Phẩm
Diệu Âm Bồ Tát
Thứ
Hai Mươi Bốn
Nhận
rõ “sắc thân” do “tự tánh nhiệm mầu” biển hiện nên
không bị nhiễm chấp bởi “sắc thân nào cả”. Liễu triệt
như thế mới gọi là “đốt thân cúng dường Phật và
mới đạt thành thể hiện nhất thiết sắc thân tam muội”.
Nhưng
đó mới chỉ là phá trừ “sắc ấm”, còn “thọ ấm”
chưa phá trừ được, thì cái “vọng tưởng hư minh” nhận
làm sự nghe, hay biết nơi sắc thân cho là của “tự tánh
nhiệm mầu”. Ví như sự thương xót chúng sinh được ứng
với lòng đại từ đại bi của chư Phật, chư Bồ Tát. Nhưng
nếu không nghe tiếng nói “huyền diệu của chân tâm” để
hiện hành những đức tướng vi diệu thì sự thương xót
kia sẽ mắc vào “ái kiến đại bi” tâm trí dao động không
đủ sáng suốt để nhận ra tính không tịch của sự vật.
Những hành vi tạo tác sẽ do vọng tưởng hư minh sai sử.
Do
vậy, Phẩm “Diệu Âm Bồ Tát” được thiết lập để phá
trừ “thọ ấm” đưa chúng sinh vào nơi chánh định, chánh
thọ, đạt đến chỡ “vô sắc đắc”.
“Lúc
bấy giờ Đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ nhục kế phóng
ra ánh sáng. Và phóng ánh sáng từ tướng lông trắng giữa
chân mày, soi khắp 800 ức na do tha hằng hà sa các cõi Phật
ở phương Đông. Qua khỏi số cõi đó có thể giới tên Tịnh
Quang Trang Nghiêm, nước đó có Phật hiệu Tịnh Hoa Tú Vương
Trí Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri... Phật Thế Tôn. Aùnh
sáng lông trắng của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật soi khắp cõi
nước đó”.
Ánh
sáng từ nhục kế và từ lông trắng giữa chặn mày là tượng
trưng cho trí tuệ Bát Nhã tuyệt vời không bị mắc kẹt trong
sự tương phân đối đãi, không mắc kẹt trong 800 muốn ức
đức tướng trang nghiêm phát xuất từ “tâm địa nhiệm
mầu”.
“Qua
khỏi số cõi đó” tức là vượt qua sự vướng chấp bởi
những hành vi tạo tác vi diệu khi ứng cơ tiếp vật. Lúc
đó mới nhận ra được tất cả hành vi tạo tác đều không
ngoài “bản tâm thanh tịnh”. Hay nói cách khác là: thế giới
“Tịnh Quang Trang Nghiêm” và chính nơi đó có “Đức Phật
hiệu Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai”. Nghĩa là chính nơi
“bản tâm thanh tịnh” có trí tuệ Bát Nhã tuyệt vời.
Trong
nước “Tịnh Quang Trang Nghiêm có một Bồ Tát tên là Diệu
Âm”. Điều đó đã chứng minh được rằng ở nơi “bản
tâm thanh tịnh” có tiếng nói “huyền diệu nhiệm mầu”.
Tiếng nói ấy bao gồm trăm nghìn muôn ức hằng sa tam muội
hay “Bồ Tát Diệu Âm đặng trăm nghìn muôn ức tam muội
như : Diệu tràng tướng tam muội, Pháp Hoa tam muội, Tịnh
Đức tam muội, Thần thông du hí tam muội... (nghĩa là ở nơi
đó có cảnh giới chánh định, lý đạo Nhất thừa, đức
tâm thanh tịnh, trí Bát Nhã tuyệt vời). “Diệu Âm” ấy
đã đặng trăm nghìn muôn ức hằng sa tam muội. Thì chỉ có
“Tri kiến Phật” mới soi thấy được.
Do
vậy mà “Quang minh của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật soi đến
mới thấy được Bồ Tát Diệu Âm”.
“Tri
kiến Phật” và tiếng nói huyền diệu kia đã có trong tự
thể của mỗi người chúng sinh, nên Phật quang vừa soi đến
thì tiếng nói kia liền hiển bày.
Bởi
thế mà “Bồ Tát Diệu Âm” đã xin Đức Tịnh Hoa Tú Vương
Trí Như Lai đến cõi Ta bà. Khi đó Đức Tịnh Hoa Tú Vương
Trí Như Lai bảo Ngài Diệu Âm Bồ Tát: “Ông chớ khinh cõi
nước Ta bà sinh lòng tưởng là hạ liệt”.
Điều
đó đã nhắc cho mọi chúng sinh hiểu rằng “mặc dù còn
mang đầy phiền não chướng và sở tri chướng, nghĩa là còn
“vọng tâm điên đảo”, nhưng chớ khinh rằng chẳng có
“Diệu Âm”.
Nên
Đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí dạy tiếp: “Thiện nam tử! Cõi
Ta bà kia cao thấp không bằng, các núi đất đá đầy đủ
sự dơ xấu, thân Phật kém nhỏ”.
Với
ý nghĩa: Chúng sinh chỉ vì “vọng tâm điên đảo” nhiễm
trước cảnh duyên, xao xuyến, dao động khởi niệm phân biệt,
ví như “các núi đất đá không bằng”, chính vì thế mà
những hành vi tạo tác đều “đầy dẫy sự dơ xấu”.
Ánh
sáng giác chưa tỏa khắp nơi nên “thân Phật còn kém nhỏ”.
Chỉ khi nào “bản tâm thanh tịnh” nghe được tiếng nói
huyền diệu của chân tâm. Mọi đức tướng đều trang nghiêm
thanh tịnh, như Bồ Tát Diệu Âm, thì thân sẽ cao bốn muôn
hai nghìn do tuần tốt đẹp thứ nhất.
Có
được như thế cũng chỉ vì chẳng tự khinh mình là hạ liệt
mà cho là chẳng có “Diệu Âm”.
“Lúc
ấy Ngài Diệu Âm Bồ Tát bạch với Đức Tịnh Hoa Tú Vương
Trí Như Lai: Bạch Đức Thế Tôn ! Con qua cõi Ta bà đều do
sức thần của Như Lai, do thần thông du hí của Như Lai”.
Nghĩa
là chúng sinh muốn nhận ra được tiếng huyền diệu của
chân tâm thì phải nhờ đến trí tuệ Bát Nhã, hay còn gọi
nhờ “thần thông du hí của Như Lai”.
Nhưng
trước khi đến cõi Ta bà, ngài Diệu Âm Bồ Tát đã hiện
tướng “chẳng rời khỏi tòa, cách pháp tòa chẳng bao xa
hóa làm tám muôn bốn nghìn hoa sen báu”.
Như
vậy có ý nghĩa rằng: tiếng huyền diệu ấy ở ngay nơi “bản
tâm thanh tịnh” nên gọi là “chẳng rời khỏi tòa, thân
chẳng lay động”. Nhưng tiếng huyền diệu ấy từ bản tâm
đã hiển bày những đức tướng vi diệu như “84 nghìn hoa
sen báu đẹp”. Đó là biểu tượng tượng trưng cho cái dụng
của tự tánh, cái dụng của tiếng huyền diệu. Chứ chưa
phải là “tự tánh nhiệm mầu” nên gọi là “cách pháp
tòa chẳng bao xa”.
Do
vậy mà Ngài Văn Thù Sư Lợi đã thấy ngay “tám muôn bốn
nghìn hoa sen báu đẹp” đó. Vì Ngài Văn Thù là bậc đại
trí, tượng trưng cho “trí” mà “trí” là dụng của “tự
tánh” chứ chưa phải là “tự tánh” nên Ngài Văn Thù chưa
thấy được “Diệu Âm”.
Vì
thế chúng hội muốn thấy được “Diệu Âm” Bồ Tát thì
phải nhờ đến “Đức Đa Bảo Như Lai” mới vời được
“Diệu Âm” đến cõi Ta bà được.
Nghĩa
là muốn nhận ra “tiếng huyền diệu của chân tâm” thì
phải nhờ đến “bản giác diệu minh” chứ không phải dùng
“trí dụng” mà thấy được.
Bởi
vì “Đức Đa Bảo Như Lai” là biểu tượng tượng trưng
cho “bản giác” hay “bản tâm thanh tịnh” của mỗi chúng
sinh đều có vậy.
Nên
“lúc bấy giờ Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù
Sư Lợi : Đức Đa Bảo Như Lai đã diệt độ từ lâu, sẽ
vì các ông hiện bày thân tướng của Bồ Tát đó”.
Nơi
cõi Ta bà chúng sinh nào muốn thấy “Diệu Âm” thì lục
căn phải thanh tịnh, không nhiễm trước bởi sự thấy, nghe
hay biết của sắc thân. Bởi vì “Diệu Âm” đẹp đẽ rỡ
ràng cao quý như “trăm nghìn muôn mặt trăng hòa hiệp”,
cũng không bằng vẻ đẹp của “Diệu Âm”. Đã thế lại
không bị thời gian và không gian chi phối. Như “thân sắc
vàng ròng vô lượng trăm nghìn công đức trang nghiêm”.
Và
“Diệu Âm” chỉ hiển bày nơi thể “hiện nhất thiết
sắc thân tam muội”. Hay chuyển thất đại thành thất bảo.
Nên đoạn kinh đã viện dẫn:
“Bấy
giờ Ngài Diệu Âm Bồ Tát nơi cõi nước kia ẩn mặt, cùng
với tám muôn bốn nghìn Bồ Tát đồng nhau qua cõi Ta bà, ở
các cõi nước trải qua sáu điệu vang động, thảy đều rưới
hoa sen bằng bảy báu, trăm nghìn nhạc trời chẳng trổi tự
kêu, mắt của các Bồ Tát như cánh hoa sen xanh rộng lớn,
giả sử hòa hiệp trăm nghìn muôn mặt trăng, diện mạo của
Ngài lại tốt đẹp hơn nhiều, thân sắc vàng ròng vô lượng.
Ngài vào đài thất bảo bay lên hư không, đến núi Kỳ Xà
Quật ở cõi Ta bà, đến rồi xuống tòa thất bảo”.
Đoạn
kinh đó với ý nghĩa đã nêu trên, đã nói lên rằng : tiếng
huyền diệu của chân tâm vô cùng cao quý, chỉ có trí tuệ
Bát Nhã mới nhận ra được sự vi diệu cao quý đó”.
Do
vậy “Bồ Tát Diệu Âm” đã dâng chuỗi ngọc vô giá cho
Đức Thích Ca Mâu Ni Phật để cúng dường là ý nghĩa đó.
Cúng
dường và vấn an Đức Thế Tôn đó là đức tướng vi diệu
phát xuất từ “tiếng huyền diệu” vừa chiếu tỏa, làm
phương tiện cho chúng sinh quy hướng về “bản tâm thanh tịnh”
mà nhận ra tiếng huyền diệu ở nơi mình.
Nhưng
muốn nhận được “tiếng huyền diệu” ấy thì “tâm hãy
hỏi tâm”. Có:
- Ít
bệnh, ít khổ, đi đứng có thơ thới, sở hành có an vui chăng?
- Bốn
đại điều hòa chăng?
- Việc
đời có nhẫn được chăng?
- Chúng
sinh có dễ độ chăng?
- Sự
tham dục, giận hờn, ngu si, ganh ghét, bỏn xẻn, kiêu mạn
có nhiều chăng?
- Chẳng
thảo với cha mẹ, chẳng kính sa môn, tà kiến, tâm chẳng
lành chăng?
- Có
nhiếp năm tình chăng?
- Có
hàng phục được ma oán chăng?
- Đức
Đa Bảo Như Lai diệt độ từ lâu trong tháp báu có đến nghe
pháp chăng?
Những
lời hỏi ấy được hiển bày một cách rất vi diệu, mà
đoạn kinh nêu là Ngài Diệu Âm Bồ Tát đã bạch cùng Đức
Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn ! Đức Tịnh Hoa Tú Vương
Trí Phật hỏi thăm Đức Thế Tôn bằng những câu hỏi vừa
mới nêu trên.
Đó
là ý chỉ thâm diệu muốn nói lên rằng: “tâm hãy hỏi tâm”,
hỏi tâm qua “tiếng huyền diệu”. Như thế là đã cúng
dường Đức Thích Ca. Như thế là ra mắt Đức Đa Bảo cùng
nghe kinh Pháp Hoa và ra mắt chư Đại Bồ Tát.
Tánh
trí không hai, “tiếng huyền diệu” kia không ngoài “tánh
trí”. Do vậy, sau khi hỏi thăm “Đức Thích Ca Mâu Ni Phật”
cùng ra mắt “Đức Đa Bảo Như Lai”. Được Đức Đa Bảo
khen rằng: “Hay thay ! Hay thay ! Ông có thể vì cúng dường
Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và nghe kinh Pháp Hoa cùng ra mắt
Văn Thù Sư Lợi... mà qua đến cõi này”.
Ngay
lúc đó Ngài Hoa Đức Bồ Tát bạch cùng Đức Thích Ca Mâu
Ni Phật rằng: Ngài Diệu Âm Bồ Tát trồng cội lành gì? Tu
công đức gì? Mà có sức thần thông như vậy?
Đức
Phật bảo Ngài Hoa Đức Bồ Tát rằng: “Thuở quá khứ có
Phật hiệu Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến
tri... cõi nước tên “Hiện Nhất Thiết Thế Gian”, Diệu
Âm Bồ Tát trong một vạn hai ngàn năm, dùng mười muôn thứ
kỷ nhạc cúng dường Đức Vân Lôi Âm Vương Phật. Do nhân
duyên quả báo đó nay sinh lại nước của Đức Tịnh Hoa Tú
Vương Trí Như Lai”.
Do
vì không nhiễm trước bởi âm thanh của 12 loại chúng sinh.
Tiếng huyền diệu lại phát xuất từ “bản tâm thanh tịnh”
nên có oai lực mạnh mẽ như “tiếng sấm vang”, hay gọi
là “Vân Lôi Âm”. Chính vì nhân duyên vi diệu như thế mà
phát ra thâu vào “vô ngại tự tại” vẫn không ngoài tâm
trí, hay nói cách khác “do vì nhân duyên quả báo như thế
mà nay sinh lại nước của Đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như
Lai”.
Ý
ông nghĩ sao?
- Diệu
Âm Bồ Tát đâu phải người nào xa lạ thuở đó, chính là
Diệu Âm Bồ Tát hiện tiền.
Liễu
triệt được như thế mới nhận ra được rằng: “tiếng
huyền diệu” kia không ngoài “tự tánh nhiệm mầu”. Nên
bất cứ loại chúng sinh nào từ “Phạm Vương, Đế Thích,
Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Thiên Đại Tướng Quân,
Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Chuyển Luân Thánh Vương, Tiểu Vương,
Trưởng Giả, Cư Sĩ, Tể Quan, hoặc Trời, Rồng, Dạ xoa, A
tu la, Nhân cùng Phi Nhân...” ở mỗi mỗi chúng sinh trong các
loại chúng sinh đó đều có “tiếng huyền diệu của chân
tâm”. Để từ đó sáng soi, nhắc nhở, an ủi, dìu dắt,
uốn nắn cho chúng sinh quay về với “tự tánh nhiệm mầu”.
Một
khi “tiếng huyền diệu” hiện lên hay trỗi dậy thì sự
sân hận, si mê và nhiễm chấp nơi từng loại chúng sinh, nơi
từng sắc thân, nơi từng quả vị đều được giải thoát
một cách tuyệt vời.
Nên
“Nếu chúng sinh nào đáng dùng thân Thanh văn đặng độ thoát
thì Diệu Âm Bồ Tát liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói
pháp”.
Với
ý nghĩa những chúng sinh nào tu theo pháp Tứ Đế, chứng được
quả vị Thanh văn lìa “chấp ngã” nhờ “tiếng huyền diệu
của chân tâm” sẽ nhận ra được nguồn gốc hư vọng của
phiền não, thông đạt được pháp diệt hư vọng cùng huyễn
hư mà lìa “chấp pháp” để đạt đạo Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác.
- Nếu
đáng dùng thân Bồ Tát mà độ thoát liền hiện thân Bồ
Tát mà vì đó nói pháp.
Với
ý nghĩa chúng sinh nào tu theo pháp bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, nhờ “tiếng huyền
diệu của chân tâm” mà loại trừ được “vi tế vô minh”
để đạt thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Theo
chỗ đáng độ mà chúng sinh hiện ra các thứ thân hình như
thế, nhẫn đến đáng dùng diệt độ đặng độ thoát liền
thị hiện diệt độ mà độ thoát.
Nghĩa
là chúng sinh nào an trụ vào nơi “tịch diệt vô vi” mà
hướng về đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì “tiếng
huyền diệu của chân tâm” sẽ hiển bày ở nơi thể “tịch
diệt vô vi” làm cho chúng sinh đó đạt thành đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
“Tiếng
huyền diệt ấy” không phải khởi từ vọng thức điên đảo
khi ứng tiếp khác trần mà phát xuất từ “bản tâm thanh
tịnh” sáng suốt nhiệm mầu”.
Cho
nên Ngài Hoa Đức Bồ Tát đã bạch với Đức Thích Ca Mâu
Ni Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn ! Bồ Tát đã trụ tam
muội gì mà có thể ở các nơi biến hiện thân hình độ
thoát chúng sinh như thế?.
Phật
bảo Ngài Hoa Đức Bồ Tát: Thiện nam tử! Tam muội đó tên
là “hiện nhất thiết sắc thân”.
Với
ý nghĩa, ở nơi bất cứ sắc thân nào, bất cứ chúng sinh
loại nào, bất cứ đức tướng nào hiện hành, tiếng huyền
diệu kia vẫn ứng hiện một cách vi diệu. Bởi vì tiếng
ấy không ngoài “tự tánh nhiệm mầu”.
Như
thế sự thấy, nghe, hay, biết từ cảnh duyên bên ngoài đưa
đến, nếu nhiễm chấp thì vọng tâm dấy khởi, làm sao tránh
khỏi sáu nẻo luân hồi, trôi lăn tam giới.
Chỉ
khi nào rời bỏ vọng tưởng hư minh phá trừ thọ ấm, ngay
nơi đó ở nơi thể “hiện nhất thiết sắc thân tam muội”
thì “tiếng huyền diệu của chân tâm” sẽ hiển bày.
Ngay
nay đó đức tướng hiện hành chính là “Diệu Âm Bồ Tát”
hiện hành vậy.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch