Phẩm
Như Lai Thọ Lượng
Thứ
Mười Sáu
Ngài
Di Lặc đã hỏi:
Phật
xưa từ dòng Thích,
Xuất
gia cần Già Da,
Ngồi
nơi gốc Bồ Đề,
Đến
nay chưa lâu lắm,
Các
hàng Phật tử này,
Số
đông không thể lường,
Tu
Phật đạo đã lâu,
Trụ
nơi sức thần thông,
Khéo
học đạo Bồ Tát,
Chẳng
nhiễm pháp thế gian,
Như
hoa sen trong nước,
Từ
đất mà vọt lên,
Đều
sinh lòng cung kính,
Đứng
nơi trước Thế Tôn,
Việc
đó khó nghĩ bàn,
Thế
nào mà tin được
Thí
như người trẻ tuổi,
Mới
lên hai mươi lăm,
Chỉ
đám người trăm tuổi,
Tóc
bạc và mặt nhăn,
Bọn
này của ta sinh,
Con
già nhận cha trẻ...
Cả
đời chẳng tin nổi
Thế
Tôn cũng như thế,
Đắc
đạo chưa bao lâu
Các
chúng Bồ Tát đây
Chí
vững không khiếp nhược,
Từ
vô lượng kiếp nay,
Mà
tu đạo Bồ Tát...
Mong
nay vì giảng nói
Vô
lượng Bồ Tát đó
Thế
nào thời gian ngắn
Giáo
hóa khiến phát tâm
Mà
trụ bậc bất thối?
Đó
là những câu hỏi về “tự tánh nhiệm mầu” khó tin, khó
hiểu, bởi vì tự tánh năng sinh muôn pháp. Toàn cõi tam thiên
đại thiên thế giới, chỉ xem như một vi trần đối với
hư không bao la, toàn cõi hư không bao la chỉ xem như một cái
bọt nhỏ trong biển cả của “tự tánh nhiệm mầu”. Nên
nào đầu phẩm kinh Đức Thế Tôn đã dạy:
“Này
các thiện nam tử! Các ngươi phải tin hiểu lời nói chắc
thật của Như Lai”.
Đức
Như Lai đã ba lần nói như vậy.
“Lúc
đó chúng hội Bồ Tát, Ngài Di Lặc là đứng đầu chắp tay
bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi mong nói cho, chúng con sẽ tin
vâng lời Phật dạy”.
Ngài
cũng bạch cùng Đức Thế Tôn ba lần như vậy.
Điều
đó đã cho chúng ta thấy rõ rằng: hạnh nguyện từ bi của
chư Đại Bồ Tát vì thương xót chúng sinh bị nhiễm trước
nơi các pháp mà không trực nhận được “bản tâm”.
Nên
Ngài Di Lặc đã thị hiện thỉnh cầu. Tuy nhiên không phải
không có kẻ cho rằng: Tại sao lại không trực nhận “bản
tâm” hay không trực nhận “tự tánh nhiệm mầu”. Có lúc
chúng ta cũng trực nhận được lắm chứ.
Nhưng
kẻ ấy lại không hiểu rằng: đó chỉ là do vọng thức
suy lượng về “bản tâm”. Ví như lúc nhìn thấy hành vi
của kẻ khác không tương ưng với quy luật chung của những
kẻ chung quanh. Chúng ta liền phát khởi niệm “bất ưng
ý”, chợt nghĩ ý niệm ấy là do nhiễm trước mà khởi,
bèn vội thay đổi cử chỉ và lời nói, xem như mình có đức
kham nhẫn và từ bi vậy. Xem như mình sống xứng hợp với
“tự tánh nhiệm mầu”.
Nhưng
thật ra sự thay đổi niệm khởi này phát xuất từ bởi sự
tư duy hướng về “tự tánh”, chứ không phải “tự tánh
nhiệm mầu” bất sinh, bất diệt, không hay, không chuyển
ứng tiếp khách trần một cách thung dung tự tại.
Chính
vì niệm niệm liên tục thay nhau như dòng nước chảy. Do bởi
trước cảnh sinh tình đã làm mù tỏa “tự tánh sáng soi”.
Cho
nên khi nói về “sự bất sinh bất diệt”, “bất khứ bất
lai” mà tùy thuộc muôn nơi, ứng khắp mọi chỗ hay có danh
xưng là “Như Lai”, đó thật là khó tin, khó hiểu.
Nên
lúc bấy giờ Đức Thế Tôn mới bảo: “Các ngươi lóng nghe,
sức bí mật thần thông của Như Lai”. Sự yên lặng chuyên
nhất lóng nghe khi Đức Thế Tôn lược nói về “sức bí
mật thần thông của Như Lai”.
Nghĩa
là nói về sự biến hóa khôn lường, ra vào không ngại của
“tự tánh nhiệm mầu”, hay của “Như Lai” ấy, thì mới
gạt bỏ cái ý tưởng cho rằng: “Đức Thích Ca Mâu Ni ra
khỏi cung dòng Thích, các thành Già Da chẳng bao xa ngồi nơi
đạo tràng đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
Đó
là một sự thật trong thế giới hữu tính và hiện tượng.
Chính Ngài đã thị hiện đồng cư với chúng sinh trong
thế giới hữu tính và hiện tượng “mình cao trượng sáu”.
Cũng có những cử chỉ, ngôn ngữ như loài người, thế mà
không biết bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu sự mô phỏng siêu
thực về Ngài.
Huống
nữa Ngài thị hiện “thân sắc vàng y, mình cao muôn trượng”,
thì chúng sinh còn mô phỏng những sự kiện quái dị biết
chừng nào?
Bởi
đắm nhiễm nơi cảnh duyên và chấp nhận các pháp hữu vi
là “thật tướng” không rõ về “tự tánh nhiệm mầu”.
Do vậy mới chấp vào những ngôn ngữ, văn tự, quả vị tu
chứng.
Những
dữ kiện lịch sử mà các bậc Thánh Đức đã dùng làm phương
tiện để chỉ cho chúng sinh quay về “mặt trăng tự tánh”
với “bản lai diện mục” của chính mình, mà lại cho những
phương tiện ấy chính là “mặt trăng tự tánh”.
Giờ
đây vỏ vô minh được gạt bỏ khi Đức Thế Tôn thuyết
rằng:
“Thiện
nam tử! Thiệt ta thành Phật cho đến nay đã vô lượng vô
biên trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp, ví như cõi
thế giới tam thiên đại thiên, giả sử có người đem nghiền
làm vi trần qua Phương Đông cách trăm nghìn muôn ức na do
tha a tăng kỳ cõi nước, bèn làm rơi xuống một vi trần,
cho đến hết số vi trần ấy, ý ông nghĩ sao?
Bao
nhiêu thế giới đó hoặc có rơi vi trần hoặc chẳng làm
rơi vi trần, cứ mỗi vi trần làm một kiếp, từ ta thành
Phật nhẫn lại đến nay lại lâu hơn nghìn muôn ức na do
tha a tăng kỳ kiếp như vậy. Ta thường ở cõi Ta bà này nói
Pháp giáo hóa, cùng ở trong trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng
kỳ cõi nước khác dẫn dắt lợi ích chúng sinh”.
Điều
đó cho chúng ta nhận rõ rằng: “Pháp thân bất động” chưa
từng sinh diệt. Sự sinh diệt chỉ có nơi các pháp hữu vi
duyên khởi giả lập, như đám mây nổi trôi trong bầu trời
tự tánh, như làn sóng nhấp nhô trên biển cả chân như. Chỉ
có “Tri kiến Phật” mới thấu triệt điều này.
Chỉ
có “Tri kiến Phật” mới nhận ra được tâm thể nhất
như và mới có thể vượt thoát khỏi vũng lầy sinh tử, mới
không bị lệ thuộc bởi huyễn thân và sắc pháp. Và cũng
không có gì phải phân vân về lời tuyên thuyết của Đức
Thế Tôn là “Ta thành Phật tự số kiếp lâu xa đó”. Vì
đó là nói về “Phật pháp thân” nói về “tự tánh nhiệm
mầu”.
Đến
đây Đức Thế Tôn đã dạy tiếp: “Các thiện nam tử! Ta
thấy những chúng sinh ưa pháp Tiểu thừa đức mỏng, tội
nặng, vì chúng sinh đó mà nói: “Ta lúc nhỏ xuất gia đặng
đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
Đó
là “phương tiện giáo hóa chúng sinh khiến vào Phật đạo,
nên mới nói như thế”.
Như
vậy sự thị hiện tùy cơ nghi để độ thoát chúng sinh, Đức
Thế Tôn đã dùng vô số pháp lành hoặc nói thân mình, hoặc
nói thân người, hoặc chỉ thân mình, hoặc chỉ thân người,
hoặc chỉ việc mình, hoặc chỉ việc người, các lời nói
ấy thiệt chẳng hư dối.
Vì
sao? Vì những phương tiện kia đều tương ưng với tánh lý,
đều đem lại cho chúng sinh phước huệ viên mãn.
Bởi
“pháp giới tính nhiệm mầu” không có tướng thế gian,
xuất thế gian. Nên Đức Thế Tôn từ nơi “pháp giới tính
nhiệm mầu” ấy mà tùy thuận hiển hiện viên dung cứu thoát
muôn loài. Nên không thể dùng suy lường để so tính về thời
gian, không gian, suy tính về trẻ, già, mê, ngộ. Nhưng có những
chúng sinh lại đắm nhiễm trong từng niệm khởi, nên thấy
có sinh diệt mà lo sợ sinh diệt, thấy có tướng thế gian
mà lo sợ mất còn. Thấy có hư, thật, dị, đồng, chứ không
thấy được tướng chân thật của vạn pháp. Chỉ có “Tri
kiến Như Lai” mới nhận chân được vạn pháp và không bị
sai lầm. Nên đoạn kinh đã viện dẫn:
“Bởi
chúng sinh có các món tánh, các món dục, các món hạnh, các
món nhớ tưởng phân biệt”.
Do
vậy mà Đức Thế Tôn đã quay bánh xe pháp khiến cho chúng
sinh xa lìa lòng chấp vào nơi Phật đạo. Nhẫn đến việc
Đức Thế Tôn “xưng nói sẽ diệt độ, nhưng thật ra chẳng
phải diệt độ”. Đó cũng chỉ là vì dùng phương tiện
mà giáo hóa chúng sinh vậy.
Vì
sao? Vì nếu Phật ở lâu nơi đời thời người đức mỏng
chẳng chịu trồng cội lành, nghèo cùng hèn hạ, ham ưa năm
món dục, sa vào trong lưới nhớ tưởng vọng kiến. Nếu thấy
Đức Như Lai thường còn chẳng mất, bèn sanh buông lung, nhàm
trễ. Chẳng có thể sinh ra ý tưởng khó gặp gỡ cùng lòng
cung kính. Cho nên Đức Như Lai dùng phương tiện nói rằng:
Tỳ kheo phải biết! các Đức Phật ra đời khó có thể gặp
được. Hoặc nói: “Tỳ kheo ! Đức Như Lai khó có thể thấy
được. Các chúng sinh đó nghe lời như thế ắt sẽ sinh ý
tưởng khó gặp ôm lòng luyến mộ khát ngưỡng nơi Phật,
bèn trồng cội lành, cho nên Đức Như Lai dầu chẳng thật
diệt độ mà nói diệt độ”.
Vì
đắm nhiễm năm món dục, si mê sa vào lưới tà kiến nên
không nhận ra việc sinh tử luân hồi là do thức tâm vọng
khởi, buông trôi theo thời gian, không gian trong những chu kỳ
tất định. “Phật tánh”vốn chẳng sinh diệt, vốn chẳng
diệt độ hay không diệt độ. Chính vì mê mờ tánh giác,
tạo ra nghiệp cấu vô minh, mà các bậc Thánh Đức đã dùng
vô số phương tiện chỉ bày nhẫn đến phải nói về diệt
độ.
Do
vậy mà đoạn kinh đã viện dẫn:
“Này
thiện nam tử! Phương pháp của các Đức Như Lai đều như
thế cả, vì độ chúng sinh nên chẳng có pháp hư dối vậy”.
Tại
sao gọi là chẳng hư dối? Vì chư Phật thị hiện ra cảnh
có sinh tử, có tu có chứng, khiến cho chúng sinh được lợi
hành, đó là chân thật. Chân thật ở chỗ là đem lợi
hành đến cho chúng sinh, khác với những phương tiện mà sử
dụng đến lại chẳng đem lợi hành đến cho ai cả.
“Ví
như vị lương y, trí tuệ sáng suốt khéo giỏi luyện
phương thuốc trị các bệnh. Người có nhiều con cái hoặc
10, hoặc 20, nhẫn đến số trăm. Do có sự duyên đi đến
nước khác, sau lúc đó các người con uống phải thứ thuốc
độc, thuốc phát ngất loạn lăn lộn trên đất. Bấy giờ
người cha từ nước xa về, các con uống nhằm thuốc độc,
hoặc người mất bổn tâm, hoặc chẳng mất, xa thấy cha về
rất vui mừng, quỳ lạy mà hỏi thăm, an lành, yên vui, chúng
con ngu si uống lầm thuốc độc xin cứu lành cho, ban lại thọ
mạng cho chúng con”.
Với
ẩn dụ đó có ý nghĩa: Đức Thế Tôn là bậc y vương, nhận
rõ căn bệnh của chúng sinh mà thương tất cả mọi loài như
người mẹ hiền thương con mình vậy.
Các
con uống nhầm thuốc độc là dụ cho sự vô minh tham ái. Nay
gặp duyên lành “bậc vô thượng y vương đã tùy bệnh cho
thuốc nuôi sống huệ mạng của chúng sinh, làm đại tâm phát
khởi”.
Tuy
thế cũng có những chúng sinh vì chìm đắm quá sâu trong ngũ
dục, vỏ vô minh còn dầy nên thấy đấng cha lành bậc y vương
cũng mừng vui khôn xiết, nhưng thuốc kia chẳng chịu uống
vào.
Bởi
thế nên kinh đã viện dẫn về số người con không chịu
uống thuốc. Lúc đó người cha mới nghĩ rằng: “Các con
này đáng thương, bị trúng độc, tâm đều điên đảo, tuy
thấy ta về mừng xin cứu lành, nhưng thuốc tốt thế mà chẳng
chịu uống, nay ta phải bày chước phương tiện khiến chúng
uống thuốc này”. Nghĩ rồi liền bảo rằng: Các con phải
biết nay ta già suy, giờ chết đã đến, lương dược này
để ở đây, các con nên lấy uống, chớ lo không lành. Bảo
thế rồi lại đến nước khác sai sứ về nói : cha các ngươi
đã chết. Sau đó các ngươi con tỉnh ngộ, và uống lương
dược vào bệnh đã lành, cha bèn trở về gặp lại các con.
“Các
thiện nam tử! Ý các ngươi nghĩ sao? Có người nào nói ông
lương y ấy mắc lối hư dối chăng ?”
Đức
Thế Tôn cũng như thế vì chúng sinh mà dùng sức phương tiện
nói sẽ diệt độ.
Điều
đó cho chúng sinh nhận rõ rằng: “ bản tâm không sinh không
diệt sáng suốt hoàn toàn. Nhưng vì nhiễm trước nơi cảnh
duyên trong từng niệm khởi mà chịu sinh tử luân hồi. Niệm
này sinh rồi diệt, niệm khác sinh rồi diệt, lúc thì sân,
lúc thì hận, lúc thì thanh thoát nhẹ nhàng, lúc vội vàng
khẩn thiết, trôi lăn liên miên trong sáu nẻo luân hồi, điên
đảo, bị trói buộc không bao giờ vượt thoát. Nên không
nhận rõ “pháp thân bất động” chẳng diệt chẳng sinh.
Đối với huyễn thân đâu có thể so sánh được. Nếu trực
nhận “tự tánh nhiệm mầu” đầy đủ hằng sa công đức,
nói chung có đủ phước huệ trang nghiêm, tùy duyên ứng hiện
hóa độ muôn loài thì làm gì còn phân vân về sự kiện “cha
già con trẻ”.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch