Phẩm
Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự
Thứ
Hai Mươi Ba
Nhận
được:
“Tự
tánh năng sinh muôn pháp
Vốn
chẳng sinh diệt
Vốn
chẳng lay động
Và
có đủ diệu lực”.
Đó
là nhận ra được sự ân cần phó chúc của Đức Thế Tôn.
Nhưng
hiện hành làm sao để tương ưng với sự trực nhận và thể
nhận vi diệu ấy.
Đến
đây Đức Thế Tôn đã dùng phương tiện “Dược Vương Bồ
Tát bổ sự” để chỉ bày cho sự hiện hành vi diệu ấy
của bản tâm.
Nên
vào đầu phẩm kinh Ngài Tú Vương Hoa Bồ Tát bạch Phật rằng
: “Bạch Đức Thế Tôn ! Ngài Dương Vương Bồ Tát dạo di
nơi cõi Ta bà như thế nào? Ngài Dược Vương Bồ Tát đã
có bao nhiêu nghìn muôn ức na do tha hạnh khổ khó làm? Hay
thay Thế Tôn! Nguyện giải nói cho một ít, cho chúng hội được
pháp hỉ”.
“Bồ
Tát Tú Vương Hoa” là biểu tượng tượng trưng cho sự cao
quý đẹp đẽ nhất của những chúng sinh nào đã thể nhập
“Tri kiến Như Lai”.
Lời
hỏi của Ngài Tú Vương Hoa gồm hai ý:
1)
Ngài Dược Vương Bồ Tát dạo đi nơi cõi Ta bà như thế nào?
Với
ý nghĩa: Dược Vương là “phương thuốc chúa” hay “phương
thuốc nhiệm mầu”. Bồ Tát chỉ cho những đức tinh thuần
thiện. Cõi Ta bà chỉ cho vọng tâm điên đảo. Vậy câu hỏi
đó được nêu “pháp tướng vi diệu nào hiện hành điều
phục được vọng tâm điên đảo”.
2)
Ngài Dược Vương Bồ Tát đó có bao nhiêu nghìn muôn ức na
do tha hạnh khổ khó làm?
Với
ý nghĩa: “Pháp tướng vi diệu ấy có bao nhiêu nghìn muôn
ức khi hiện hành khó lắm không?
Đức
Thế Tôn dạy rằng: “Này Tú Vương Hoa! Về thuở quá khứ
vô lượng hằng sa kiếp trước, có Phật hiệu Nhật Nguyệt
Tịnh Minh Đức Như Lai, Ưùng cúng, Chánh biến tri... Thiên
nhân sư, Phật Thế Tôn. Nước đó không có người nữ, địa
ngục, ngạ quỷ súc sinh, đất bằng phẳng, lưu ly làm thành,
cây báu trang nghiêm, lò hương khắp cùng cả nước”.
Với
ý nghĩa: Pháp thân vốn có đầy đủ đức tướng vi diệu
không sinh diệt, thường tịch, thường chiếu, nên có danh
xưng “Phật hiện Tịnh Minh Đức Như Lai”.
Đất
tâm thanh tịnh, trí tuệ tuyệt vời làm gì có nhiễm ái si
mê, sân hận nên gọi là “nước đó không có người nữ,
địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A tu la...”, và một khi đã
liễu triệt như thế, nghĩa là đã “kiến tánh”. Do vì kiến
tánh mà không một đức tướng nào không làm cho chúng sinh
hoan hỷ, tâm tướng không hai. Hành vi xứng hợp với chân
lý, nên gọi là “Đức Phật đó vì Ngài Nhất Thiết Chúng
Sinh Hỷ Kiến mà nói Pháp Hoa”.
“Ngài
Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát đó ưa tu tập khổ
hạnh trong pháp hội của Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh
Đức, tinh tấn tu hành mãn một muôn hai ngàn đặng hiện Nhất
Thiến Sắc Thân Tam Muội”.
Vì
“Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát” tượng trưng
cho tất cả những đức tướng vi diệu mà khi chúng sinh thấy
đến đều hoan hỷ. Đức tướng ấy không ngoài “tự tánh
nhiệm mầu”, nên nói là “Đức Phật đó vì Ngài Nhất
Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát nói kinh Pháp Hoa”.
Nhưng
đã nhận rõ “tánh tướng không hai” thì như thế mới không
còn trụ chấp nơi ngã tướng, chúng sinh tướng, nhân tướng
mà đạt thành thể “Nhất thiết sắc thân tam muội”.
Vì
đạt như thế mới có thể nói “sự lý viên dung, sự sự
vô ngại”, cho nên khắp hiện tất cả 12 loại sắc thân,
mà tất cả sắc thân đó không ngoài “pháp thân” vậy.
Sáng
suốt rõ ràng vì đã nhận chân được tính thể nhiệm mầu.
Nghe được tiếng nói huyền diệu của chân tâm, nên gọi
là “Ta đặng Nhất thiết sắc thân tam muội nay đều là
do sức đặng nghe kinh Pháp Hoa”.
Khắp
hiện tất cả sắc thân, nhưng chẳng trụ chấp ở một sắc
thân nào cả. Đó là vì ở nơi “bản tâm diệu dụng tùy
duyên” vận hành vô hành. Như thế mớ dung thông tánh tướng,
mới gọi là đáp đền ân Phật, mới gọi là cúng dường,
nên Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến đã nghĩ rằng : “Ta
nay nên cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và kinh
Pháp Hoa”.
Cúng
duờng bằng cách nào? Bằng cách “Nhập Nhất thiết sắc
thân tam muội”. Dùng “diệu tâm hương” để cùng dường
chư Phật. Hay nói cách khác là nhập tam muội đó, giữa hư
không rưới bông và hương hải thử ngạn chiên đàn để
cúng dường Phật.
“Diệu
tâm” ấy chỉ tỏa khắp khi mọi đức tướng đều chân
thật và xứng hợp với “tự tánh”.
Dùng
“diệu tâm hương” chưa đủ, Ngài Nhất Thiết Chúng Sinh
Hỷ Kiến đã nghĩ: “Ta dùng thần lực cúng dường nơi Phật,
chẳng bằng dùng thân cúng dường”.
Nhưng
thân này là thân ở thể “Nhất thiết sắc thân tam muội”
thì cùng dường bằng cách nào ? Bằng cách hiện hành những
đức tướng vi diệu làm cho chúng sinh phát tâm hoan hỷ mà
chẳng trụ chấp vào đức tướng hiện hành.
Liễu
đựơc như thế là cúng dường. Liễu được như thế mới
xứng danh “Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát”.
Như
thế mới vượt thoát sự ràng buộc của mười hai loại sắc
thân, mới sáng soi hằng sa thế giới.
“Chư
Phật đồng khen ngợi: Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử!
Đó chính là chân thật tinh tấn, gọi là chân pháp cúng dường”.
Không
có pháp cúng dường nào vi diệu hơn như thế. Sự tương tục
hiện hành như thế lúc nào lại chẳng ở trong nhà “Tịnh
Đức”. Chẳng ở quốc độ “Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức
Như Lai”.
Chính
vì ở nơi thể an định sáng soi đó mà đặng pháp “Giải
nhất thiết chúng sinh ngữ ngôn Đà la ni”.
Nghĩa
là nhận rõ được “vi tế vô minh”, nhận rõ được “pháp
âm vi diệu” không ngoài “bản tâm thanh tịnh”.
Như
thế: Là “trực diện” Phật
Là
“cúng dường” Phật.
Phược
huệ trang nghiêm, vô phân biệt niệm, ứng cơ tiếp vật. Đến
lúc đó, Đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai bảo
Ngài Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát rằng: “Thiện
nam tử! Giờ ta nhập Niết bàn đã đến, ông nên sắp đặt
giường tòa. Thiên nam tử ! Ta đem Phật pháp giao cho ông, các
chúng Bồ Tát đại đệ tử cùng pháp Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác... giao phó cho ông”.
Nhập
Niết bàn là để phó chúc, để thôi dứt suy lường. Vì thế
nhập “bản tâm” nên không năng sở tương phân. Từ đó
tám vạn bốn ngàn pháp môn “đức tướng” được tỏa
khắp mười phương, không một pháp môn hoặc đức tướng
nào không cao quý.
Sự
cao quý ấy giống như sự cao quý của những hạt “xá lợi
đựng trong tám muôn bốn ngàn bình báu” khi Đức Nhật Nguyệt
Tịnh Minh Đức Như Lai nhập Niết bàn.
Để
xá lợi cho kẻ kế thừa là nhắc nhở, là ân cần phó chúc
làm duyên khởi cho vạn loại chúng sinh trở về với “tự
tánh nhiệm mầu”. Cùng dường xá lợi là hiện hành những
đức tướng vi diệu để cho chúng sinh phát tâm Vô thượng
Chánh Đản đẳng Chánh giác.
Ngài
Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát đã cúng dường “xá
lợi Phật” bằng một pháp vi diệu, đó là “đốt hai cánh
tay”. Có ý nghĩa vượt thoát sự tương phân đối đãi. Rời
bỏ niệm phân biệt: Phật - Chúng sinh, Thiện - Ác, Phiền
não - Bồ đề.
Từ
ngay nơi đó mới đầy đủ phước huệ trang nghiêm. Ngay nơi
đó mới phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nên
lúc ấy Ngài Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát ở trong
đại chúng lập lời thệ rằng: “Tôi bỏ hai tay ắt sẽ
đặng thân sắc vàng như Phật, nếu thiệt không dối thời
khiến hai tay tôi hoàn phục như cũ. Nói lời thề xong, hai
tay tự nhiên hoàn phục. Đó là do phước đức trí tuệ thuần
hậu của Bồ Tát cảm nên”.
Sự
kiện ấy không ở trong cảnh giới của vọng thức suy lường.
Trực nhận và liễu ngộ “tự tánh nhiệm mầu” thì mới
vượt khỏi sự đánh lừa của vọng thức.
Bỏ
hai cánh tay “trăm phước”để đặng thân sắc vàng, để
đặng “pháp thân” thì ngay nơi đó nhận ra được “bản
lai diện mục của chính mình” không thiện, không ác, không
sinh, không diệt, không tăng, không giảm.
Cho
nên Đức Thế Tôn hỏi Ngài Tú Vương Hoa Bồ Tát: “Ý ông
nghĩ sao?”.
Nhất
Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ Tát đâu phải ai xa lạ, chính
nay là “Dược Vương Bồ Tát”. Có nghĩa là “đức tướng
vi diệu không nhiễm trước sắc thân” mà làm cho chúng sinh
hoan hỷ phát khởi Đại thừa tâm. Đó là “phương thuốc
nhiệm mầu”.
Như
vậy, đốt thân, đốt tay cúng dường là phá trừ “sắc
ấm”. Chỉ có pháp trừ sắc ấm thì hành vi mới không rơi
lọt vào sự tương phân đối đãi.
Cho
nên Đức Thế Tôn dạy tiếp:
“Tú
Vương Hoa! Nếu có người phát tâm muốn đặng đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, có thể đốt một ngón tay, nhẫn đến
một ngón chân để cúng dường tháp Phật, hơn đem quốc thành
thê tử, và cõi tam thiên... các vật trân báu mà cúng dường”.
Đốt
một ngón tay, một ngón chân để cúng dường tháp Phật là
để vọng cầu phước báu hay để vọng cầu Phật quả, hoặc
cầu cho chư Phật chứng minh. Sự tướng cúng dường đó có
còn vướng nhiễm sắc thân chăng ? Có còn nhiễm chấp vào
sự cúng dường chăng?
Đốt
một ngón tay, một ngón chân, hay đốt thân, có nghĩa là phá
trừ sắc ấm, phá trừ chấp ngã và không chấp ngã là cúng
dường.
Như
thế mới không đem vật bau nào so sánh được. Như thế mới
đạt thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác được.
Thọ
trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa là liễu triệt diệu lý này.
Vì thế Đức Thế Tôn dạy rằng:
“Này
Tú Vương Hoa! Thí như trong các dòng nước, sông, ngòi, kinh,
rạch, thời biển là lớn nhất, kinh Pháp Hoa này cũng như
thế”.
“Lại
như mặt trời hay pháp trừ các chỗ tối tăm. Kih này cũng
thế, hay phá trừ tất cả sự tối tăm bất thiện”.
“Lại
như Đế Thích làm vua trong 33 cõi trời, kinh này cũng thế
là vua trong các kinh”.
“Tú
Vương Hoa! Nếu có người nghe phẩm Dược Vương Bồ Tát bổ
sự này cũng đặng vô lượng biên công đức”.
Nếu
có người nữ nào (người có nhiều ái nhiễm) nghe kinh điển
này đúng như lời tu hành thì chẳng còn bị lòng tham dục
làm khổ. Đặng thần thông vô sinh pháp nhẫn của Bồ Tát.
Kinh
này là món lương dược, là phương thuốc nhiệm mầu, để
từ đó chúng sinh nhận rõ thật tướng của vạn pháp. Không
nhiễm chấp vào sắc thân, đức tướng mà cúng dường cầu
phước báu hay để cầu quả vị Phật, mà để chiếu phá
vô minh, hiện hành những đức tướng vi diệu để chúng sinh
trực nhận “tự tánh nhiệm mầu” và ở nơi thể “hiện
nhất thiết sắc thân tam muội” mà đốt thân cúng dường
báo đền ân Phật.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch