minh mới có hai con
tên là “Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn”.
- Tịnh
Nhãn là tượng trưng cho sức đại thần thông.
- Tịnh
Tạng là tượng trưng cho sự nhóm chứa, hằng sa tam muội.
Mà kinh việc dẫn là: “Hai người con đó có sức đại thần
thông đã từ lâu tu tập đạo hạnh Bồ Tát như là thí Ba
la mật, giới Ba la mật, tinh tấn Ba la mật, lại có các môn
tam muội như: nhật tinh tú tam muội, tịnh quang tam muội, tịnh
sắc tam muội...”.
Nội
tâm thanh tịnh, trí tuệ tuyệt vời, hằng sa tam muội tự
tại dung thông đã phát xuất từ “Diệu Âm thường chiếu”
từ “bản giác diệu minh” nên mới hiện hành những đức
tướng vi diệu vô trụ vô chấp, để từ đó trang nghiêm
cho tự thân mình.
Nếu
không được như thế thì “Dịeu Trang Nghiêm” kia sẽ rơi
lạc vào tà đạo. Nghĩa là sẽ trụ vào sự tu dưỡng chứng
đắc mà hưởng phước báo ở các cõi thiên, hoặc ở các
cõi của ma vương. Vì ở nơi đó vẫn có “phước đức và
trí tuệ”. Nhưng không phải “phước đức và trí tuệ”
nơi đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nên
“Đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai” đã vì vua “Diệu
Trang Nghiêm” mà thuyết kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa.
Cũng
chính vì ý nghĩa đó mà hai con “Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn”
đã hiện tướng “đi, đứng, nằm, ngồi” khi ẩn, khi hiệu
giữa hư không, thần biến vô ngại mà trong đoạn kinh đã
nêu như: “vọt lên hư không, hiện các món thần biến,
đi, đứng, nằm, ngồi... thần trên phun ra nước, thân dưới
phun ra lửa, hoặc hiện thân đầy dẫy hư không... hoặc ở
trong hư không ẩn mất”.
Trong
thì thâm mật khôn lường, ngoài thì hiện hành vô trụ vô
chấp như thế mới hiển bày được “nhất chân thật tướng
pháp giới”. Như thế mới chân thật “Diệu Trang Nghiêm”
không còn rơi vào cảnh giới lầm chấp do bởi sự tu tập
ở các quả vị Nhị thừa hay ngoại đạo.
Nên
kinh đã viện dẫn: “Cha thấy con có sức thần như vậy lòng
rất vui mừng đặng điều chưa từng có”.
Ngay
lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm lại hỏi sự thần biến như
vậy do đâu mà có? Thầy của các con là ai? Con là đệ tử
của ai?
Tịnh
Tạng và Tịnh Nhãn đã thưa với vua cha rằng: “Thầy chúng
con là Đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa trí Như Lai người đang
ngự trên pháp tòa chúng hội mà rộng nói kinh Diệu Pháp Liên
Hoa”.
Với
ý nghĩa, sự thần biến vi diệu hi hữu như thế đều do nơi
“Diệu Âm thường chiếu” nơi “bản giác diệu minh” hay
còn gọi là ở nơi “Đức Phật ấy mới là thầy chúng con,
chúng con vì Ngài mà làm các Phật sự”.
Nghĩa
là chỉ có “bản tâm thanh tịnh” mới có “pháp âm vi diệu
vang dội cả pháp giới” đó là “thầy” chúng con, thầy
của cha mẹ, thầy của mọi chúng sinh.
Và
chỉ có “Diệu Âm thường chiếu” mới làm cho Diệu Trang
Nghiêm thật sự trang nghiêm được.
Nhận
ra được “bản lai diện mục” của chính mình thật vô
cùng khó khăn. Bởi vì không phải do chuyển thức thành trí
mà được.
Thức
và Trí là phương tiện khéo bày để chúng sinh thể nhập
vào “tự tánh nhiệm mầu”. Nói thức chuyển thành trí là
phương tiện mà nói. Tự tánh kia vốn không sinh, không diệt,
không thêm, không bớt. Nói chuyển là phương tiện để cho
chúng sinh rời bỏ mọi sự chướng nhiễm.
Tin
rằng chúng sinh đều có “tự tánh nhiệm mầu” đó là điều
vô cùng khó khăn. Điều đó có thể nói là khó tin, khó hiểu,
chỉ có trí tuệ Bát Nhã mới liễu tri được. Và cũng chỉ
có sự hiện hành vô trụ vô chấp nơi các pháp thì mới trực
nhận được “bản tâm thanh tịnh”. Do vậy mà Tịnh Đức
cho các con xuất gia. Vì sao? Vì Phật khó gặp. Nghĩa là “Phật
tâm” khó thấy.
Nhưng
muốn thấy Phật hay muốn nhận ra “Diệu âm thường chiếu”
mà kinh đã nêu là muốn đến nơi “Đức Vân Lôi Âm Tú Vương
Hoa Trí Phật” thì vua và phu nhân, các con và quần thần...
đều phải thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nghĩa là sống
xứng hợp với lý tánh thì mới nhận ra “Diệu Âm thường
chiếu” nơi “tự tánh nhiệm màu”. Nhận ra được như
thế là vô cùng quý báu. Quý báu như xâu chuỗi trân châu
vua cùng phu nhân “Diệu Trang Nghiêm” đang đeo nơi cổ.
Nhưng
sự trực nhận ấy phải dẫn đến thực tại hiện hành vô
trụ vô chấp làm lợi ích cho chúng sinh thì mới được viên
mãn.
Do
vậy chuỗi ngọc quý kia đức vua liền cởi “tung lên giữa
hư không” hóa thành đài báu bốn trụ để cúng dường Đức
Phật.
Diệu
Trang Nghiêm Vương cùng phu nhân, hai con và quyến thuộc, nói
chung là tâm thức mà có thể phương tiện tạm gọi “Diệu
Trang Nghiêm Vương là A lại da thức, Tịnh Đức là Mạt na
thức, Tịnh Tạng là Ý thức, Tịnh Nhãn là Nhãn thức” (nhãn
thức có thể tiêu biểu cho năm thức trước).
Tâm
thức kia đã thanh tịnh, nhưng đó mới chỉ là sở thành,
chỉ mới là quả vị Thanh văn, Duyên giác cần phải phá trừ
sở thành này để tiến về “lý đạo Nhất thừa” để
khỏi rơi lọt vào tà đạo. Phá trừ không có nghĩa là chuyển
thức thành trí, mà thức chính là trí. Vì tâm thức này đã
tịnh diệu, nên chỉ trực nhận là thể nhập “Tri kiến
Như Lai”, không còn vướng nhiễm nơi các pháp. Nên kinh đã
viện dẫn: “Diệu Trang Nghiêm Vương, phu nhân và các con đều
xuất gia”. Vì xuất gia là rời bỏ vướng nhiễm nơi các
pháp.
Khi
đã rời bỏ vướng nhiễm thì 84 vạn tế hạnh, hạnh nào
không là đạo hạnh. Do vậy, nên “vua xuất gia” rồi trong
tám muôn bốn nghìn năm thường tinh tấn hành trì “Diệu
pháp” thì mới đặng môn “nhất thiết tịnh công đức
trang nghiêm tam muội”.
“Vua
Diệu Trang Nghiêm” nơi pháp hội hiện tiền chính là “Hoa
Đức Bồ Tát” tượng trưng cho phước đức.
“Tịnh
đức phu nhân” chính là “Quang Minh Chiếu Trang Nghiêm Tướng
Bồ Tát” tượng trưng cho trí tuệ.
Hai
con vì thương xót cha và quyến thuộc mà sinh vào cung vua. Với
ý nghĩa vì muốn “phước huệ” trang nghiêm thì giáo pháp
hiện hành kia trong pháp giới Phật vô trụ vô chấp, vượt
khỏi trụ chấp của Nhị thừa.
Nghĩa
là muốn trang nghiêm tự thân bằng phước đức và trí tuệ
mà thể nhập vào “pháp giới tính nhiệm mầu” thì phải
hiện hành bằng những đức tướng tối diệu, tối thượng,
vô trụ vô chấp mà giác hữu tình.
Nên
Tịnh Tạng xưa kia nay chính là Dược Vương Bồ Tát, biểu
tượng tượng trưng cho phương thuốc nhiệm mầu hay “pháp
tướng vi diệu”.
Tịnh
Nhãn nay là Dược Thượng Bồ Tát là biểu tượng tượng
trưng cho phương thuốc thượng diệu hay “pháp tướng thượng
diệu”.
Do
vậy, lúc Đức Thế Tôn nói phẩm này, chúng hội thể nhập
được “Pháp Hoa tam muội” xa rời cấu nhiễm mà chứng
được “Pháp Nhãn tịnh” vậy.
Sau
khi phá trừ hành ấm, cội gốc của sự khởi động u uẩn
để sinh ra các pháp đều đã thôi dứt. Sáu căn rỗng lặng
không dong ruổi theo sáu trần.
Sinh
diệt đã diệt, tịch diệt hiển bày, nhân đó phát sinh trí
tuệ đạt đến thể vô sinh.
Các
bậc Nhị thừa thì phá trừ “câu sinh ngã chấp” nghĩa là
phát trừ sự huân tập tiềm ẩn, u uẩn vận hành chấp ngã
mà đạt thành A la hán tiến vào “lý đạo Nhất thừa”.
Các
vị Bồ Tát thì phá trừ “câu sinh ngã chấp” và đang trừ
nốt “câu sinh pháp chấp” để tiến vào thể “diệu giác
chân thường” như thế ma sự không còn quấy nhiễu nữa.
Người
chưa rõ chân lý, tạm thời diệt được sinh diệt và cũng
tạm thời tịch diệt hiển bày.
Sau
căn thanh tịnh, trong ngoài sáng suốt, đem cái trí bất động
sáng suốt nhập vào cái thể bất động. Nhưng sự thật “trí
và thể” “bất nhị” nên không có gì để nhập. Do bởi
thức ấm hãy còn nên mặc dù thấy rõ nguyên nhân thọ mạng
của các loài chúng sinh. Thấy rõ thể tánh của các loài chưa
từng sinh diệt. Thấy được sự đồng nhất của tất cả
sự vật. Nhưng sự đồng nhất đó là sự đồng nhất đối
đãi với sự không đồng nhất. Chưa thể nhập nơi tính “không
đồng không dị” của sự sự vật vật.
Ví
như nhận rằng “cỏ cây mười phương đều là hữu tình
cùng với người không khác”. Cỏ cây làm người, người
chết rồi trở thành cỏ cây. Với nhận thức ấy sẽ rơi
vào cái chấp “tri vô tri”. Nghĩa là chấp tất cả đều
có hay biết, bỏ mất chánh tri kiến.
Hoặc
khi hành ấm được phá trừ, thức ấm hiện tiền lại nhận
lầm tất cả sự sự vật vật đều do sự ngày sinh ra. Chúng
sinh này đã sa vào cái chấp “năng phi năng”. Nghĩa là không
phải năng sinh mà cho là năng sinh, bạn bè với bọn “đại
mạn thiên”, nhận mình là tạo hóa sinh ra tất cả. Vì nướng
theo đại định tạm thời diệt được sinh diệt, gần thể
nhập pháp giới tính nhiệm mầu, lại bị vi tế vô minh sai
khiến nên rơi vào mê lộ chấp ngã chấp pháp. Tự cho mình
“liễu đạo” chỉ bày cho chúng sinh khác lạc vào tà đạo.
Phạm tội đại vong ngữ vừa hại mình hại người mà sa
vào ba đường dữ.
Nếu
không phá trừ vi tế vô minh nơi thức ấm thì không thể nào
nhập “tri kiến Như Lai”, thể nhập pháp giới tính nhiệm
mầu.
Do
vậy Phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương” được tuyên bày để
phá trừ vi tế vô minh nơi “thức ấm”.
Vì
thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì tính thể “Diệu trạm
tổng trì” được hiện lộ. Tính thể ấy không tăng, không
giảm, không sinh, không diệt, tự tại dung thông, vô thỉ vô
chung sáng sáng vô cùng.
Đến
đây chúng hội đã rõ thông tâm mật Đà la ni phá trừ được
sự u uẩn vận hành của thức, vừa thâu nhiếp vừa hiện
hành những đức tướng vi diệu phát xuất từ “niệm giác
bất tư nghị” để giác hữu tình.
Chính
vì thế mà Đức Thế Tôn đã chỉ bày cho chúng hội rõ tính
thể “Diệu trạm tổng trì” hãy chỉ bày cho chúng hội
nhận ra “bản lai diện mục” của tự thân. Do vậy mà vọng
thức không còn sinh khởi nên khứ lai vô ngại ứng hiện tùy
duyên.
Vì
thế Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự được tuyên bày
còn có ý chỉ thâm diệu là làm sáng tỏ “tự tánh sáng
suốt, tự tánh chân chính, tự tánh thanh tịnh” của mỗi
chúng sinh. Nên vào đầu phẩm kinh Đức Thế Tôn bảo hàng
đại chúng rằng:
“Về
thuở xưa cách đây vô lượng vô biên bất khả tư nghị a
tăng kỳ kiếp, có Đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Tú Vương
Hoa Trí Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri... Phật Thế Tôn”.
Với
ý nghĩa, từ vô thỉ “tiếng huyền diệu của chân tâm”
như tiếng sấm trên mây, vang dội khắp cùng. Chiếu tỏa muôn
nơi, có oai lực không lường như “thuở xưa từ vô lượng
bất khả tư nghì kiếp có Đức Phật hiệu Vân Lôi Âm Tú
Vương Hoa Trí”.
Vậy,
Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai là chỉ cho “Diệu Âm
thường chiếu”. Diệu Âm ấy không ngoài “bản giác diệu
minh”. Vì thế nên “Đức Vân Lôi Âm Phật” ở nơi quốc
độ “quang minh trang nghiêm”.
Bây
giờ là nơi thể an định sáng suốt nhiệm mầu diệu dụng
tùy duyên, vô trụ vô chấp, lấy cái “diệu” của “bản
tâm thanh tịnh” trang nghiêm làm “Chúa” cho các pháp hiện
hành. Để phá trừ “thức ấm” nên “trong pháp hội Phật
Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai có vua tên là “Diệu
Trang Nghiêm”. Chính vì “Diệu” nên nội tâm an định, mà
có thể nói là “tịnh trị vô minh, có danh tịnh đức”.
Nghĩa
là do nơi thể an định mà dứt trừ được vi tế vô minh,
nhóm chứa hằng sa công đức. Nên kinh đã viện dẫn là “vua
Diệu Trang Nghiêm có phu nhân tên Tịnh Đức”.
Vua
thì tên là “Diệu Trang Nghiêm”, phu nhân tên là Tịnh Đức.
Như thế mới thật là “Diệu trạm tổng trì”. Như thế
mới có thể tạo thành “phước huệ trang nghiêm”.
Ngoài
hiện những đức tướng vi diệu thu nhiếp vọng tâm, trong
dung thông tự tại liễu liễu minh minh mới có hai con tên là
“Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn”.
- Tịnh
Nhãn là tượng trưng cho sức đại thần thông.
- Tịnh
Tạng là tượng trưng cho sự nhóm chứa, hằng sa tam muội.
Mà kinh việc dẫn là: “Hai người con đó có sức đại thần
thông đã từ lâu tu tập đạo hạnh Bồ Tát như là thí Ba
la mật, giới Ba la mật, tinh tấn Ba la mật, lại có các môn
tam muội như: nhật tinh tú tam muội, tịnh quang tam muội, tịnh
sắc tam muội...”.
Nội
tâm thanh tịnh, trí tuệ tuyệt vời, hằng sa tam muội tự
tại dung thông đã phát xuất từ “Diệu Âm thường chiếu”
từ “bản giác diệu minh” nên mới hiện hành những đức
tướng vi diệu vô trụ vô chấp, để từ đó trang nghiêm
cho tự thân mình.
Nếu
không được như thế thì “Dịeu Trang Nghiêm” kia sẽ rơi
lạc vào tà đạo. Nghĩa là sẽ trụ vào sự tu dưỡng chứng
đắc mà hưởng phước báo ở các cõi thiên, hoặc ở các
cõi của ma vương. Vì ở nơi đó vẫn có “phước đức và
trí tuệ”. Nhưng không phải “phước đức và trí tuệ”
nơi đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nên
“Đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai” đã vì vua “Diệu
Trang Nghiêm” mà thuyết kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa.
Cũng
chính vì ý nghĩa đó mà hai con “Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn”
đã hiện tướng “đi, đứng, nằm, ngồi” khi ẩn, khi hiệu
giữa hư không, thần biến vô ngại mà trong đoạn kinh đã
nêu như: “vọt lên hư không, hiện các món thần biến,
đi, đứng, nằm, ngồi... thần trên phun ra nước, thân dưới
phun ra lửa, hoặc hiện thân đầy dẫy hư không... hoặc ở
trong hư không ẩn mất”.
Trong
thì thâm mật khôn lường, ngoài thì hiện hành vô trụ vô
chấp như thế mới hiển bày được “nhất chân thật tướng
pháp giới”. Như thế mới chân thật “Diệu Trang Nghiêm”
không còn rơi vào cảnh giới lầm chấp do bởi sự tu tập
ở các quả vị Nhị thừa hay ngoại đạo.
Nên
kinh đã viện dẫn: “Cha thấy con có sức thần như vậy lòng
rất vui mừng đặng điều chưa từng có”.
Ngay
lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm lại hỏi sự thần biến như
vậy do đâu mà có? Thầy của các con là ai? Con là đệ tử
của ai?
Tịnh
Tạng và Tịnh Nhãn đã thưa với vua cha rằng: “Thầy chúng
con là Đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa trí Như Lai người đang
ngự trên pháp tòa chúng hội mà rộng nói kinh Diệu Pháp Liên
Hoa”.
Với
ý nghĩa, sự thần biến vi diệu hi hữu như thế đều do nơi
“Diệu Âm thường chiếu” nơi “bản giác diệu minh” hay
còn gọi là ở nơi “Đức Phật ấy mới là thầy chúng con,
chúng con vì Ngài mà làm các Phật sự”.
Nghĩa
là chỉ có “bản tâm thanh tịnh” mới có “pháp âm vi diệu
vang dội cả pháp giới” đó là “thầy” chúng con, thầy
của cha mẹ, thầy của mọi chúng sinh.
Và
chỉ có “Diệu Âm thường chiếu” mới làm cho Diệu Trang
Nghiêm thật sự trang nghiêm được.
Nhận
ra được “bản lai diện mục” của chính mình thật vô
cùng khó khăn. Bởi vì không phải do chuyển thức thành trí
mà được.
Thức
và Trí là phương tiện khéo bày để chúng sinh thể nhập
vào “tự tánh nhiệm mầu”. Nói thức chuyển thành trí là
phương tiện mà nói. Tự tánh kia vốn không sinh, không diệt,
không thêm, không bớt. Nói chuyển là phương tiện để cho
chúng sinh rời bỏ mọi sự chướng nhiễm.
Tin
rằng chúng sinh đều có “tự tánh nhiệm mầu” đó là điều
vô cùng khó khăn. Điều đó có thể nói là khó tin, khó hiểu,
chỉ có trí tuệ Bát Nhã mới liễu tri được. Và cũng chỉ
có sự hiện hành vô trụ vô chấp nơi các pháp thì mới trực
nhận được “bản tâm thanh tịnh”. Do vậy mà Tịnh Đức
cho các con xuất gia. Vì sao? Vì Phật khó gặp. Nghĩa là “Phật
tâm” khó thấy.
Nhưng
muốn thấy Phật hay muốn nhận ra “Diệu âm thường chiếu”
mà kinh đã nêu là muốn đến nơi “Đức Vân Lôi Âm Tú Vương
Hoa Trí Phật” thì vua và phu nhân, các con và quần thần...
đều phải thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nghĩa là sống
xứng hợp với lý tánh thì mới nhận ra “Diệu Âm thường
chiếu” nơi “tự tánh nhiệm màu”. Nhận ra được như
thế là vô cùng quý báu. Quý báu như xâu chuỗi trân châu
vua cùng phu nhân “Diệu Trang Nghiêm” đang đeo nơi cổ.
Nhưng
sự trực nhận ấy phải dẫn đến thực tại hiện hành vô
trụ vô chấp làm lợi ích cho chúng sinh thì mới được viên
mãn.
Do
vậy chuỗi ngọc quý kia đức vua liền cởi “tung lên giữa
hư không” hóa thành đài báu bốn trụ để cúng dường Đức
Phật.
Diệu
Trang Nghiêm Vương cùng phu nhân, hai con và quyến thuộc, nói
chung là tâm thức mà có thể phương tiện tạm gọi “Diệu
Trang Nghiêm Vương là A lại da thức, Tịnh Đức là Mạt na
thức, Tịnh Tạng là Ý thức, Tịnh Nhãn là Nhãn thức” (nhãn
thức có thể tiêu biểu cho năm thức trước).
Tâm
thức kia đã thanh tịnh, nhưng đó mới chỉ là sở thành,
chỉ mới là quả vị Thanh văn, Duyên giác cần phải phá trừ
sở thành này để tiến về “lý đạo Nhất thừa” để
khỏi rơi lọt vào tà đạo. Phá trừ không có nghĩa là chuyển
thức thành trí, mà thức chính là trí. Vì tâm thức này đã
tịnh diệu, nên chỉ trực nhận là thể nhập “Tri kiến
Như Lai”, không còn vướng nhiễm nơi các pháp. Nên kinh đã
viện dẫn: “Diệu Trang Nghiêm Vương, phu nhân và các con đều
xuất gia”. Vì xuất gia là rời bỏ vướng nhiễm nơi các
pháp.
Khi
đã rời bỏ vướng nhiễm thì 84 vạn tế hạnh, hạnh nào
không là đạo hạnh. Do vậy, nên “vua xuất gia” rồi trong
tám muôn bốn nghìn năm thường tinh tấn hành trì “Diệu
pháp” thì mới đặng môn “nhất thiết tịnh công đức
trang nghiêm tam muội”.
“Vua
Diệu Trang Nghiêm” nơi pháp hội hiện tiền chính là “Hoa
Đức Bồ Tát” tượng trưng cho phước đức.
“Tịnh
đức phu nhân” chính là “Quang Minh Chiếu Trang Nghiêm Tướng
Bồ Tát” tượng trưng cho trí tuệ.
Hai
con vì thương xót cha và quyến thuộc mà sinh vào cung vua. Với
ý nghĩa vì muốn “phước huệ” trang nghiêm thì giáo pháp
hiện hành kia trong pháp giới Phật vô trụ vô chấp, vượt
khỏi trụ chấp của Nhị thừa.
Nghĩa
là muốn trang nghiêm tự thân bằng phước đức và trí tuệ
mà thể nhập vào “pháp giới tính nhiệm mầu” thì phải
hiện hành bằng những đức tướng tối diệu, tối thượng,
vô trụ vô chấp mà giác hữu tình.
Nên
Tịnh Tạng xưa kia nay chính là Dược Vương Bồ Tát, biểu
tượng tượng trưng cho phương thuốc nhiệm mầu hay “pháp
tướng vi diệu”.
Tịnh
Nhãn nay là Dược Thượng Bồ Tát là biểu tượng tượng
trưng cho phương thuốc thượng diệu hay “pháp tướng thượng
diệu”.
Do
vậy, lúc Đức Thế Tôn nói phẩm này, chúng hội thể nhập
được “Pháp Hoa tam muội” xa rời cấu nhiễm mà chứng
được “Pháp Nhãn tịnh” vậy.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch