Phẩm
Ðà La Ni
Thứ
Hai Mươi Sáu
Sau
khi phá trừ tướng ấm. Tâm đã trong sáng như gương. Ví như
cảnh đến bóng hiện rõ ràng trong gương, nhưng cảnh dời
đi gương chẳng lưu hình, cội gốc của sinh diệt đã phơi
bày. Trí tuệ phát sinh nhận ra được sự sinh diệt của các
pháp. Nhìn sự sự vật vật như ánh chớp giữ hư không, như
huyễn như hóa. Chúng sinh nhận rõ các pháp như huyễn ấy
mà vào đại định, phá trừ được “hành ấm”. Ở nơi
thức thể lặng yêu ấy nhận ra cội gốc của hành ấm là
“vọng tưởng u uẩn trong tính thể bình đẳng nhất như”
nên diệt trừ cội nguồn sinh tử, tiến vào đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
Nhưng
nếu chưa tỏ rõ chân lý ở nơi đây lại nhận lầm “vọng
tưởng u uẩn nơi tính thể là viên thường thì sa vào tà
kiến”.
Ví
như hành giả xét cho cùng bản tính của tâm và cảnh không
có nguyên nhân gì cả. Vì nương theo 800 công đức của nhãn
căn mà thấy tám muôn kiếp, tất cả chúng sinh đều theo dòng
nghiệp báo xoay vần, chết nơi này sinh nơi khác, luân hồi
trong đó. Ngoài tám muôn kiếp mờ mịt không thấy gì nữa
lại cho rằng sự sự vật vật trong mười phương ngoài tám
muôn kiếp không do nguyên nhân nào mà tự có.
- Hoặc
nhận thấy trong tám muôn kiếp người vẫn sinh người, chim
vẫn sinh chim, các pháp cũng đều như thế. Ngoài tám muôn
kiếp sự sự vật vật cũng đều như thế không có nhân duyên
gì sinh khác cả.
- Hoặc
khi “hành ấm” đã phơi bày, nhận được dòng sinh diệt
luôn luôn tiếp tục lại chấp dòng sinh diệt vận hành ấy
là tính viên thường nên thấy tất cả chúng sinh sinh rồi
diệt, diệt rồi sinh, xoay vần như thế không bao giờ dứt.
- Hoặc
thấy chúng sinh do tứ đại hợp thành nên chúng sinh có sinh
diệt mà tứ đại không sinh diệt, vọng chấp cho đó là thường.
- Hoặc
mắc vào luận “càn loạn bất tử”, nghĩa là chấp
“cũng có tức cũng không, trong cái cũng không không phải
cũng có”, không dứt khoác gì cả.
Do
hành ấm hiển bày liên tục không hề ngừng nghỉ, vọng chấp
sa vào tà kiến, tự nhận đã chứng ngộ mắc vào tội đại
vọng ngữ vừa hại mình hại người mà sa vào “địa ngục
vô gián”.
Do
vậy phẩm Đà la ni này được tuyên bày để phá trừ hành
ấm. Nghĩa là phá trừ “vọng tưởng u uẩn liên tục vận
hành để gây ra cội nguồn sinh tử”.
Vì
Đà la ni là tổng trì, lấy “niệm giác bất tư nghì
làm thể”. Do vậy, mà không còn sự vận hành liên tục của
vọng tưởng u uẩn. Chính như thế ý niệm phân biệt, ý niệm
suy lường đã thành “vô phân biệt niệm”. Vượt thoát
“văn từ ngôn ngữ và nghĩa lý”. Chính như thế mà những
lúc tướng vi diệu hiện hành vô trụ vô chấp mới giác hữu
tình.
Nên
vào đầu phẩm kinh, Ngài Dược Vương Bồ Tát liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu chắp tay hướng về
Đức Phật mà bạch rằng: Thế Tôn ! Nếu có thiện nam tử,
thiện nữ nhân thọ trì được kinh Pháp Hoa hoặc đọc tụng
thông lệ hoặc biên chép quyển kinh đặng bao nhiêu phước
đức?”.
Với
ý nghĩa “Dược Vương Bồ Tát” là biểu tượng, tượng
trưng cho “pháp tướng vi diệu hiện hành” để điều phục
chúng sinh, pháp tướng vi diệu ấy không còn trụ chấp nơi
quả vị tu chứng như “Ngài Dược Vương từ chỗ ngồi đứng
dậy”. Vì “từ chỗ ngồi đứng dậy” là ý chỉ thâm
diệu về sự vượt thoát không còn trụ chấp nơi các pháp
hiện hành.
Chính
vì thế mới thể nhập được “tự tánh nhiệm mầu”. Và
mới tùy thuận chúng sinh, là lấy đức tướng vi diệu trang
nghiêm cho tự thân, nên gọi là “trịch áo bày vai hữu”,
dung thông sự sự vật vật, nhận rõ “tâm vật nhất như
không đồng không dị” nên hiện tướng “chắp tay”. Hướng
về Đức Phật là hướng về “Như Lai”, hướng về “giác
tánh”. Và cũng chỉ có “giác tánh” mới hiển bày được
“pháp tướng vi diệu” hay có nghĩa là chỉ có Đức Thế
Tôn mới trả lời câu hỏi do “Dượng Vương Bồ Tát” đã
nêu.
Dượng
Vương Bồ Tát đã nêu rằng: “Đối với kinh Pháp Hoa này,
nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào hay thọ trì, đọc
tụng, biên chép quyển kinh đặng bao nhiêu phước đức?”.
Điều
đó có nghĩa là: “Nếu chúng sinh nào hành trị Diệu Pháp
thì được bao nhiêu phước đức?”.
Như
thế đã nêu từ trước “Diệu Pháp Liên Hoa” là phương
tiện vi diệu hiển bày “Tri kiến Phật”. Chúng sinh nào
thọ trì kinh Pháp Hoa là sống xứng hợp với “Bản tâm thanh
tịnh”. Chúng sinh đó thể nhập được “pháp giới tính
nhiệm mầu”.
Vì
thế, Đức Thế Tôn dạy rằng:
“Nếu
thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đó với kinh này có thể
thọ trì nhẫn đến một bài kệ bốn câu đọc tụng giải
nghĩa đúng như lời mà tu hành thời công đức rất nhiều”.
Với
ý nghĩa, nếu chúng sinh nào liễu triệt được ý chí thâm
diệu của Đức Thế Tôn đã tuyên bày “Diệu Pháp” mà
thể nhập “tự tánh nhiệm mầu”, chúng sinh đó sẽ rõ
thông các pháp nơi thể “vô cấu thức” mà hiện hành “pháp
tướng vi diệu”để giác hữu tình, “pháp tướng vi diệu”
ấy là “phương thuốc nhiệm mầu, là Dược Vương Bồ Tát
diệu dụng tùy duyên không thể dùng suy lường mà suy lường
được.
Tâm
mật ấy không thể dùng văn tự ngôn ngữ, nghĩa lý mà giải
được.
Tâm
mật ấy nếu tuyên bày sẽ là một loại ngôn ngữ cô đọng,
loại mật ngữ nghĩa lý không lường, nên không dùng cách
gì để diễn đạt. Chính vì thế mà Dược Vương Bồ Tát
đã tuyên bày sự tổng trì Diệu Pháp bằng loại mật ngữ,
bằng “ký hiệu tối mật” không cần lý giải. Loại ngôn
ngữ này nếu chúng sinh nào thể nhập “pháp giới tính nhiệm
mầu” sẽ tương ứng với diệu nghĩa của nó. Mật ngữ
Đà la ni này có công năng làm cho chúng sinh vượt thoát sự
tương phân đối đãi hay thể nhập được “Tri kiến Phật”.
Mật ngữ Đà la ni có công năng phá trừ sự vận hành u uẩn
của thức.
Mật
ngữ Đà la ni của Bồ Tát Dược Vương tuyên đọc là:
“An
nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ, già lê đệ, xa mế,
xa lý đa vĩ chuyên đế, mục đế mục đa lý, ta lý, a vĩ
ta lý, tang lý, ta lý xoa duệ, a xoa duệ, a kỳ nhị chuyên đế,
xa lý, đà la ni, a lư dà bà ta ky dá tỳ xoa nhị, nễ tỳ thế,
a tiện đa la nễ lý thế, a đàn đá ba lệ thâu địa, âu
cứu lệ, mâu cứu lệ, a la lệ, ba la lệ, thủ ca sai, a tam
ma tam lý, Phật đà tỳ kiết lợi điệt đế, đạt ma ba lợi
sai đế, tăng già niết cù sa nễ, bà xá bà xá thâu địa,
mạn đá lã, mạn đá lã xoa dạ đa, bưu lâu đá, bưu lâu
đá kiêu xá lược, ác xoa lã, ác xoa dã đa đã, a bà lư, a
ma nhã na đa dạ”.
Tâm
mật này là do chúng sinh đã kiến tánh phá trừ được 62
kiến chấp (ngã kiến, đoạn kiến, thường kiến) do sự vận
hành u uẩn của vọng thức kiến về sắc uẩn chấp:
1.
Sắc là ta.
2.
Lìa sắc là ta.
3.
Ta nhỏ sắc lớn, Ta lớn sắc nhỏ.
4.
Ta lớn sắc lớn, Ta nhỏ sắc nhỏ.
Thọ,
thượng, hành, thức, cũng như thế.
Như
vậy năm uẩn gồm có 20 kiến chấp, dùng cho ba thời: quá
khứ, hiện tại, vị lai, được nhân lên là 60 kiến chấp.
Cộng với đoạn kiến và thường kiến là đủ 62 kiến chấp.
Trong
Quy Nguyên Trực Chỉ có nêu: “Trừ lục thập nhị kiến,
tà ngụy vô sở dụng”.
Nên
trong kinh đã nêu: “Đà la ni này là do 62 ức hằng hà sa các
Đức Phật đã nói, nếu có kẻ xâm hủy Pháp sư chính là
xây hủy các Đức Phật đó rồi”.
Nghĩa
là nếu chúng sinh nào còn vọng động không phá trừ
kiến chấp thì xem như xâm hủy đến “Phật tính” của
mình vậy.
Lại
nữa, nếu chúng sinh nào thọ trì kinh “Diệu Pháp Liên Hoa”
thì sẽ đạt thành “tam mật tương ưng”, thân mật, khẩu
mật, ý mật. Do vậy mà sự vận hành u uẩn của vọng thức
nảy sinh, những ác tưởng không còn chỗ hở nào để dấy
khởi nữa.
Chính
sự dõng mãnh tinh tấn lìa bỏ trói buộc nơi trần cảnh mà
hiện hành đức tướng vi diệu để giác hữu tình, như đoạn
kinh đã nêu:
“Ngài
Dõng Thí Bồ Tát cũng vì người thọ trì kinh Pháp Hoa mà tuyên
thuyết Đà la ni. Tâm mật Đà la ni này do sự tinh tấn vượt
thoát nhiễm chấp làm cho chúng hữu tình giác ngộ, có công
năng phá trừ sự vận hành u uẩn của vọng thức nảy sinh
những tư tưởng xấu ác, mà kinh viện dẫn.
“Dạ
xoa, La sát, hoặc Phú đơn na, hoặc Kiết giá... không thể
nào rình tìm chỗ dở của Pháp sư để hại được”. Do
vậy, Ngài Dõng Thí Bồ Tát đã thuyết chú như sau:
“Toa
lệ, ma ha toa lệ, ức chỉ, mục chỉ, a lê, a la bà đệ niết
đệ, niết lệ đa bà đệ, y trí nỉ, vi trí nỉ, chỉ tri
nỉ, niết lệ tri nỉ, niết lệ tri bà để”.
Tâm
mật Đà la ni này là do niệm giác bất tư nghị ở nơi thể
bất động mà có, nên kinh đã nêu: “Thần chủ này của
hằng sa các Đức Phật đã tuyên bày”.
Lại
nữa, thọ trì kinh Pháp Hoa là thể nhập “pháp giới tính
nhiệm mầu” luôn luôn vận hành những ý tưởng thuần thiện,
có đủ khả năng tiêu hủy sự vận hành của ác tưởng để
tự lợi và lợi tha khi “ứng cơ tiếp vật”. Giống như
Tỳ Sa Môn Thiên vương hay Trì Quốc Thiên Vương thống lãnh
chư quỷ thần mà hộ trợ cho nhân thiên vậy.
Sự
thâm mật vi diệu vừa thâu nhiếp sự vận hành ác tưởng
vừa làm cho những đức tướng thuần thiện hiện hành đối
với những chúng sinh có căn thuần thiện hướng về “tự
tánh nhiệm mầu” được thể hiện bằng mật ngữ Đà la
ni mà Tỳ Sa Môn Thiên Vương và Trí Quốc Thiên Vương đã
tuyên đọc:
“A
lê, na lê, a na lư, na lý, câu na lý”. Hoặc:
“A
dà nể, dà nể, cù lợi, càn đà lợi, chiên đà lợi, ma đẳng
kỳ thường cầu lợi, phú lầu tá nỉ, ác đế”.
Mật
chú này đều do “thọ trì kinh Pháp Hoa” mà có được. Nghĩa
là do hành trí xứng hợp với lý tánh mà có được.
Lại
nữa, thọ trì kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” sẽ được “lục
căn thanh tịnh” nên ý tưởng “ái nhiễm” nếu dấy khởi
sẽ được tiêu trừ. Sự thâu nhiếp ý tưởng “ái nhiễm”
tâm sẽ an định, tổng trì. Nên đoạn kinh đã nêu : “Bấy
giờ có những La sát nữ như Lam Bà, Tỳ Lam Bà, Khúc Xỉ,
Hoa Xỉ, Hắc Xỉ, Đa Phát, Vô Yểm Túc, Trì Anh Lạc, Cao Đế,
Đoạt Nhất Thiết Chúng Sinh Tinh Khí” đều tuyên thuyết
tâm mật Đà la ni:
“Y
đề, y đề vẫn, y đề lý, a đề lý, nê lý, nê lý, nê lý,
nê lý, nê lý, lâu hê, lâu hê, lâu hê, lâu
hê, đa hê, đa hê, đa hê, đâu hê, nâu hê”.
Do
vậy mới thấy rõ “Diệu Pháp Liên Hoa” là tạng bí yếu
thâm mật của chư Phật. Chúng sinh nào thọ trì được thì
“tự tánh nhiệm mầu thâm mật” có công năng phá trừ sự
vận hành của ác tưởng. Sự phát trừ ấy giống như nhánh
lá của loại cây A Lê cao vút ở xứ Ấn Độ, khi rơi xuống
tới đất cành lá kia sẽ tan nát làm nhiều phần.
Thọ
trì kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” có sức oai thần như thế.
Mà phương tiện vi diệu hiển bày nơi phẩm kinh đã viện
dẫn ở đoạn chúng La sát nữ tuyên đọc bài kệ sau:
Nếu
chẳng thuận chú ta
Não
loạn người nói pháp
Đầu
vỡ làm bảy phần
Như
nhánh cây A lê
Như
tội giết cha mẹ
Cũng
như họa ép dầu
Cân
lường khi dối người
Tội
Điều Đạt phá Tăng
Kẻ
phạm pháp sư đây
Sẽ
mắc họa như thế
Do
thọ trì kinh Pháp Hoa mà chúng sinh sẽ ở nơi thể “Diệu
trạm tổng trì” mà ứng cơ tiếp vật. Nghĩa là ở nơi thể
an định, thường có tác dụng nhiệm mầu. Nhận pháp giới
tính làm thân, nắm giữ sự diệu dụng của pháp giới tính.
Vận dụng pháp giới tính mà tự giác, giác tha.
Chú
là biểu hiện hoàn toàn thể, toàn dụng của tâm, của tự
tánh. Do vậy, trì chú là giữ gìn sự thâm mật của “bản
tâm”. Tâm là chú, là “tự tánh nhiệm mầu thanh tịnh”.
Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa là pháp nhũ bao trùm cả pháp giới. Tùy
theo chủ tánh của chúng sinh mà thể nhập “Diệu lý Pháp
Hoa tam muội”.
Đạt
thành sự thâm mật nơi tâm sẽ chiếu phá được “vọng
tưởng hư minh” u uẩn liên tục dấy khởi. Ở nơi tâm mật
ấy chỉ còn có “niệm giác bất tư nghị” làm thể tạo
thành những phương thuốc nhiệm mầu hay “giác pháp” để
tự lợi và lợi tha khắp cùng pháp giới.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch