Phẩm
Chúc Lụy
Thứ
Hai Mươi Hai
Chúc
(lũy) là dặn bảo.
Lũy
hay lụy là chất chồng nhiều lớp.
Chúc
lũy có nghĩa là dặn bảo nhiều lần. Hay còn gọi là phó
thác.
Vì
chư đại Bồ Tát đã dùng đức trang nghiêm của chư Phật
mà tự trang nghiêm cho chính mình. Do vậy, Đức Thế Tôn đã
phó thác “Pháp Võ thượng Chánh đẳng Chánh giác cho các
Ngài”. Vì sao? Vì chúng hội diện tiền đã nhận chân được
“Như Lai thần lực” chúnh là “tâm tính nhiệm mầu”.
Chính
vì thế mà chúng hội đã nương vào “Như Lai thần lực”
để thấy rõ “chúng sinh đều có Phật tánh” nay Đức Thế
Tôn lại ân cần dặn bảo các chúng Đại Bồ Tát: hãy tùy
thuận chúng sinh mà chỉ bày “Tri kiến Phật”. Nên vào đầu
phẩm kinh đã nêu:
“Lúc
bấy giờ Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hiện sức đại thần
thông dùng tay xoa đảnh của vô lượng Đại Bồ Tát mà nói
rằng: “Ta ở trong vô trăm nghìn muôn ức vô số kiếp tu
tập pháp vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó đặng này,
nay đem phó chúc cho các ngươi. Các ngươi nên một lòng lưu
bố pháp này cho thêm nhiều rộng”.
Vớ
ý nghĩa: “Tri kiến Như Lai” không phải “ngộ nhập” một
cách dễ dàng. Mặc dù mỗi chúng sinh đều có “Tri kiến”
ấy.
Tuy
nhiên, bậc đại trí cần phải diệu dụng tùy duyên, hiện
sức đại thần thông. Có nghĩa là dùng “trí tuệ Bát Nhã”
mà tùy thuận chúng sinh để chỉ bày “Tri kiến Phật”.
Mà ý chỉ trong kinh đã nêu: “dùng tay xoa mặt đảnh của
vô lượng Đại Bồ Tát” phương tiện ấy đã ngầm chứa
sự ân cần dặn bảo: “Tất cả chúng sinh đều có khả
năng thành Phật”.
Và
chư Phật thị hiện cũng chỉ vì “khai thị chúng sinh ngộ
nhập Phật tri kiến”.
Hơn
nữa “Như Lai” là “chân tâm” vì kông nhiễm trước cảnh
duyên nên gọi Như Lai là “đại thí chủ”, và một khi chúng
sinh đã tin mình có “Tri kiến Như Lai” sống xứng hợp với
lý tánh thì chư Đại Bồ Tát vì đó mà tuyên bày “Diệu
Pháp Liên Hoa”.
“Cho
nên nếu có thiên nam tử, thiện nữ nhân nào mà tin tri kiến
Như Lai thời các ông phải vì đó diễn nói kinh Diệu Pháp
Liên Hoa này”.
Bởi
vì kinh Diệu Pháp Liên Hoa là phương tiện chỉ bày “Tri kiến
Như Lai”, tin và hiểu được như thế là một việc vô cùng
khó khăn, phải là bậc thượng căn thượng trí. Còn những
chúng sinh nào chưa tin mình có “Tri kiến Phật” thời chư
Đại Bồ Tát cũng nên dùng những pháp thâm diệu khác trong
“Như Lai” mà dìu dắt uốn nắn để chúng sinh được pháp
hỉ, mà từ đó “Trực nhận tri kiến Như Lai”. Đó là đền
đáp công ơn chư Phật.
Vì
thế “nếu có chúng sinh nào chẳng tin nhận thời phải ở
trong pháp sâu khác của Như Lai chỉ dạy cho được lợi ích
vui mừng. Các ông nếu được như thế thời đã báo được
ân của các Đức Phật”.
Ánh sáng từ bi đã bao trùm pháp giời. Chúng hội do quyền
pháp mà “trực nhận bản tâm”. Bậc thượng căn thượng
trí liễu triệt được ý chỉ thâm diệu mà đấng Đại Giác
đã ân cần phó chúc, đồng tiền lên tiếng bạch Phật rằng:
“Như
lời Thế Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính
xin Thế Tôn chớ lo”.
Chúng
đại Bồ Tát đã ba phen bạch Đức Thế Tôn như vậy. Đó
là một sự khẳng định về sự liễu ngộ Phật tánh, pháp
tánh không ngoài “tâm tánh”.
Cho
nên chư phân thân Phật ở mười phương đều trở về bổn
quốc... tháp của Phật Đa Bảo đặng hoàn như cũ.
Một
lần nữa xác định rằng: bản tâm có đầy đủ trí tuệ
năng sinh muôn pháp, vốn sẵn thanh tịnh, vốn chẳng sinh diệt.
Nhận được như thế là nhận lời phó chúc của đấng Đại
Giác về “Pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” vậy.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch