Phẩm
Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn
Thứ
Hai Mươi Lăm
Sau
khi đã phát trừ “thọ ấm”, mặc dù thoát khỏi cái lụy
hình hài nhưng “tập khí vọng tưởng” vẫn còn. Tuy nhiên
đã cảm nhận được sự vi diệu của “bản tâm thanh tịnh”.
Đến
đây nếu phá trừ “tập khí vọng tưởng” hay nói cách
khác là phá trừ “tưởng ấm” thì tâm thanh tịnh sáng suốt
kia giống như gương đã sạch bụi nhơ.
Do
đó mới thấy vạn phát sinh diệt không ngừng, duyên khởi
giả lập nên vượt thoát được phiền não chướng mà bước
vào “lý đạo Nhất thừa”.
Nhưng
điều cần quán triệt là sau khi thoát khỏi cái “lụy hình
hài” thì phát sinh trí tuệ, ở nơi đây lại tham cầu “thiện
xảo” liền vướng vào danh ngôn và giả tướng do vậy lại
bước vào mê lộ.
Pháp
“Quán Thế Âm Bồ Tát” là phương tiện vi diệu để phá
trừ mê lộ của “tưởng ấm”.
- Quán
Thế Âm là quán sát hay xem xét tiếng nói của vọng tưởng.
Tiếng nói của chúng sinh trong pháp giới.
- Quán
Thế Âm là “Diệu Âm thường chiếu”.
Thường
chiếu bằng những đức tướng vi diệu hiện hành. Và Bồ
Tát chỉ cho những đức tướng vi diệu ấy, vượt khỏi danh
ngôn và giả tướng.
Vượt
khỏi “vọng tưởng hư minh” tương ưng tánh lý để làm
lợi ích chúng sinh, vì Bồ Tát là “Bồ Đề Tát Đỏa”
(Bodhisattva) là giác hữu tình.
Do
vậy vào đầu phẩm kinh Ngài Vô Tận Ý đã bạch cùng Đức
Phật rằng:
“Bạch
Đức Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát do nhân duyên gì
mà tên là Quán Thế Âm”.
Với
danh xưng “Vô Tận Ý” là biểu tượng, tượng trưng cho
“ý tưởng” hay “tưởng ấm”. Nói đến “Ý tưởng”
là nói đến sự suy lường phân biệt. Ý tưởng đây dấy
khởi liên miên bất tận không bến không bờ.
“Ý
tưởng” ấy không làm sao liễu tri về “Diệu Âm thường
chiếu”.
Vì
thế mà “Vô Tận Ý” mới bạch cùng Đức Thế Tôn hỏi
về danh xưng “Quán Thế Âm”. Có nghĩa là chỉ cho “Tri
kiến Như Lai” mới giải bày cho thức tâm liễu tri về “Diệu
Âm thường chiếu”. Hay nói cách khác là chỉ cho “Tri kiến
Phật” mới phá trừ “tưởng ấm”, và làm tỏ rõ nhân
duyên gì mà có “từ bi quán” hay do nhân duyên gì mà “Diệu
Âm thường chiếu”.
Vì
như đã nêu “Diệu Âm thường chiếu” chính là “Quán Thế
Âm”. Diệu Âm lúc nào chẳng có nơi bản tâm của chúng sinh.
Nhưng hiển lộ bằng hành vi, những đức tướng vi diệu để
làm lợi ích cho chúng sinh, thì “Diệu Âm” lúc đó là “Quán
Thế Âm” hay “Diệu Âm thường chiếu”.
Nêu
Đức Thế Tôn đã bảo Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát: “Thiện nam
tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh chịu
các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ Tát một lòng xưng danh
Quán Thế Âm Bồ Tát, tức thời xem xét tiếng tăm kia đều
đặng giải thoát”.
Điều
đo đã nói lên rằng: “vọng tưởng hư minh” làm cho chúng
sinh điên đảo khổ đau. Phiền não chướng và sở tri chướng
phủ mờ tánh giác. Trước cảnh duyên dao động bức bách
đau khổ tột cùng vô phương hy vọng. “Vọng tưởng hư minh”
bặt lối suy lường. Ngay lúc đó chúngsinh quay về “tự tánh
nhiệm mầu”. Lập tức tiếng huyền diệu của chân tâm hiển
bày chiếu phá “huyễn cảnh” do “vọng tưởng hư minh”
giả lập”.
Sự
chiếu phá này không thể dùng suy lường mà suy lường được.
Vì nó có công năng dung thông và chiêu cảm chẳng thể nghĩ
bàn đối với sự sự vật vật, làm cho chúng sinh kia liền
được giải thoát. Nên gọi là một lòng xưng danh Quán Thế
Âm này tức thời xem xét tiếng tăm kia đều đặng giải thoát.
Hơn
thế nữa, ngay nơi hiện tiền vì bặt dứt suy lường “cảnh
giới tịnh diệu” do “Diệu Âm thường chiếu” tương ứng
với cảnh giới do thánh trí hiện bày mà chúng hữu tình rơi
lọt vào đó, cảm nhận sự vi diệu và giải thoát cảnh giới
khổ đau do “vọgn tưởng hư minh” đã dựng lập.
Lại
nữa, Quán Thế Âm Bồ Tát là biểu tượng, tượng trưng cho
“bản tâm thanh tịnh” có đầy đủ đức tướng từ bi
và nhẫn nhục. Chỉ vì “vọng tưởng hư minh” che lấp nên
“tâm cảnh tương phân” nẩy sinh ý niệm thiện, ác, địa
ngục, Niết bàn. Một khi đã trực nhận “các pháp tự tánh
là không”, nghĩa là quán xét được thực tướng của các
pháp. Lúc đó bậc đại trí chỉ hành xử bằng những đức
tướng vi diệu đầy đủ tha lực từ bi và chính như thế
mới gọi là “Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện hành giải
thoát đau khổ”.
Đức
Thế Tôn dạy tiếp: “Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế
Âm Bồ Tát này vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy đặng”.
Thế
nào là lửa lớn?
Khi
ứng tiếp với khách trần, ví như trước lời nói êm ái,
ngọt ngào, trước vàng, bạc, lưu ly, các thứ châu báu...
hoặc trước sự chà đạp chửi mắng, trước hành động
dã man... niệm khởi phát sinh như nung nấu, như ngọn lửa
hừng hực bốc cao, khiến cho thân tâm dao động, mở ra cảnh
giới tương ưng để nhận chịu và chấp cho là “thực cảnh”.
Ngọn lửa của sân hận, si mê, phiền não có năng lực thiêu
hủy những đức tướng vi diệu và che lấp “tự tánh nhiệm
mầu”. Ngay lúc đó chúng sinh biết quay về tánh giác. Hay
còn gọi “niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát”. Nghĩa là
ngay nơi đó “tiếng huyền diệu của chân tâm” chiếu tỏa,
phá tan “vọng tưởng hư minh” thì “huyễn cảnh” lửa
lớn kia chẳng cháy đặng.
- Lại
nữa, “nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu của
Bồ Tát này liền đặng chỗ cạn”.
Với
ý nghĩa, “nước lớn” là dụ cho dòng nước ái, nước
ái dục một khi đã cuồn cuộn dâng lên thì không gì ngăn
cản nổi.
Sự
thèm khát về dục lạc, về mùi vị, ăn uống làm sao đong
đầy, làm sao thỏa mãn, nó sai sử cuốn lôi và thúc dục
mọi chúng sinh phải tìm đủ phương cách dù có hiểm nguy,
dù hy sinh nhiều phương tiện làm sao thỏa mãn được dụng
vọng trong một chu kỳ tất định, để rồi liên tục thay
nhau từ dục vòng huyễn hư này đến dục vọng huyễn hư
khác.
Niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát là hiện khởi của từ bi và trí tuệ.
Phát
xuất từ “bản giác diệu minh” như chiếc thuyền kiên cố
được lèo lái vững vàng lướt nhẹ trên cuồng lưu dục
vọng.
Nên,
“nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ Tát này
liền đặng chỗ cạn”.
- Lại
nữa, “Nếu chúng sinh nào tìm vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã
não, san hô, hổ phách, trân châu và các thứ báu... mà vào
biển lớn. Giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi
tấp vào nước quỷ La sát, trong đó nhân có một người xưng
danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát tức thời các người kia đều
thoát khỏi nạn quỷ La sát”.
Vì
nhiễm trước cảnh duyên nên tham đắm vật chất bị gió
lớn của “tài lợi, thương cảm, xấu xa, chê bai, vui sướng,
đau khổ, xưng tán, khen tặng”. Ngọn “bát phong” này thổi
bay vào nơi ác đạo hay gọi là “nước quỷ La sát”, ngay
nơi đó “niệm giác bừng lên” hay còn gọi là có người
“xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát” thời những niệm
dơ nhiễm, niệm chúng sinh đều được giải thoát.
- Lại
nữa, “nếu có người sắp bị hại lại xưng danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát thời dao gậy của người kia liền gãy khúc
mà đặng thoát khỏi”.
Với
ý nghĩa, “dao gậy” chỉ cho cảnh duyên, “sắp bị hại”
chỉ cho căn, trần giao tiếp.
Ngay
nơi đó “vọng thức nảy sinh” lo lắng, đau buồn, thất
vọng, tức tối, oán trách... nếu kịp thời quán chiếu, hay
gọi là “niệm Quán Thế Âm Bồ Tát” thì những niệm khởi
“khổ đau” kia liền rơi rớt giống như “dao gậy của
người kia liền gãy từng đoạn” vậy.
- Lại
nữa, “nếu quỷ Dạ xoa cùng La sát đầy dẫy trong tam thiên
đại thiên muốn đến hại người, nghe người xưng danh hiệu
Quán Thế Âm Bồ Tát thời các quỷ dữ đó còn không thể
dùng mắt dữ mà nhìn huống làm hại đặng”.
Vọng
tưởng nhơ nhiễm xấu ác đầy dẫy nơi chúng sinh giống như
quỷ Dạ xoa, La sát đầy dẫy trong cõi tam thiên đại thiên.
Vừa
nãy sinh, vừa thúc dục để tạo nên tội lỗ như bị “quỷ
dữ” nhìn sắp làm hại.
Kịp
quán sát soi rọi ác tướng làm cho các tướng không còn chỗ
sinh khởi nên gọi là “nếu niệm Quán Thế Âm Bồ Tát tức
thời các quỷ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn
huống làm hại đặng”.
- Lại
nữa “dầu có người hoặc có tội, hoặc không tội gông
cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế
Âm Bồ Tát thảy đều đứt rã, liền đặng thoát khỏi”.
Vọng
tưởng tham cầu chồng chất luôn luôn trói buộc chúng sinh.
Tham cầu phước báu, tham cầu ngũ dục, giống như: “Kẻ
có tội hoặc không tội bị gông cùm xiềng xích trói buộc”
mà khổ đau, nhất là khi tham cầu chẳng đạt thành ý.
Hơn
nữa sự tham cầu lại như hố sâu không đáy. Do vậy mà chúng
sinh cứ lặn lội tìm đủ phương cách để đạt đến tuyệt
đĩnh của tham cầu. Nhưng tuyệt đỉnh kia không bao giờ đến
được, “sợi dây” tham cầu lại trói buộc lấy mình. Trực
nhận đó cũng chỉ là “vọng tưởng hư minh” thì khổ đau
kia liền thôi dứt. Hay còn gọi là “niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát thì gông cùm xiềng xích kia thảy đều đứt rã, mà đặng
giải thoát”.
- Lại
nữa, “nếu có kẻ oán tặc đầy trong cõi tam thiên đại
thiên, có vị thương chủ đem các người buôn, đem theo nhiều
của báu trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có người
xướng rằng: các thiện nam tử chớ nên sợ sệt, các người
phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ
Tát này hay đem pháp vô úy thí cho, các người nếu xưng danh
hiệu thời sẽ đặng thoát khỏi oán tặc này”.
“Oán
tặc” thời chỉ cho ác sự. Ác sự thường do “thân, khẩu,
và ý” gây nên.
- Thân
như vạc dầu.
- Miệng
như dòng thác,
- Ý
tựa rừng gươm.
Tạo
ra không biết bao nhiêu ác sự, nên gọi là “oán tặc đầy
dẫy” trong cõi tam thiên đại thiên.
Nhưng
trước ác sự mà thiện tâm phát khởi để quay về thiện
sự thì đó là một vấn đề vô cùng khó khăn. Giống như
“vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của
báu trải qua con đường hiểm trở”.
Ví
như chúng sinh trước cảnh nghèo đói, túng thiếu, thèm khát
mà chẳng hành động đen tối, để giải quyết sự đòi hỏi
bức bách, đó là vấn đề khó khăn.
Trước
cảnh sỉ nhục, đánh đập, xua đuổi, mà chẳng giận hờn,
oán trách, đó là vấn đề khó khăn, giống như “trải qua
con đường hiểm trở”.
Ngay
nơi sự bức ngặt để gây nên ác sự mà “niệm giác bừng
lên” tức thời xóa tan được “vọng tưởng hư minh” đem
lại sự bình thản yên vui hay gọi là “niệm Quán Thế Âm
Bồ Tát liên thoát khỏi oán tặc này”.
“Này
Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần cao lớn
như thế!”.
Sức
oai thần ấy làm cho “tham, sân, si” trở thành “giới, định,
huệ” nên chúng sinh thường niệm nhớ nơi lòng.
- Niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát là “niệm giác” là niệm từ bi và
trí tuệ.
- Niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát là trực nhận “bản thân thanh tịnh”,
thể nhận “tiếng huyền diệu của chân tâm”.
- Niệm
Quán Thế Âm Bồ Tát là hiện nhất thiết sắc thân tam muội,
ứng cơ tiếp vật, tự tại dung thông.
Do
vậy:
“Nếu
có người nữ muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán
Thế Âm liền sinh con trai phước đức trí tuệ, hoặc muốn
cầu con gái bèn sinh con gái có tướng xinh đẹp”.
Với
ý nghĩa: nếu chúng sinh nào còn mang đầy “ái nhiễm”, như
lời dụ trong kinh là “người nữ”, mà muốn thoát khỏi
ái nhiễm để “trí tuệ”, phát sinh, hay muốn cầu con trai
hoặc muốn có phước đầy đủ, hay muốn cầu con gái mà
lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát hay quy hướng về
“bản tâm thanh tịnh” thì phước huệ kia sẽ được viên
mãn.
Bởi
Quán Thế Âm Bồ Tát là biểu tượng tượng trưng cho “bản
thân thanh tịnh” mà chúng sinh biết quy hướng thì “vọng
tưởng hư minh” không còn là áng mây che mờ tánh giác nữa.
Đến
đây Đức Thế Tôn đã dạy tiếp:
“Này
Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự 62 ức hằng hà
sa Bồ Tát, trọn đời cúng dường đồ ăn uống, y phục,
giường nằm, thuốc thang, ý ông nghĩ sao? Công đức của người
thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy có nhiều chăng?”.
“Bạch
Đức Thế Tôn rất nhiều”.
Với
ý nghĩa, nếu dùng “tư tưởng suy lường” mà suy lường
thật sâu xa, xem xét tất cả công hạnh vi diệu như:
- Hạnh
tinh tấn.
- Hạnh
bố thí (Dõng Thí Bồ Tát).
- Hạnh
từ bi (Di Lắc Bồ Tát).
- Hạnh
không khinh mình, khinh người (Thường Bất Khinh Bồ Tát).
Với
62 ức hằng sa Bồ Tát hay 62 ức hằng sa công hạnh, hằng
sa đức tướng vi diệu hiện hành để giác hữu tình. Nhưng
vô lượng vô số đức tướng vi diệu ấy muốn hiện hành
vô trụ vô chấp thì đều phải khởi tứ hạnh quán sát,
nghĩa là dùng “Diệu Âm chiếu tỏa” để từ đó vô biên
hạnh kia mới không còn bị vướng nhiễm bởi “danh ngôn
và giả tướng” mới “vô trụ vô chấp” được.
Mà
“Diệu Âm chiếu tỏa” chính là hạnh Quán Thế Âm. Do vậy
mà Đức Thế Tôn đã dạy rằng: “Nếu có người thọ trì
danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát nhẫn đến một thời lễ lạy
cúng dường thời phước báu của hai người đó bằng nhau
không khác”.
Lúc
đó ngài Vô Tận ý Bồ Tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Ngài
Quán Thế Âm Bồ Tát dạo đi trong cõi Ta bà như thế nào?
Nói pháp cho chúng sinh như thế nào? Sức phương tiện việc
đó như thế nào?
Điều
đó có ý nghĩa:
“Tiếng
huyền diệu của chân tâm” thường chiến phá “vọng tưởng
hư minh” như thế nào? Vì Quán Thế Âm tượng trưng cho “Diệu
Âm thường chiếu”. “Vọng tưởng hư minh” chỉ cho cõi
Ta bà, và “dạo đi trong cõi Ta bà” là chỉ cho sự chiếu
phá dung thông tự tại của “Diệu Âm” bao trùm cả pháp
giới.
Nhưng
dùng phương tiện gì để chiếu phá?
Đức
Thế Tôn dạy rằng:
- “Này
thiện nam tử ! Nếu chúng sinh nào đáng dùng thân Phậ tđặng
độ thoát, thời Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật
mà vì đó nói pháp”.
Nghĩa
là, nếu chúng sinh nào đã thể nhập được “tự tánh nhiệm
mầu” chẳng sinh, chẳng diệt, thường tịch, thường chiếu.
Thì “Diệu Âm” nơi “bản tâm thanh tịnh” cũng từ đó
hiện hành chiếu tỏa phát khởi những đức tướng vi diệu,
ứng cơ tiếp vật tự tại dung thông.
“Diệu
Âm chiếu tỏa” hiện hành chính là Quán Thế Âm Bồ Tát
hiện hành.
Do
vậy mà kinh viện dẫn: “Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện
thân Phật mà vì đó nói pháp”.
- “Nếu
chúng sinh nào đáng dùng thân Duyên giác đặng độ thoát,
liền hiện thân Duyên giác mà vì đó nói pháp”.
Nghĩa
là nếu chúng sinh nào tu về “Thập nhị nhân duyên”, nhận
rõ rằng vì chấp niệm “minh” mà trở thành “vô minh”.
Từ đó “vận hành” phân biệt nên có “thức”. Từ phân
biệt mà có danh ngôn, giả tưởng, gọi là “danh, sắc”.
Tâm cảnh tương phân tương ưng thu nhập, gọi là “lục nhập”.
Từ “lục nhập” mà có tiếp giao, gọi là “xúc”. Từ
tiếp giao mà có “thọ” nhận. Do thọ mà nảy sinh ưa thích
vướng nhiễm với nhau, gọi là “ái”. Do vướng nhiễm nên
muốn giữ gìn. Gọi là “thủ”. Từ đó không muốn rời
nhau, muốn có nhau luôn, gọi là “hữu”. Chính vì thế mà
có sự tương tục giả lập thoát khỏi sợi xích duyên khởi
giả lập trùng điệp nảy sinh trong từng niệm thì phải phá
trừ niệm chấp “minh”. Nghĩa là phá trừ “vô minh”. Đến
đây nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” liễu triệt giúp gốc vi
tế của vô minh giải thoát sự trụ chấp vào quả vị “Duyên
giác” mà tiến vào “lý đạo Nhất thừa”. Nên gọi là
“Quán Thế Âm liền hiện thân Duyên giác mà vì đó nói pháp”.
- Người
đáng dùng thân Thanh văn đặng độ thoát, liền hiện thân
Thanh văn mà vì đó nói pháp”.
Bởi
vậy chúng sinh tu theo pháp Tứ Đề, đạt đến quả vị Thanh
văn, biết rõ nguồn gốc hư vọng của khổ đau, lìa chấp
ngã. Đến đây nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” phá trừ chấp
pháp, nhận rõ pháp diệt khổ cũng huyễn hư, quả vị Thanh
văn cũng chỉ là nấc thang hữu hạn mà tiến vào “lý đạo
Nhất thừa”. Nên gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát dùng thân
Thanh văn mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Phạm Vương đặng độ thoát, liền hiện thân
Phạm Vương mà vì đó nói pháp”.
Do
“niệm tưởng hư minh” rơi vào cảnh giới Phạm Thiên, hưởng
thọ phước báu nơi cảnh giới này. Vì biết quay về “tự
tánh”, nhờ “tiếng huyền diệu của chân tâm” chiếu phá
sự mê nhiễm pháp lành hữu lậu nơi cảnh giới Phạm Thiên
mà tiến vào Phật đạo. Nên gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát
hiện thân Phạm Vương mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Tiểu Vương đặng độ thoát, liền hiện thân
Tiểu Vương mà vì đó nói pháp”.
Nếu
chúng sinh nào đang sống trong lối sống vương giả như Tiểu
Vương mà không lầm chấp nơi địa vị ấy, trực nhận được
“bản tâm” nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa”. Lối sống kia
sẽ hiển bày những đức tướng vi diệu tự giác, giác tha.
Nên gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Tiểu
Vương mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Trưởng giả đặng độ thoát, liền hiện
thân Trưởng giả mà vì đó nói pháp”.
Trưởng
giả là người giàu có, sống trong cảnh sang trọng, đầy
đủ phước báu mà biết quy hướng vê tâm. Nhờ “Diệu Âm
chiếu tỏa” trực nhận “tự tánh nhiệm mầu” nên biết
rõ không có sự sang trọng giàu có nào bằng sự giàu có nơi
tánh của mình. Nên gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân
Trưởng giả mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thâm Cư sĩ đặng độ thoát, liền hiện thân Cư
sĩ mà vì đó nói pháp”.
Cư
sĩ là người tu còn có gia đình và sự nghiệp. Ở nơi gia
đình và sự nghiệp đang vướng nhiễm ấy mà biết quy hướng
về “tâm”, nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa”. Ở ngay “duyên
cảnh” ấy mà hiện hành đúng pháp tự giác, giác tha. Nên
gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Cư sĩ mà
vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Tể quan đặng độ thoát, liền hiện thân
Tể quan mà vì đó nói pháp”.
Tể
quan là vị có quyền cao chức trọng. Ngay lối sống quan quyền
ấy mà biết quy hướng về “tự tánh nhiệm mầu” nhờ
“Diệu Âm chiếu tỏa” không cần rời bỏ lối sống ấy
mà vẫn hiện hành đủ các pháp tự giác, giác tha. Nên gọi
là “Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện Tể quan mà vì đó nói
pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Dạ xoa đặng độ thoát, liền hiện thân Dạ
xoa mà vì đó nói pháp”.
Dạ
xoa là thân xấu dự tợn. Vì chính những tư tưởng xấu ác
nên hiện tướng chẳng lành. Nhưng biết quy hướng về Bồ
Tát nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” nên giải thoát được tư
tưởng ác xấu này. Do đó gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát
liền hiện thân Dạ xoa mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Càn thát bà đặng độ thoát, liền hiện thân
Càn thát bà mà vì đó nói pháp”.
Càn
thát bà là thân tướng tạo bởi hương thơm. Vì nhiễm chấp
mùi thơm mà hiện thâm chẳng lành. Nhưng biết quy hướng về
“bản tâm thanh tịnh” nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” nên
giải thoát sự tham nhiễm mùi vị mà tiến vào Phật đạo.
Do đó gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Càn
thát bà mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Khẩn na la đặng độ thoát, liền hiện thân
Khẩn na la mà vì đó nói pháp”.
Khẩn
na la là thân được thành tựu bởi âm nhạc. Vì nhiễm chấp
bởi âm thanh vi diệu của các loại nhạc khí mà hiện thân
chẳng lành. Nhưng biết quy hướng về “bản tâm thanh tịnh”
nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” nên vượt thoát sự vướng
nhiễm bởi nhạc khí mà tiến vào Phật đạo. Nên gọi là
“Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Khẩn na la mà vì đó
nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Chấp Kim Cang Thần đặng độ thoát, liền
hiện thân Chấp Kim Cang thần mà vì đó nói pháp”.
Chấp
Kim Cang thần là thân tướng mạnh và uy dũng. Do vì niệm khởi
trước cảnh duyên thúc bách, cần phải có hành động hùng
dũng để trấn át đối cảnh mà hiện tướng chẳng lành.
Nhưng biết quy hướng về “Bản tâm thanh tịnh” nhờ “Diệu
Âm chiếu tỏa” có oai lực làm tiêu hủy tưởng hùng dũng
đang phát khởi bởi cảnh duyên mà tiến vào Phật đạo. Nên
gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Chấp Kim Cang
thần mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Ca lầu la, Ma hầu là già đặng độ thoát,
liền hiện thân Ca lầu la, Ma hầu là già mà vì đó nói pháp”.
Ca
lầu la là thân tướng hung dữ như loài chim súy điểu chuyên
ăn thịt loài thú vật lớn nhất ở biển (gọi là ăn thịt
rồng).
Ma
hầu la già thân tướng ghê sợ như thân rắn mãng xà.
Do
vì cảnh duyên thúc bách mà niệm tưởng giết hại và độc
dữ bùng lên như loài chim súy điểu, như loài rắn mãng xà.
Nhưng biết quy hướng về “bản tâm thanh tịnh” nhờ “Diệu
Âm chiếu tỏa”. Ngay nơi đó trực nhận được niệm tưởng
nhơ nhiễm kia chỉ là “vọng tưởng hư minh” mà giải trừ
được sự thúc bách do các duyên giả lập tác thành. Nên
gọi là “Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Ca lầu la,
Ma hầu la già mà vì đó nói pháp”.
- “Người
đáng dùng thân Nhân cùng Phi nhân đặng độ thoát, liền hiện
thân Nhân cùng Phi nhân mà vì đó nói pháp”.
Nhân
cùng phi nhân là thân người chẳng phải người hoặc dị
hình.
Do
vì niệm tưởng “bất định” (thay đổi không ngừng) mà
chao động khổ đau, như lo lắng, đau buồn, oán trách, mừng
giận, thay đổi liên tục theo cảnh duyên. Nhưng biết quy hướng
về “bản tâm thanh tịnh” nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa”
giải trừ được sự bất định mà trong kinh viện dẫn “Nhân
cùng Phi nhân” tiến vào Phật đạo. Nên gọi là “Quán Thế
Âm Bồ Tát liền hiện thân Nhân cùng Phi nhân mà vì đó nói
pháp”.
Như
thế đã nói lên rằng chúng sinh trong ba cõi, dù mang sắc thân
loại nào trong 12 sắc thân. Mỗi chúng sinh đều có “bản
tâm thanh tịnh”, đều có “Diệu Âm thường chiếu”. Bởi
“Vọng tưởng hư minh” làm che mờ tánh giác. Nhưng biết
quy hướng về tâm, ứng nơi duyên cảnh, mỗi niệm đều tỉnh
giác, hay nói cách khác là “nhất tâm niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát” thì vọng tưởng hư minh kia tức thời tan biến.
Hằng
niệm, hằng niệm đều quy ngưỡng “Quán Thế Âm Bồ Tát”
hay quy ngưỡng về “bản tâm thanh tịnh” thì làm gì không
giải thoát và giác ngộ.
“Này
Vô Tận Ý Bồ Tát ! Quán Thế Âm Bồ Tát đã thành tựu công
đức như thế. Dùng các thân hình dạo đi trong các cõi nước
để độ thoát chúng sinh, cho nên các ngươi phải một lòng
cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát đó
ở trong chỗ nạn gặp sợ hãi hay ban sự vô úy. Cho nên cõi
Ta bà này gọi Ngài là vị Thí Vô Úy”.
“Diệu
Âm chiếu tỏa” được thành tựu những công đức “bất
khả tư nghi” nên chúng sinh một lòng quy hướng “Diệu Âm”.
Có quy hướng thì “vọng tưởng hư minh” mới có thể dứt
trừ, nên gọi Ngài là “Thí Vô Úy” hay “cho cái không sợ
sệt” cái an nhiên tự tại, rỗng sáng, mà tự thể của
chúng sinh đã sẵn có, chỉ biết quay về là trực nhận được
ngay.
“Lúc
bấy giờ Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: Thế Tôn!
Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền mở chuỗi
ngọc bằng các thứ châu báu nơi cổ, giá trị bằng trăm
nghìn lượng vàng đem trao cho ngài Quán Thế Âm Bồ Tát mà
nói rằng: Xin Ngài nhận chuỗi trân bảo pháp thí này”.
Với
ý nghĩa, một khi thúc tâm biết quay về “tánh giác” thì
cái kho tàng quý báu nơi “tự tánh nhiệm mầu” sẽ được
mở bày.
Hay
nói cách khác là “Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát liền mở chuỗi
ngọc bằng các thứ báu giá trị trăm nghìn lượng vàng”.
Vì
“Vô Tận Ý” như đã nêu từ trước là biểu tượng, tương
trưng cho ý tưởng sâu xa thẳm suốt. Một khi đã rõ thông
các pháp vi diệu do Đức Thế Tôn tuyên bày. Nhận ra được
“Diệu Âm thường chiếu” ở thân mình. Đó là sự quý
báu vô cùng, không có thứ châu báu nào so sánh được.
Nhưng
sự trực nhận quý báu như “xâu chuỗi ngọc báu” đó cũng
chưa phải là rốt ráo. Vì đó chỉ mới là “trực nhận”
chưa phải là những “đức tướng vi diệu từ Diệu Âm chiếu
tỏa”, hiện hành để giác hữu tình. Nên sự trực nhận
kia cần phải thăng hoa để hướng về “Đức dụng Quán
Thế Âm”.
Hơn
nữa, Quán Thế Âm Bồ Tát là biểu tượng, tượng trưng cho
“giác pháp” hiện hành, phát xuất từ “bản giác
diệu minh”. Nhận được như thế đó làsự quý báu vô lượng
của “ý tưởng thẳm sâu”.
Làm
thế nào đưa ý tưởng thẳm sâu như vậy về thực tại hiện
hành, hay về đức dụng Quán Thế Âm? Điều đó chỉ có “Tri
kiến Như Lai” mới dung thông được.
Do
vậy Đức Thế Tôn đã bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: “Người
nên thương Vô Tận Ý và hàng tứ chúng mà nhận chuỗi ngọc
đó”.
Nghĩa
là phải nhờ đến “tri kiến Như Lai” chiếu phá đưa tư
tưởng thẳm sâu về “giác pháp”. Do vậy khi hiện hành
“giác pháp” mới “vô trụ vô chấp” được.
Cho
nên “Quán Thế Âm Bồ Tát thương hàng tứ chúng, trời rồng....
mà nhận chuỗi ngọc đó”.
Nghĩa
là “giáp pháp” sở dĩ hiện hành hay “Quán Thế Âm Bồ
Tát” sở dĩ nhận chuỗi ngọc là từ “thử tánh viên minh”
thương xót chúng sinh mà hiện hành hay Quán Thế Âm Bồ Tát
thương xót chúng sinh mà nhận chuỗi.
Pháp
“Quán Thế Âm Bồ Tát” hiện hành vi diệu, để “giác
hữu tình” đều có chỗ nhận mà nhận, đâu có chỗ trụ
mà trụ. Tất cả giác pháp đều phát xuất từ “bản tâm
thanh tịnh” thương xót chúng sinh mà dùng phương tiện “ứng
cơ tiếp vật”. Do vậy mà “Quán Thế Âm Bồ Tát” nhận
chuỗi anh lạc vô giá pháp thí là chia làm hai phần:
- Một
phần dâng tháp Phật Đa Bảo.
- Một
phần dâng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.
Với
ý nghĩa ý tưởng thẳm sâu nhận ra “giác pháp” và “giác
pháp” được hiện hành để giác hữu tình đã phát xuất
từ bản giác và đó chính là “đức dụng của bản giác”.
- Bản
giác là tượng trưng cho Đức Đa Bảo.
- Đức
dụng của bản giác là tượng trưng cho Đức Thích Ca. Tượng
trưng cho “trí tuệ Bát Nhã”.
Giác
pháp bắt nguồn từ “bản giác và trí tuệ”.
Do
vậy mà “Quán Thế Âm Bồ Tát đã dâng chuỗi ngọc báu,
một phần cho Đức Đa Bảo, một phần cho Đức Thích Ca”.
Điều đó đã nói lên ý nghĩa rằng thể và dụng không hai.
Thể và dụng và tự tánh nhiệm mầu.
Cũng
chính từ ý nghĩa đó mà Đức Thế Tôn đã từ “bản giác
diệu minh” xuất nhập tự tại, thị hiện đồng cư với
chúng sinh để dìu dắt uốn nắn, cho đến hôm nay căn cơ
của chúng hội đã thuần thục, Đức Thế Tôn mới thuyết
pháp “Quán Thế Âm Bồ Tát” để chúng sinh thể nhập “Tri
kiến Phật” nơi tánh mình.
Do
vậy phần trùng tụng một lần nữa Đức Thế Tôn đã ân
cần nhắc nhở về pháp “Quán Thế Âm Bồ Tát” này.
Ngài
đã nêu rõ “Mỗi chúng sinh đều có Diệu Âm thường chiếu”.
Trong từng niệm khởi “Diệu Âm” ấy sẽ chiếu phá được
“vọng tưởng hư minh” làm cho niệm khởi mê thành giác.
Muốn
được như thế thì mỗi chúng sinh đều phải có sự thệ
nguyện rộng sâu và luôn luôn “hầu nhiều nghìn Đức Phật”
hay luôn luôn hướng về “tánh giác”. Chỉ có sự phát nguyện
như thế thì “hạnh Quán Âm” hay “Diệu Âm” mới chiếu
tỏa được, hay “khéo ứng” được.
Nên
phần trùng tụng đã nêu.
Kệ
đáp Vô Tận Ý,
Người
nghe hạnh Quán Âm,
Khéo
ứng các nơi chỗ,
Thệ
rộng sâu như biển,
Nhiều
kiếp chẳng nghĩ bàn,
Hầu
nhiều nghìn Đức Phật,
Phát
nguyện thanh tịnh lớn”.
Và
một khi đã thệ nguyện rộng lớn luôn luôn hướng về “bản
tâm thanh tịnh” thì sẽ nghe được “tiếng huyền diệu
của chân tình”, sẽ thấy rõ được hành vi tạo tác hiện
hành xứng hợp với tiếng huyền diệu ấy, mà giải thoát
mọi khổ đau do “vọng tưởng hư minh” dựng lập, nên gọi
là:
Nghe
tên cùng thấy thân,
Tâm
niệm chẳng luống qua
Hay
diệt khổ các cõi.
Nếu
chúng sinh nào khởi niệm: thương yêu, buồn vui... làm cho thân
tâm dao động, thọ nhận khổ đau. Giống như “có người
sinh lòng hại mà xô rớt xuống hầm lửa”. Ngay lúc đó biết
quy hướng về “Tâm” nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” hay nhờ
“lực niệm Quán Âm” mà dứt trừ được niệm khởi mê
nhiễm, thân niệm liền được an định, giống như “hầm
lửa mà kẻ kia bì xô xuống lại biến thành ao mát vậy”.
Giả
sử sinh lòng hại
Xô
rớt xuống hầm lửa
Nhờ
lực niệm Quán Âm
Hầm
lửa biến thành ao.
- Hoặc
có khi chúng sinh bị “dòng nước ái” cuốn lôi vào biển
lớn của”ác tưởng”, thân tâm rơi vào cảnh giới của
ngạ quỷ, súc sinh...
Ngay
lúc đó biết quy hướng về “Tâm” nghe tiếng huyền diệu
của chân tâm hay nhờ “lực niệm Quán Âm” thì lập tức
“ác tưởng” đang bùng lên như làn sóng sắp làm chìm ngập
thân tâm liền được giải trừ.
Hoặc
trôi giạt biển lớn
Mắc
nạn quỷ, cá, rồng
Nhờ
lực niệm Quán Âm
Sóng
chẳng làm chìm đặng
- Hoặc
có khi tâm tưởng đang được “thanh tịnh tuyệt vời như
ở chót núi Tu Di”. Bỗng gặp “trần cảnh” niệm khởi
vướng nhiễm bùng lên làm cho thân tâm dao động, như bị
người xô từ chót núi Tu Di rơi xuống. Ngay lúc đó biết
quy hướng về “Tâm” nghe “tiếng huyền diệu của chân
tâm” hay nhờ “lực niệm Quán Âm” mà thân tâm liền an
định. Giống như kẻ kia đang bị xô rớt từ đỉnh núi Tu
Di xuống, bỗng nhiên được cứu vớt như “mặt trời trụ
giữa hư không”.
Hoặc
ở chót Tu Di
Bị
người xô rớt xuống
Do
sức niệm Quán Âm
Như
mặt nhật trụ không.
- Hoặc
có lúc chúng sinh bị cuốn lôi vì ngũ dục làm cho sự tinh
tấn, kiên cố, thiền định... bị tiêu hủy. Giống như kẻ
bị người dữ rượt làm cho “rớt xuống núi Kim Cang”.
Nghĩa là làm cho hoảng sợ mà mất đi sự cứng rắn, can đảm
của mình. Ngay lúc đó biết quay về với “tự tánh” thì
“Diệu Âm thường chiếu” sẽ phá tan “vọng tưởng hư
minh” đang vướng nhiễm về sự hoảng sợ, hay còn gọi là
nhờ “lực niệm Quán Âm” mà đặng giải thoát như “rớt
xuống núi Kim Cang mà chẳng tổn đến mảy lông”.
Hoặc
bị người dữ rượt
Rớt
xuống núi Kim Cang,
Do
sức niệm Quán Âm
Chẳng
tổn đến mảy lông
- Hoặc
có lúc chúng sinh khởi lên ác tưởng. Ác tưởng đó lại
sắp hiện hành, giống như kẻ nhiều “oán tặc vây và oán
tặc kia đang tiến hành làm hại” ngay lúc đó nhờ “lực
niệm Quán Âm” hay nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” làm cho niệm
khởi ác đều trở thành thiện niệm hay kẻ oán tặc lại
khởi tâm lành.
Hoặc
oán tặc bao vây,
Đều
cầm dao làm hại,
Do
sức niệm Quán Âm,
Đều
liền sinh lòng lành.
- Hoặc
có lúc chúng sinh gây nên tội lỗi rồi bị ám ảnh bởi tội
lỗi, giống như kẻ bị pháp luật hành hình. Ngay lúc đó
niệm danh hiệu Quán Thế Âm hay “Diệu Âm chiếu tỏa” thì
sự ám ảnh kia sẽ dần dần tiêu hủy, hay sự hành xử bị
tội được giải trừ.
Hoặc
bị khổ nạn vua,
Khi
hành hình sắp chết,
Do
sức niệm Quán Âm,
Gươm
liền gãy từng đoạn.
- Hoặc
có lúc chúng sinh vì cảnh dục lôi cuốn trói buộc, giống
như bị “gông cùm xiềng xích”, nhờ sức niệm Quán Âm
hay “Diệu Âm chiếu tỏa” thì “vọng tưởng tham cầu”
sẽ được tiêu trừ, sợi xích kia được tháo rã.
Hoặc
tù cấm xiếng xích
Tay
chân bị gông cùm,
Do
sức niệm Quán Âm,
Tháo
rã đặng giải thoát.
- Hoặc
có lúc chúng sinh bị kẻ dữ khởi niệm hại mình, do sức
niệm Quán Âm, hay “Diệu Âm chiếu tỏa”, tư tưởng hãm
hại kia chẳng làm lay động mình và chính tư tưởng ấy dằn
vặt nơi kẻ khởi niệm.
Nguyền
rủa các thuốc độc,
Muốn
hại đến thân mạng,
Do
sức niệm Quán Âm,
Trở
lại hại bổn nhân.
- Hoặc
có lúc chúng sinh niệm tưởng xấu ác hung hiểm dấy khởi
như: hung hăng, sân độc, bạo ngược... giống như gặp “La
sát dữ, rồng độc, các loài quỷ”. Nhờ “sức niệm Quán
Âm” hay “Diệu Âm chiếu tỏa”, ác tưởng kia liều tiêu
trừ và hành động hung hiểm không thể nào thực hiện được.
Hoặc
gặp La sát dữ,
Rồng
độc các loại quỷ
Do
sức niệm Quán Âm
Liền
đều không dám hại
- Hoặc
có lúc chúng sinh gặp duyên cảnh nghịch bức ngặt nên khởi
niệm giận hờn, đau buồn, thù oán... như “thú dữ vay quanh,
nanh vuốt đáng sợ”. Ngay lúc đó chúng sinh biết quy hướng
về “bản tâm thanh tịnh” hay còn gọi là do “sức niệm
Quán Âm” mà tư tưởng ác hại vừa dấy khởi liền thôi
dứt như “ác thú hoảng sợ quay đầu bỏ chạy”.
Hoặc
thú dữ vây quanh,
Nanh
vuốt nhọn đáng sợ,
Do
sức niệm Quán Âm,
Vội
vàng bỏ chạy thẳng.
- Hoặc
có lúc chúng sinh khởi niệm thâm độc âm thầm hại người
như “loài rắn độc cùng bò cạp”. Niệm khởi ấy lại
được tiến hành sử dụng để hại người như “hơi độc,
khói lửa đốt người”, nhờ biết hồi quang phản chiếu
hay do “sức niệm Quán Âm” mà các niệm tưởng âm thầm
đó tự thôi dứt.
Rắn
độc cùng bò cạp,
Hơi
độc khói lửa đốt,
Nhờ
lực niệm Quán Âm,
Theo
tiếng tự bỏ đi
- Hoặc
có lúc chúng sinh vì tham dục bốc cao như “giông nổi sấm
sét” thúc bách tìm cầu để thỏa mãn tham dục như “thiên
nhiên đổ mưa đá lớn”. Trực nhận bản tâm nhờ “Diệu
Âm chiếu tỏa”. Vọng tưởng hư minh của tham dục bị tiêu
trừ hay “cơn mưa đá kia” tự nhiên thôi dứt.
Mây
giăng nổi sấm sét,
Đổ
trận mưa đá xuống,
Do
sức niệm Quán Âm,
Tưc
thì đặng tiêu tan.
Vì
“vọng tưởng hư minh” làm cho chúng sinh lầm chấp rơi vào
cảnh tương ưng giả lập để nhận chịu khổ đau chìm ngập
trong vũng lầy sinh tử.
Suốt
trong ba thời: hiện đại, quá khứ, vị lai, và trong ba cõi:
Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, chúng sinh luôn luôn bị
khổ ách và bức ngặt. Nếu biết quay về “tự tánh nhiệm
mầu”, nhờ “Diệu Âm thường chiếu” thì “vọng tưởng
hư minh” kia sẽ được tiêu trừ mà giải thoát được bức
ngặt đó.
Chúng
sinh bị khổ ách,
Vô
lượng khổ bức thân,
Quán
Âm diệu trí lực,
Năng
cứu thế gian khổ.
Nhờ
“Diệu Âm chiếu tỏa” nên đã nhận rõ được những niệm
khởi làm mê. Để từ đó dùng phương tiện khác mà vượt
qua sự trói buộc các “vọng tưởng hư minh” khắp cả pháp
giới, khi tâm cảnh tương phân thì “vọng tưởng hư minh”
dấy khởi, và cũng khắp cả pháp giới khi “tâm cảnh nhất
như” cũng đều có “Diệu Âm thường chiếu” để giải
trừ mê lộ do “vọng tưởng hư minh” dựng lập.
Do
vậy mà Quán Thế Âm Bồ Tát có đầy đủ sức thần thông.
Đầy
đủ sức thần thông
Rộng
tu trí phương tiện
Các
cõi nước mười phương
Không
cõi nào chẳng hiện
Dù
cho chúng sinh có ở trong các đường dữ như địa ngục, ngạ
quỹ, súc sinh, hoặc ở trong cảnh đổi thay của mỗi sắc
thân của mỗi loài như “sinh, già, bệnh, chết” làm cho
thân tâm đau khổ. Nhưng biết hồi quang phản chiếu hay do
“sức niệm Quán Âm” thì tâm tưởng khổ đau kia liền được
giải thoát.
Các
loài trong đường dữ
Địa
ngục, quỷ, súc sinh
Sinh,
lão, bệnh, chết, khổ
Lần
đều khiến dứt hết.
Như
vậy “Diệu Âm thường chiếu” hay Quán Thế Âm cũng chính
là:
- Chân
quán, nghĩa là nhận được tướng chân thật của vạn pháp.
Thể nhập được “tự tánh nhiệm mầu”.
- Cũng
chính là “Thanh tịnh quán” nghĩa là rõ “bản tâm thanh
tịnh”.
- Cũng
chính là “trí huệ quán” nên nhận rõ được “vọng tưởng
hư minh” đang dấy khởi khi ứng tiếp với khách trần.
- Cũng
chính là “Bi quán” nên nhận rõ “vọng tưởng hư minh”
làm khổ đau và giải trừ vọng tưởng ấy.
- Cũng
chính là “Từ quán” nên nhận rõ được cách dùng phương
tiện để giải thoát khổ đau. Do vậy, chúng sinh nào muốn
giải thoát khổ đau thì phải có sự kiên quyết thệ nguyện
rộng sâu là “niệm Quán Thế Âm Bồ Tát” một cách thường
xuyên liên tục. Để từ đó mặt trời huệ tự chiếu mà
phá tan “vọng tưởng hư minh”.
Do
vậy mà đoạn kinh đã nêu:
Chân
quán, thanh tịnh quán,
Trí
huệ quán rộng lớn
Bi
quán và Từ quán
Thường
nguyện thường chiêm ngưỡng
Sáng
thanh tịnh không nhơ
Mặt
trời huệ phá tối.
Chính
vì niệm Quán Thế Âm thường xuyên như thế mà bát phong không
nhiễu động, lửa tham dục, sân hận, phiền não... dứt trừ
nên “trí huệ rộng mở”.
Niệm
bi mạnh như sấm
Ý
từ diệu dường mây.
Và
“niệm Quán Thế Âm Bồ Tát” ngay lập tức chúng sinh cảm
thấy như uống nước cam lồ để dập tắt “phiền não chướng
và sở tri chướng”.
Năng
dẹp tai gió lửa,
Khắp
soi sáng thế gian
Giới
bị thể như sấm
Ý
từ diệu dường mây
Rưới
mưa pháp cam lồ
Dứt
trừ lửa phiền não.
Và
cũng vì thế mà những “niệm tưởng bất định”, không
rõ thiện ác chỉ là “vọng tưởng hư minh” giống như hai
kẻ “thưa kiện đến chỗ quan” giống như kẻ ở trong quân
trận chưa rõ hơn thua mà đã sợ sệt.
Do
“sức niệm Quán Âm” hay nhờ “Diệu Âm chiếu tỏa” mà
niệm tưởng bất định kia được giải trừ.
Thưa
kiện đến chỗ quan
Trong
quân trận sợ sệt
Do
sức niệm Quán Âm
Cừu
oán đều lui tan
Như
thế “Quán Thế Âm” chính là “Diệu Âm chiếu tỏa” nên
được trong sáng. Như “Phạm âm” có sức mạnh trào dâng
như tiếng “hải triều” tiêu hủy tất cả tiếng nói do
“vọng tưởng hư minh” dựng lập, nên gọi là hơn các tiếng
thế gian vì thế mà chúng sinh thường phải niệm.
Diệu
Âm, Quán Thế Âm
Phạm
Âm, Hải Triều Âm
Hơn
các tiếng thế gian
Cho
nên thường phải niệm
Từng
niệm, từng niệm sinh diệt nối nhau, theo cảnh duyên mà dấy
khởi nên tạo ra “tam giới”. Tạo ra các cõi để rồi những
niệm tưởng kia dẫn dắt chúng sinh “Sinh, tử, luân hồi”.
Nếu biết thường xuyên liên tục “niệm Quán Thế Âm”,
nghĩa là thường xuyên liên tục quay về “tự tánh nhiệm
mầu” thì những niệm tưởng tham, sân, mê nhiễm không còn
chỗ dính mắc. Niệm niệm đều do “Diệu Âm chiếu tỏa”.
Niệm đó là niệm giác, niệm thanh tịnh nên “Quán Thế Âm”
gọi là “Tịnh Thánh”.
Chính
vì Tịnh Thánh mà đã nhận và giải trừ được niệm tưởng
xấu ác làm khổ đau cho chúng sinh. Quán Thế Âm Bồ Tát là
đức dụng của “bản tâm thanh tịnh” có đầy đủ công
đức, là mắt lành của “vọng tưởng hư minh”, là biển
phước lớn không lường cho nên phải đảnh lễ.
Niệm
niệm chớ sinh nghi
Quán
Âm bậc tịnh thánh
Nơi
khổ não nạn chết
Nay
làm chỗ nương tựa
Đầy
đủ cả công đức
Mắt
lành trông chúng sinh
Biển
phước lớn không lường
Cho
nên phải đảnh lễ
Đến
đây ngài Trì Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy
mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sinh nào nghe
Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát đạo nghiệp tự tại phổ môn
thị hiện sức thần thông này phải biết công đức người
đó chẳng ít”.
Với
ý nghĩa Ngài Trì Địa Bồ Tát là biểu tượng, tượng trưng
cho “đất tâm”, mảnh đất tâm này chứa đựng đầy đủ
hằng sa công đức tự tại dung thông. Nếu chúng sinh nào nghe
và tin hiểu rằng mình có “Diệu Âm thường chiếu” ở
nơi đất tâm ấy và không gì hơn nếu chúng sinh thường niệm
Quán Thế Âm.
Nghĩa
là nếu chúng sinh sống xứng hợp với “Tri kiến Như Lai”
thì “Diệu Âm thường chiếu” sẽ hiện hành đầy những
đức tướng vi diệu, để từ đó “ứng cơ tiếp vật, giác
hữu tình”.
Lúc
Phật nói Phẩm Phổ Môn này trong chúng có tám muôn bốn nghìa
chúng sinh đều phát tâm vô đẳng. Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch