Phẩm
Phân Biệt Công Ðức
Thứ
Mười Bảy
Vì
đã tin hiểu được “tự tánh nhiệm mầu” không sinh, không
diệt. Nhận chân được “pháp thân Phật” nơi huyễn thân
không đồng, không khác.
Tuy
nhiên sự trực nhận như thế cũng tùy theo căn cớ của chúng
sinh mà có cạn câu, nên sự lợi ích vi diệu cũng theo từng
bậc giác ngộ mà so sánh. Do vậy mà Phẩm “Phân Biệt Công
Đức” được thiết lập.
“Khi
đó Đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc Đại Bồ Tát : A Dật
Đa! Lúc ta nói Đức Như Lai thọ mạng dài lâu như thế. Có
sáu trăm tám muôn na do tha hằng hà sa chúng sinh đặng “vô
sinh pháp nhẫn”.
Nghĩa
là khi Đức Thế Tôn thuyết như thế có vô số chúng sinh
đã trực nhận và an trụ nơi “thể tánh nhất như” không
còn nhiễm trước bởi “các cảnh duyên nên gọi là đặng
“vô sinh pháp nhân”.
Bởi
vì không nhiễm trước nên niệm khởi không bị mê mờ phân
biệt gọi là ‘vô sinh”. An trụ trong thể “vô sinh” ấy
nên đặng “vô sinh pháp nhẫn”.
Và
từ đó “mặt trời trí tuệ” đã bừng mở đặng pháp
“tổng trì” giữ lấy trọn vẹn như thiện pháp. Như kinh
đã viện dẫn:
“Lại
có Đại Bồ Tát nghìn lần gấp bội đặng môn “văn trì
Đà la ni” với “tự thể sáng soi” năng quay bánh xe pháp,
biện tài vô ngại, mà kinh đã viện dẫn: Lại có một thế
giới vi trần số Đại Bồ Tát đặng nhạo thuyết vô ngại
biện tài”.
Ở
nơi thể đại binh (toàn Đà la ni) rõ thông các pháp, tinh tấn,
thanh tịnh hoàn toàn, nên kinh viện dẫn: “Nghìn muôn ức
vô lượng môn toàn Đà la ni, lại có tam thiên đại thiên
thế giới vi trần số Đại Bồ Tát chuyển pháp luân bất
thối (tinh tấn). Vi trần số Đại Bồ Tát chuyển được
pháp luân thanh tịnh”.
Sự
tin hiểu được lời dạy của Đức Thế Tôn về “Như Lai
thọ lượng” đã làm cho chúng hội phát khởi tâm hạnh Phật
thừa. Nơi đạo tràng nhân hạnh đó đã biến thành những
hoa hương tràng phan, bảo cái... vi diệu quý báu để tung lên
cúng dường “Đức Thích Ca Mâu Ni cùng Đa Bảo Phật đang
ngồi trên tòa sư tử trong tháp bảy báu giữa hư không”.
Khi
ấy Ngài Di Lặc dùng kệ tuyên lại rằng:
Phật
nói pháp ít có,
Từ
xưa chưa từng nghe,
Thế
Tôn có đại lực,
Thọ
mạng chẳng thể lường,
Vô
số các Phật tử,
Nghe
Thế Tôn phân biệt,
Nói
đặng pháp lợi ích,
Vui
mừng trụ bất thối,
Hoặc
đặng Đà la ni,
Hoặc
vô ngại nhạo thuyết,
Muôn
ức triệu tổng trì,
Hoặc
có cõi đại thiên,
Số
vi trần Bồ Tát,
Mỗi
vị đều nói được,
Pháp
luân bất thối chuyển,
Lại
có trong thế giới,
Số
vi trần Bồ Tát,
Mỗi
vị đều có thể,
Chuyển
pháp luân thanh tịnh”.
Cho
đến những chúng sinh nào chỉ cần một niệm tín giải về
“Như Lai thọ lượng” thì công đức của chúng sinh kia hơn
kẻ nhiều kiếp lâu xa tu hành năm pháp Ba la mật như: bố
thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định. Ngoại
trừ “trí tuệ” Ba la mật. Vì đã tu về Bát Nhã Ba la mật
thì năm công đức kia tự nó cũng đến chỗ viên mãn vậy.
Nên
đoạn kinh đã viện dẫn: “A Dật Đa ! Có chúng sinh nào nghe
Đức Phật thọ mạng lâu dài như thế nhẫn đến có thể
sinh một niệm tín giải, đặng công đức không thể hạn
lượng được”.
Bởi
vì “Như Lai thọ lượng” chính là “tự tánh nhiệm mầu”.
Nếu tin có “tự tánh nhiệm mầu” nơi tự thể của
chúng sinh thì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không
còn xa nữa.
“Lại
nữa! A Dật Đa! Nếu có người nghe nói Đức Phật thọ mạng
dài lâu, hiểu ý thú lời nói đó, người này đặng công
đức không có hạn lượng, huống là người rộng nói kinh
này. Công đức của người này vô lượng vô biên, có thể
sinh nhất thiết chủng trí”.
Như
vậy chúng sinh nào hiểu được thâm ý của Đức Thế Tôn
khi thuyết về “Như Lai thọ lượng” là chúng sinh ấy đã
trực nhận “bản tâm”, Phật trí khai mở. Công đức ấy
thật không thể nào kể xiết (kiến tánh là công, bình đẳng
là đức, lời của Lục Tổ Huệ Năng).
Vì
sao? Vì bản tâm thanh tịnh sáng suốt nhiệm mầu, các pháp
hữu vi sinh diệt không ảnh hưởng gì đến sự tùy thuận
ứng hiện của “bản tâm”. Các pháp hữuvi cũng không phải
là pháp đối đãi của bản tâm. Sự thể nhập dung thông
không ngằn mé, như thế chúng sinh ấy đã nhận rõ cõi Ta
bà là Tịnh độ. Phiền não chướng, sở tri chướng trở
thành các pháp diệu dụng đối với Như Lai tạng tâm.
“A
Dật Đa! Nếu thiện nam, thiện nữ nhân nghe ta nói thọ mạng
dài lâu sinh lòng tin hiểu bền chắc thời chính là thấy Đức
Như Lai thường ở núi Kỳ Xà Quật cùng chúng Đại Bồ Tát
và Thanh văn vây quanh nói Pháp. Lại thấy cõi Ta bà đất bằng
lưu ly ngang liền bằng phẳng... cây báu bày hàng, các lâu
đài nhà cửa thảy đều do các thứ báu hiệp thành, chúng
Bồ Tát đều ở trong đó”.
Nghe
và tin hiểu bền chắc về “Như Lai thọ lượng” là chúng
sinh ấy đã nhận chân được mọi chúng sinh đều có “tự
tánh nhiệm mầu”. Như thế mọi hành vi và ngôn ngữ không
còn nằm trong phạm trù tương phân đối đãi.
Chúng
sinh ấy sẽ nhận rõ cõi Ta bà cực kỳ thanh tịnh. Sự thanh
tịnh này không phải dựa vào uế tịnh để so sánh, mà do
trực nhận từ “bản thể nhất như” của mỗi chúng sinh
mà có được.
Tin
hiểu về “Như Lai thọ lượng” là “minh tâm kiến tánh”.
Nhận ra “lý vô sinh” chứng nhập “thể vô sinh” mà đạt
thành đạo cả.
Do
vậy mà đoạn kinh đã nêu:
“Sau
khi Như Lai diệt độ, nếu chúng sinh nào thọ trì, đọc tụng,
biên chép, diễn nói kinh này”. Nghĩa là có muôn hạnh, muôn
đức viên dung tùy cơ nghi thuyết pháp thì “phải biết chúng
sinh đó đã đến đạo tràng, gần Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, ngồi dưới cây đại thọ”.
”Chỗ
của thiện nam, thiện nữ nhân ấy hoặc ngồi, hoặc đứng,
hoặc đi trong đó bèn nên xây tháp, tất cả trời người
đều phải cúng dường như tháp của Phật”.
Do
vì năng trì kinh này mà chúng sinh ấy mọi hành vi tạo tác
đều tương ưng với “lý tánh”. Bởi tin hiểu và sống
tương ưng với “tự tánh nhiệm mầu” không sinh, không diệt,
tùy thuận muôn pháp hoằng hóa độ sinh mà chẳng nhiễm trước
pháp nào. Do vậy:
Nếu
thấy Pháp sư này,
Trọn
nên đức như thế,
Phải
dùng hoa trời rải,
Áo
trời trùm thân kia,
Đầu
mặt tiếp chân lạy,
Sinh
lòng tưởng như Phật,...
Chỗ
trụ chỉ của kia,
Kinh
hành hoặc ngồi nằm,
Nhẫn
đến nói một kệ,
Trong
đây nên xây tháp,
Trang
nghiêm cho tốt đẹp,
Các
món đem cúng dường,
Phật
tử ở chỗ này,
Thời
là Phật thọ dụng,
Thường
ở nơi trong đó,
Kinh
hành và ngồi nằm”.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch