Phẩm
Pháp Sư Công Ðức
Thứ
Mười Chín
Pháp
sư Công Đức là nói về những công đức do bởi lục căn
thanh tịnh diệu dụng tùy duyên.
Từ
lâu mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý ứng tiếp với sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Do nhiễm trước mà vọng tà dậy khởi,
nên thấy, nghe, hiểu biết trở thành phù phiếm, eo hẹp, thấp
hèn.
Nay
trực nhận “bản tâm” nhận rõ căn, trần, thức, giới,
không ngoài “tự tánh nhiệm mầu”.
Bởi
“bản giác diệu minh” tùy duyên “ứng cơ tiếp vật”
nên khi hiện “sắc thân” loại người mỗi căn đều có
công năng vi diệu chiếu tỏa hiện hành.
Phẩm
Pháp sư Công đức được tuyên bày để nêu rõ công năng
vi diệu ấy. Nếu chúng sinh biết quay về “bản lai diện
mục” của chính mình.
“Lúc
bấy giờ Phật bảo Ngài Thường Linh Tấn Bồ Tát rằng: nếu
thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc
đọc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ
đặng:
800
công đức nơi mắt,
1.2000
công đức nơi tai,
800
công đức nơi mũi,
1.200
công đức nơi lưỡi,
800
công đức nơi thân,
1.200
công đức nơi ý.
Dùng
những công đức này trang nghiêm sáu cặn đều được thanh
tịnh”.
Về
Phẩm “Như Lai thọ lượng”, Phẩm “Phân biệt Công đức”
và phẩm “Tùy hỷ Công đức”, ba phẩm trên nói về quả
đức của “tự tánh nhiệm mầu”. Chỉ có bậc đẳng giác
Bồ Tát mới có thể nhận được. Cho nên ngài Di Lặc Bồ
Tát đã thị hiện tiêu biểu cho bậc đẳng giác Bồ Tát thọ
lãnh ý chỉ thâm diệu đó. Khi Đức Thế Tôn thuyết về những
chúng sinh nào đã nhận chân được “Tri kiến Phật”, nhận
chân được “bản giác diệu minh” vốn đã có đầy đủ
hằng sa công đức diệu dụng tùy duyên, mà kinh đã viện
dẫn là tin hiểu tùy hỷ nghe kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” thì
công đức không thể nghĩ bàn.
Bởi
lẽ kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” là phương tiện để hiển
bày “Tri kiến Phật”; một khi đã nghe rằng: mỗi mỗi chúng
sinh đều có “Tri kiến Phật” mà tin hiểu, tùy hỷ và nói
cho chúng sinh khác cùng nghe. Đó chính là bậc thượng thượng
căn, thượng thượng trí mới có thể liễu tri và hành trì
được.
Phẩm
“Pháp sư Công đức” này tiêu biểu cho những chúng sinh
hiện hành những đức tướng khế hợp với “tự tánh nhiệm
mầu” mà viên thông nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý căn.
Nghĩa
là hành trì “Diệu Pháp” nên sự thấy, nghe, hiểu, biết,
ngửi, nếm vô cùng diệu dụng.
Các
căn đã thanh tịnh. Do vậy:
- Mắt
thấy rõ muôn pháp tự tánh là không, thấy rõ nguyên nhân
sinh tử, luân hồi, nguyên nhân tu hành giải thoát. Thấy tất
cả “sắc thân” mà không nhiễm trước bởi sự thấy ấy.
- Tai
nghe rõ tiếng tăm của muôn loài, từ những âm thanh chát chúa,
xấu ác đến những âm thanh vi diệu nhẹ nhàng nhưng không
bị âm thanh đó phủ lấp “tánh nghe”.
- Mũi
ngửi được tất cả mùi từ chúng sinh đến thánh hiền,
nhưng không bị nhiễm trước bởi mùi nào cả.
- Lưỡi
nếm được tất cả các vị và nói được những lời nói
vi diệu làm cho chúng sinh trực nhận “bản tâm” mà không
nhiễm trước bởi một pháp nào cả.
- Thân
là nơi tất cả “sắc tượng” của các loại chúng sinh
đều hiện rõ, nhưng không nhiễm trước bởi các “sắc tượng”
nào cả.
- Ý
phân biệt rõ ràng các pháp, nhưng không bị các pháp lôi cuốn.
Nghe một bài kệ, một câu kinh, thấu suốt vô lượng nghĩa
và biện tài vô ngại.
Khi
“lục căn thanh tịnh” thì mỗi cử chỉ, mỗi lời nói đều
khế hợp với chánh pháp. Như thế Đức Thế Tôn đã dùng
phương tiện hữu hi để chỉ bày sự thanh tịnh của lục
căn có công năng vi diệu, để từ đó chúng sinh quy hướng
về “tự tánh nhiệm mầu” nên mới có phân biệt công năng
của từng căn như vậy.
Do
vậy mà phẩm kinh đã nêu:
Mắt
thịt cha mẹ sinh,
Thấy
cả cõi tam thiên,
Trong
ngoài núi Di Lâu,
Núi
Tu Di, Thiết Vi,
Và
các núi rừng khác,
Biển
lớn, nước sông ngòi,
Dưới
đến ngục A Tỳ,
Trên
đến trời Hữu Đảnh,
Chúng
sinh ở trong đó,
Tất
cả đều thấy rõ,
Dầu
chưa đặng thiên nhãn,
Sức
nhục nhãn như thế.
Lại
nữa:
Tai
cha mẹ sinh ra,
Trong
sạch không đục nhơ,
Dùng
tai thường này nghe,
Cả
tiếng cõi tam thiên,
Tiếng
voi, ngựa, trâu, xe,
Tiếng
chung, linh, loa, cổ,
Tiếng
cầm, sắc, không, hầu,
Tiếng
ống tiêu ống địch,
Tiếng
ca hay thanh tịnh,
Nghe
đó mà chẳng ham,
Tiếng
vô số giống người,
Nghe
đều hiểu rọ đặng,
Tai
nghe các tiếng trời,
Tiếng
ca rất nhiệm mầu...,
Nhẫn
đến trên Hữu Đảnh,
Xa
nghe các tiếng đó,
Mà
chẳng hư nhĩ căn...,
Người
trì kinh Pháp Hoa,
Dầu
chưa đặng thiên nhĩ,
Chỉ
dùng tai sinh ra,
Công
đức đã như thế.
Lại
nữa:
Mũi
ngửi đó thanh tịnh,
Ở
trong thế giới này,
Hoặc
vật thơm, vật hôi,
Mùi
nam tử, nữ nhân,
Người
nói pháp ở xa,
Nghe
mùi biết chỗ nào,
Các
thứ hương xoa thân,
Nghe
mùi biết thân kia,
Các
trời hoặc đi, ngồi,
Dạo
chơi và thần biến,
Người
trì kinh Pháp Hoa,
Nghe
mùi đều biết đặng,
Trai
gái A tu la,
Và
quyến thuộc của chúng,
Lúc
đánh cãi, dạo chơi,
Nghe
hương đều biết đặng,
Trời
Quang âm, Biến tịnh,
Nhẫn
đến nơi Hữu Đảnh,
Mới
sinh và lui chết,
Nghe
hương đều biết được...
Lại
nữa:
Người
đó lưỡi thanh tịnh,
Trọn
không thọ vị xấu,
Người
đó ăn uống chi,
Đều
biến thành cam lồ,
Dùng
tiếng hay thanh tịnh,
Ở
trong chúng nói pháp,
Đem
các nhân duyên dụ,
Dẫn
dắt loài chúng sinh,
Người
nghe đều vui mừng...
Lại
nữa:
Người
đó lưỡi thanh tịnh,
Trọn
không thọ vị xấu,
Người
đó ăn uống chi,
Đều
biến thành cam lồ,
Dùng
tiếng hay thanh tịnh,
Ở
trong chúng nói pháp,
Đem
các nhân duyên dụ,
Dẫn
dắt loài chúng sinh,
Người
nghe đều vui mừng...
Lại
nữa:
Nếu
người trì Pháp Hoa,
Thân
thể rất thanh tịnh,
Như
lưu ly sạch kia,
Chúng
sinh đều ưa thấy,
Lại
như gương sáng sạch,
Đều
thấy các sắc tượng,
Bồ
Tát nơi tịnh thân,
Thấy
cả vật trong đời,
Chỉ
riêng mình thấy rõ,
Người
khác không thấy được,
Tất
cả các chúng sinh,
Trời,
người, A tu la,
Địa
ngục, quỷ, súc sinh,
Các
sắc tượng như thế,
Đều
hiện rõ trong thân,
Cung
điện của các trời,
Nhẫn
đến trời Hữu Đảnh,
Núi
Thiết vi, Di lâu,
Các
biển lớn nước chảy,
Đều
hiện ở trong thân,
Dầu
chưa đặng diệu thân,
Pháp
tánh sạch các lậu,
Dùng
thân thanh tịnh thường,
Tất
cả hiện trong đó.
Lại
nữa:
Ý
người đó thanh tịnh,
Sáng
trong không đục nhơ,
Dùng
ý căn tốt đó,
Biết
pháp thượng, trung, hạ,
Nhẫn
đến nghe một kệ,
Thông
đạt vô lượng nghĩa,
Thứ
đệ nói đúng pháp,
Tháng,
bốn tháng, đến năm...
Trọn
biết các pháp tướng
Theo
nghĩa rõ thứ đệ,
Suốt
danh tự ngữ ngôn,
Như
chỗ biết diễn nói,
Người
đó có nói ra,
Là
pháp của Phật trước,
Vì
diễn nói pháp này,
Ở
trong chúng không sợ,...
Được
tất cả chúng sinh,
Vui
mừng và mến kính,
Hay
dùng nghìn muôn ức,
Lời
lẽ rất hay khéo,
Phân
biệt mà nói pháp,
Bởi
trì kinh Pháp Hoa,
Như
thế, một lần nữa cho chúng ta nhận rõ hơn, nếu lục căn
thanh tịnh thì tùy theo sự diệu dụng của mỗi căn mà chúng
trở thành “pháp sư”.
Mỗi
hành vi tạo tác đều thể hiện sự nghiệm mầu của tự
tánh.
Thọ
trì kinh Pháp Hoa là sống xứng hợp với “bản tâm thanh tịnh”
rõ thông muôn pháp, hành vi thuần thiện.
Đối
với tai, lưỡi, ý là những phương tiện linh diệu hơn mắt,
mũi, thân, của sắc thân loại người. Những đức tính vi
diệu hiển bày ở mỗi căn đều phát xuất từ “tự tánh
nhiệm mầu”, nên chúng là “pháp sư” có công năng làm
cho chúng sinh “kiến tánh” và nhận rõ tánh không tịch của
vạn pháp, nên gọi là công đức.
Nói
tóm lại, lục căn đó thanh tịnh hay không là do sự khởi
động nhiễm trước hay không nhiễm trước khi ứng tiếp với
khách trần.
Thọ
trì kinh Pháp Hoa là sống xứng hợp với “Tri kiến Như Lai”.
Trước cảnh duyên nhận biết rõ ràng nhưng không nhiễm trước.
Do vậy mà hành vi thể hiện ngay lúc đó là hành vi thuần
thiện, từ “bản tâm thanh tịnh” hiển bày.
Do
vậy những tác động từ “lục căn thanh tịnh” là “pháp
sư”, là “công đức” vậy.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch