Phẩm
Thường Bất Khinh Bồ Tát
Thứ
Hai Mươi
Vì
thọ trì kinh Pháp Hoa mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý được
thanh tịnh. Do thanh tịnh nên không nhiễm trước mỗi hành
vi tạo tác đều từ nơi “bản tâm thanh tịnh” tùy thuận
cảnh duyên mà khởi động, hiển bày. Đến đây để đối
trị thuận hạng tăng thượng mạn được ít cho là đủ,
tự khinh mình chẳng có “tri kiến Như Lai” nên Phẩm “Thường
Bất Khinh Bồ Tát” được tuyên bày.
Vào
đầu phẩm kinh Đức Thế Tôn đã dạy: “Đắc Đại Thế!
Về thuở xưa quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị vô
số kiếp có Phật hiệu Oai Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh
biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng
sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sự, Phật Thế Tôn.
Kiếp đó tên là Ly Suy, nước đó có tên là “Đại Thành”.
Do
vì thoát ly sinh tử, rời bỏ nhiễm chấp nên gọi là “Ly
Suy”. Đatï như thế là một thành công to lớn trong việc
tu trì mà có doanh xưng là “Đại Thành”.
Liễu
được “tử sinh” không bị trói buộc bởi các pháp, oai
đức bao trùm cả pháp giới, tiếng nói huyền diệu của chân
tâm như một mệnh lệnh, làm cho chúng sinh tỉnh giác, mà đoạn
kinh đã nêu: “Đức Oai Âm Vương Phật trong đời đó vì
trời, người, A tu la mà nói pháp”.
Bởi
vì tiếng huyền diệu có đầy đủ oai đức phát xuất từ
“bản tâm thanh tịnh” không lệ thuộc vào thời gian, không
gian, cũng không dành riêng cho ai cả. Mọi chúng sinh đều có
tiếng nói huyền diệu và oai đức tự tại ở nơi chính “bản
tâm” mình.
Liễu
triệt được rằng Phật là pháp, và cũng chỉ là một trong
vô lượng pháp, từ “tự tánh nhiệm mầu” tùy duyên ứng
hiện nên “Đức Oai Âm Vương diệt độ” lại có Phật
ra đời cũng hiệu “Oai Âm Vương Như Lai” và cứ thứ lớp
như thế có đến hai muôn ức Đức Phật đồng một hiệu
“Oai Âm Vương Như Lai”.
Vì
hạt giống vô lậu giải thoát của mỗi chúng sinh đều có.
Do vậy mà chư Phật đã tùy theo căn cơ của chúng sinh dìu
dắt, uốn nắn để cho chúng “trực nhận bản tâm”. Tuy
nhiên, trước cảnh duyên chúng sinh thường vướng nhiễm mà
vọng tâm dấy khởi.
Tánh
giác bị phủ mờ bởi phiền não chướng và sở tri chướng
nên chúng sinh khó có thể trực nhận “tự tánh nhiệm mầu”.
Nhất là sau khi đấng Đại Giác diệt độ và cho đến thời
kỳ chánh pháp cũng chẳng còn. Những chúng sinh căn lành cạn
mỏng, được ít cho là đủ, hạng tăng thượng mạn này lại
rất có thế lực. Do đó muốn chỉ rõ cho chúng sinh nhận
ra được “tự tánh nhiệm mầu”, chỉ rõ cho chúng sinh có
khả năng thành Phật, đó là một việc làm vô cùng khó khăn.
Bậc
Đại Bồ Tát vừa phải chịu đựng sự chửi mắng chê trách,
vừa phải dõng mãnh cao xướng chỉ cho chúng sinh đừng khinh
khi “bản tâm thanh tịnh” sáng suốt nhiệm mầu của chính
mình.
Hiện
hành như thế là hành trì Bồ Tát hạnh, là thọ trì kinh Pháp
Hoa và viên dung được “tự giác và giác tha”.
Có
vô số vô lượng pháp môn hành trì mà “Bồ Tát Tỳ kheo
Thường Bất Khinh” là một pháp môn hành trì rất vi diệu.
“Vị
Tỳ kheo đó phàm khi ngó thấy hoặc Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, hoặc
Ưu bà tắc, Ưu bà di thảy đều lễ lạy khen ngợi mà nói
rằng: “Tôi rất kính quý Ngài chẳng dám khinh mạn. Vì sao?
Vì quý Ngài đều tu hành đạo Bồ Tát sẽ đặng làm Phật”.
Đây
là một “Đức tướng vi diệu” một sự kiện phi thường,
một lối trì kinh đặc biệt. Ngài chẳng đọc tụng kinh điển,
chỉ đi lễ lạy, nhẫn đến xa thấy hàng tứ chúng cũng cố
gắng qua lễ lạy ngợi khen mà nói rằng: “Tôi chẳng dám
khinh quý Ngài, quý Ngài đều sẽ thành Phật”.
Làm
cho hàng tứ chúng ngạc nhiên tự hỏi “tại sao ông Tỳ kheo
vô trí ở đâu lại đến đây thọ ký cho chúng ta sẽ làm
Phật”. Trải qua bao nhiêu năm như vậy, ông thường bị mắng
nhiếc, nhưng vẫn không sinh lòng giận hờn, chỉ thường nói:
“Ngài sẽ làm Phật”.
Mỗi
khi nói như thế chúng nhân hoặc lấy gậy, lấy ngói đá để
đánh ném. Ông liền chạy tránh xa mà vẫn to tiếng xướng
rằng: “Tôi chẳng dám khinh quý Ngài, quý Ngài đều
sẽ làm Phật”.
Bởi
ông thường nói lời đó, nên hàng tăng thượng mạn Tỳ kheo,
Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di gọi ông là “Thường Bất
Khinh”.
Cũng
chỉ vì tự khinh mình, nên ỷ lại vào những điều kiện
từ bên ngoài đưa đến và sống trong sự suy lường chưa
tin mình có “Tri kiến Phật”.
Do
vậy chúng ta cũng không lạ gì có những chúng sinh học hỏi,
nghiên cứu từng câu, từng chữ trong kinh điển. Rồi dẫn
chứng những sự kiện lịch sử, minh chứng cho sự nghiên
cứu học hỏi của mình là uyên bác. Để cuối cùng bị những
rừng pháp số và chữ nghĩa trói buộc. Rồi tự khinh mình
nên luôn luôn nhiễm trước cảnh duyên, vọng tâm dấy khởi,
sa vào chỗ tối tăm, chẳng nghe được tiếng nói huyền diệu
của chân tâm, chẳng sống hòa lạc được với muôn loài.
Nên
đoạn kinh đã nêu: “Đắc Đại Thế! Ý ông nghĩ sao? Thường
Bất Khinh thuở đó chính là Ta.
Đắc
Đại Thế! Thuở đó bốn chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà
tắc, Ưu bà di do lòng giận hờn khinh tiện Ta nên trong hai
trăm ức chẳng gặp Phật, chẳng nghe pháp, chẳng thấy Tăng”.
Chính
vì kinh tiện “Phật tâm” nơi chính mình nên chẳng sáng
suốt, hay gọi là: “chẳng gặp Phật”, mọi hành vi tạo
tác đều không đúng với chánh pháp, gọi là “chẳng nghe
pháp”. Sống chẳng hòa lạc với muôn loài, gọi là “chẳng
thấy Tăng”.
Do
vậy mà “vộ minh điên đảo” niệm niệm sinh diệt nối
nhau, chìm sâu trong vũng bùn lầy sinh tử, chỉ khi nào “trực
nhận bản tâm” thường chẳng tự khinh mình, nhận rõ mình
là “Thường Bất Khinh Bồ Tát”.
Với
tinh thần đó, Thường Bất Khinh Bồ Tát sẽ giáo hóa cho tự
thân mau thành đạo Vô thượng Cháng đẳng Chánh giác.
Đọc
đoạn kinh sau chúng ta sẽ thấy rõ điều này “nghìn kiếp
ở địa ngục A Tỳ chịu khổ não lớn. Hết tội đó rồi
lại gặp Thường Bất Khinh Bồ Tát giáo hóa đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác”.
Như
thế họ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa là thể hiện đức tướng
từ bi và nhẫn nhục. Thể hiện được như thế là đã liễu
triệt “tự tánh nhiệm mầu”.
Chỉ
một câu “tôi chẳng dám khinh quý ngài, quý ngài đều sẽ
thành Phật” cũng đủ vô lượng nghĩa, đủ uy lực để
dìu dắt chúng sinh nhận ra được “bản lai diện mục”
của chính chúng sinh đó.
Nên:
Sau
khi Phật diệt độ,
Nghe
kinh pháp như thế,
Chớ
sinh lòng nghi hoặc,
Nên
phải chuyên một lòng,
Rộng
nói kinh điển này,
Đời
đời đặng gặp Phật,
Mau
chóng thành Phật Đạo
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch