Phẩm
Tùng Ðịa Dũng Xuất
Thứ
Mười Lăm
Sau
khi đã nhận được mỗi hành vi tạo tác đều kết hợp với
“diệu trí viên minh” hiển hiện nơi “diệu giác quả địa”.
Nghĩa là mỗi hành vi đều xuất từ “thể tánh nhiệm mầu”
nơi ấy có đủ từ bi, hỷ xả, nhẫn nhục, tinh tấn... “tự
tánh nhiệm mầu” chính là “tâm địa nhiệm mầu” của
chúng sinh.
Mỗi
chúng sinh đều có khả năng thành Phật, mỗi chúng sinh đều
tự mình làm bậc đạo sư cho chính mình. Hằng sa công đức
có được không phải từ bên ngoài đem vào, mà vốn đã có
từ trong giác tánh nhiệm mầu của chúng sinh vậy.
Do
đó mà Phẩm Tùng Địa Dõng Xuất được thiết lập.
“Lúc
bấy giờ các vị Đại Bồ Tát ở cõi nước phương khác
đông hơn số cát của tám sông Hằng ở trong đại chúng đứng
dậy chắp tay làm lễ mà bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu
bằng lòng cho chúng con, lúc sau khi Phật diệt độ ở tại
cõi Ta bà này siêng tu tinh tấn giữ gìn đọc tụng, biên chép,
cúng dường kinh điển này thời cúng con sẽ ở trong cõi đây
mà rộng nói đây”.
Đây
là sự kiện vi diệu mà Đức Thế Tôn thương xót chúng hội
về sau. Nếu chưa nhận rõ “tự tánh nhiệm mầu” vốn đầy
đủ hằng sa công đức, không phải do tu tập muôn hạnh lành
từ bên ngoài mà đem vào được. Mặc dù chúng sinh đang đắm
chìm trong ngũ dục, nhưng hạt giống vô lậu chẳng bao giờ
mai một.
Sự
từ bi, hỷ xả, tinh tấn... tượng trưng cho hằng sa Bồ Tát.
Nếu cho rằng từ “phương khác đến” hay từ “bên ngoài”
mà vào, như đoạn kinh đã viện dẫn: “Bồ tát ở cõi nước
khác đông hơn số cát sông Hằng” là một vấn đề được
đặt ra. Có phải những hành vi tạo tác vi diệu khi thể hiện
thì thành tựu công đức chăng? Bởi vì, nếu chúng sinh biết
siêng năng, tinh tấn, giữ gìn, đọc tụng kinh điển này,
chính là bước vào “lý đạo Nhất thừa”. Vì đây là chỗ
chứa đựng và chỉ bày “chân lý tối thượng” để cho
chúng sinh thể nhập.
Nhưng
có phải sự thể nhập ấy là do lập hạnh tinh tấn, đọc
tụng, biên chép, diễn giảng tu niệm suốt ngày mà đạt thành
đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Để khai mở
sự phân vân ấy mà đoạn kinh đã viện dẫn: “Thế Tôn,
nếu bằng lòng cho chúng con lúc sau khi Phật diệt độ ở
cõi Ta bà này siêng tu tinh tấn giữ gìn đọc tụng... thì
chúng con sẽ ở trong cõi đây mà rộng nơi đấy”.
Nghĩa
là, nếu cho hằng sa công đức có được là do sự vun trồng
muôn hạnh mà có hay do Đức Thế Tôn ban cho, thì vẫn quanh
quẩn ở nhân thiên. Do vậy, khi đó Phật bảo các vị chúng
Đại Bồ Tát: “Thiện nam tử ! Thôi đi chẳng cần các người
hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta bà của ta tự có chúng
Đại Bồ Tát số đông bằng số cát của sáu mươi sông
Hằng. Mỗi vị Bồ Tát có sáu muôn hằng sa quyến thuộc,
những người đó sau khi ta diệt độ, hộ trì, đọc tụng,
rộng nói khinh này”.
Điều
đó cho chúng hội rõ rằng: Sáu tâm thức (nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý) dù là cưu mang phiền não chướng và sở tri
chướng che lấp “tánh viên giác nhiệm mầu”. Nhưng nếu
nhận chân được “tự tánh nhiệm mầu” thì sáu thức tâm
kia chính là “chư vị Đại Bồ Tát nhiều như số cát của
sáu mươi sông Hằng vậy”.
Bởi
vì mỗi cử chỉ, mỗi hành động được soi rọi bởi “mặt
trăng tự tánh” sau khi đám mây vô minh đã được xóa tan
và chính vô số hành vi đó đều làm sạch, đều đầy đủ
công hạnh từ bi, nhẫn nhục, mà danh xưng là Bồ Tát vậy.
Hành
vi ấy chính là An lạc hạnh. An lạc hạnh này chính là “bản
giác diệu minh” hiển bày chớ không do công năng tu tập mà
được.
“Lúc
Đức Thế Tôn nói lời đó, cõi Ta bà trong tam thiên đại
thiên thế giới đều rúng nứt mà ở trong đó có vô lượng
nghìn muôn ức vị Đại Bồ Tát đồng thời vọt ra. Các vị
Bồ Tát thân đều sắc vàng, đủ 32 tướng tốt cùng vô lượng
ánh sáng, trước đây đều ở dưới cõi Ta bà này, cõi đó
trụ giữa hư không.
Các
vị Bồ Tát đó chính là những đức tính từ bi, hỷ xả,
nhẫn nhục, tinh tấn ... từ nơi mảnh đất tâm nhiệm mầu.
Từ trước vì vô minh điên đảo, chúng sinh lầm tưởng những
đức tính ấy phát sinh từ sự tụ tập hạnh mà đem vào.
Nay đã giác ngộ, những đức tính kia không ngoài tánh giác,
muôn đức, muôn hạnh viên dung không thêm, không bớt, không
sinh, không diệt. Mỗi vị Bồ Tát tiêu biểu cho một tánh
đức không tăng, không giảm, vượt cả không gian, thời gian,
nên gọi là “thân sắc vàng y”. Sáng suốt viên dung nên
gọi là “đầy đủ 32 tướng tốt” hào quang sáng lòa.
Ý
nghĩa ấy càng thấy rõ hơn là những vị Bồ Tát ấy “trước
đây đều ở cõi Ta bà này, cõi đó trụ giữa hư không”.
Nghĩa
là những đức hạnh kia đều ở trong tâm địa chúng sinh.
Tâm ấy không là một vật để chỉ bày, nên gọi là “trụ
giữa hư không”.
Bởi
vì “tâm vô tướng” do vậy đức Lục Tổ Huệ Năng cũng
đã nêu rõ “tâm”trong bài kệ:
Bồ
đề bổn vô thọ,
Tâm
phi minh cảnh đài,
Bổn
lai vô nhất vật,
Hà
xứ nhá trần ai.
Dịch:
Bồ
đề vốn không cội
Tâm
chẳng phải đài gương
Xưa
nay không một vật
Chỗ
nào dính bụi trần
(HT.
Thiện Hoa dịch)
Và
Ngài Huệ Năng cũng đã trực nhận “bản tâm” khi Tổ Hoằng
Nhẫn thuyết kinh Kim Cang vừa đến chỗ “ưng vô sở trụ
nhi sinh kỳ tâm”, nghĩa là “ứng chỗ không trụ mà sinh
thuở lòng”.
Nghe
đến câu đó Huệ Năng đã bạch với Tổ rằng:
- Chẳng
dè tánh mình vốn sẵn thanh tịnh
- Chẳng
dè tánh mình vốn sẵn sinh diệt.
- Chẳng
dè tánh mình vốn đã đủ cả.
- Chẳng
dè tánh mình vốn không lay động.
- Chẳng
dè tánh mình hay sinh muôn pháp.
Chính
bản tâm sâu kín nhiệm mầu chứa trọn hằng sa công
đức kia đã bị phiền não chướng và sở tri chướng chất
chồng phủ mờ, nên đức tính không thể nào hiển lộ.
Do
vậy, mà Bồ Tát trước phải ở “dưới cõi Ta bà”. Coi
Ta bà chỉ cho vọng tâm, chỉ cho phiền não chướng và sở
tri chướng.
Hôm
nay được Đức Thế Tôn khai thị mà thể nhận được “tự
tánh nhiệm mầu” không phải do lập hạnh, do cầu phước
mà được.
Tự
tánh ấy không rơi vọng tâm mê muội đảo điên. Bởi vì
ngay trong vô minh điên mà tánh giác nhiệm mầu từ đó sáng
soi.
Đức
Thế Tôn đã khai mở “lý đạo Nhất thừa” hội chúng trực
nhận bản tâm.
Nhận
ra “tự tánh nhiệm mầu” không đâu xa lạ vốn đã có nơi
tự thân mình. Hằng sa công đức từ nơi tự tánh viên dung
chiếu tỏa, đi đến đều tùy duyên, bản tâm bất động.
Nhưng muốn được như thế thì cần phải thiết tha trong từng
niệm khởi trực nhận nơi đó một cách liên tục kiên trì.
Nên đoạn kinh đã viện dẫn : “Từ lúc các vị Bồ Tát
do dưới đất vọt lên dùng các điều ngợi khen của Bồ
Tát mà khen ngợi Phật, Bồ Tát đầy khắp vô lượng nghìn
muôn ức cõi nước hư không”.
Hay
chính lúc những đức tính từ bi, hỷ xả và vô lượng đức
tính khác ở nơi “tự tánh nhiệm mầu” hiển lộ.
Tuy
nhiên, những đức tính tiêu biểu căn bản cần có mà phương
tiện chỉ bày là: thượng hạnh, vô biên hạnh, tịnh hạnh
và an lạc hạnh. Nên đoạn kinh đã viện dẫn: “Trong chúng
Bồ Tát đó có bốn đạo sư: Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh,
Tịnh Hạnh, An Lạc Hạnh. Bốn vị Bồ Tát này là bậc thượng
thủ xướng đạo sư trong chúng đó”.
Với
ý nghĩa:
- Thượng
hạnh là những hành động luôn luôn hướng về đời sống
cao cả.
- Vô
biên hạnh là những hành động vượt ra ngoài ngã chấp.
- Tịnh
hạnh là những hành động trong sạch không bị tham lam, sân
hận, si mê chi phối sai sử.
- An
lạc hạnh là những hành động tùy duyên, tùy cảnh, nhưng
bản tâm không hề lay động.
Bốn
đức tâm tiêu biểu cần thiết dẫn đầu cho muôn đức, muôn
hạnh, mà kinh đã viện dẫn là “bậc thượng thủ xướng
đạo sư”.
Đến
đây chúng hội vẫn còn phân vân chưa hiểu nếu đạt thành
những đức tính như vậy, liệu có dễ hoán cải những vọng
tâm sinh diệt hay không? Do vậy mà đoạn kinh đã viện dẫn:
“Thưa Thế Tôn! có được ít bệnh, ít não, an vui luôn chăng?
Những người đáng độ thọ giáo dễ chăng? có làm cho Thế
Tôn sinh mỏi nhọc chăng?
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn mới trả lời: “Đúng thế! Đúng
thế! Các thiện nam tử! Đức Như Lai ít bệnh, ít não, các
hàng chúng sinh hóa độ được dễ, không có nhọc mệt”.
Với
ý chỉ thâm diệu Đức Thế Tôn đã chỉ bày cho chúng hội
là “Như Lai an vui”. Vì Như Lai là chỉ cho “tự tánh nhiệm
mầu”.
Tự
tánh nhiệm mầu có đủ: thượng hạnh, vô biện hạnh, tịnh
hạnh, an lạc hạnh.
Do
vậy mà an vui, do vậy mà ít bệnh, ít não, vọng tâm dễ hóa
độ, không gì mệt nhọc.
“Vì
sao? vì các chúng sinh đó từ nhiều đời nhẫn lại thường
được ta dạy bảo, mà cũng từng ở nơi các Đức Phật quá
khứ, cung kính, tôn trọng trồng các cội lành. Các chúng
sinh đó vừa mới thấy thân ta, nghe ta nói pháp liền đều
tin nhận vào được trong tuệ Như Lai”.
Nghĩa
là hạt giống vô lậu giải thoát đã có từ “vô thỉ”
hay nói cách khác là “ở nơi các Đức Phật quá khứ... trồng
các cội lành”. Chính đã có hạt giống vô lậu giải thoát
ấy nên nay vừa mới thấy Đức Thế Tôn, nghe Đức Thế Tôn
nói pháp liền trực nhận được “bản tâm thanh tịnh sáng
suốt nơi chính mình”. Và ai đã có bốn đức hạnh tiêu
biểu dẫn đầu cho muôn hạnh, muôn đức vừa nêu, người
đó chính đã có thể đối với “Như Lai” hay đối với
“bản lai diện mục” của chính mình mà tùy thuận hóa độ
chúng sinh vậy.
“Khi
đó Đức Thế Tôn khen ngợi các vị Đại Bồ Tát thượng
thủ: Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Các ngươi đã có thể
đối với Đức Như Lai mà phát lòng tùy hỷ”.
Tuy
nhiên, “bản giác diệu minh” không phải chỉ một niệm
suy lường mà đạt đến. Tâm cảnh chưa nhất như làm
sao nhận ra được vô số đức tính cao đẹp không hình, không
tướng ở nơi tâm tánh nhiệm mầu hiển hiện viên dung, cũng
như làm sao nhận ra được “vô số Bồ Tát từ dưới đất
vọt lên đến nơi tháp báu, chỗ của Đức Đa Bảo và Đức
Thích Ca an tọa” mà làm lễ hai Đức Thế Tôn.
Do
vì pháp thân bất động, đi hay đến tùy duyên, tự có đủ
hằng sa công đức quý báu, như tháp Đa Bảo, sự lý viên
dung, sự sự vô ngại như chỗ của hai Đức Thế Tôn cùng
ngồi. Đạt như thế mới ứng hiện tùy nơi. Điều đó thức
tâm không thể nào liễu tri được, vì sao? Vì tâm cảnh tương
phân, so đo, tính toán, hơn thua, phải quấy, chọn lựa, suy
lường, phát sinh từ ngã và pháp chấp, nên không thấu rõ
được những đức tính quý báu đó là ở nơi tự tánh nhiệm
mầu phát sinh mà không cần phải lập hạnh hay cầu phước
mới được.
Một
lần nữa Ngài Di Lặc, vị thượng thủ Bồ Tát đã thương
xót chúng hội mà phương tiện thị hiện cho thức tâm thưa
hỏi:
“Bấy
giờ Ngài Di Lặc Bồ Tát cùng tám nghìn hằng hà sa chúng Bồ
Tát đều nghĩ rằng: chúng ta từ xưa đến nay chẳng thấy,
chẳng nghe các chúng Đại Bồ Tát như thế, từ dưới đất
vọt lên, đứng trước Đức Như Tôn chắp tay cúng dường
thăm hỏi Như Lai”.
Do
đó Ngài nói kệ rằng:
Vô
lượng nghìn muôn ức,
Các
Bồ Tát đại chúng,
Từ
xưa chưa từng thấy,
Nguyện
đấng lưỡng túc nói,
Đây
từ chốn nào đến,
Thân
lớn đại thần thông,
Trí
tuệ chẳng nghĩ bàn,
Có
sức đại nhẫn nhục,
Chúng
sinh chỗ ưa thấy,
Là
từ chốn nào đến.
Các
vị đại oai đức
Chúng
Bồ Tát tinh tấn,
Ai
vì đó nói pháp,
Giáo
hóa cho thành tựu,
Từ
ai đầu phát tâm,
Xưng
dương Phật pháp nào ?
Thọ
trì tu kinh gì ?
Tu
tập Phật đạo nào?
Bồ
Tát Di Lặc khởi nghi và hỏi. Đây không phải lời hỏi bình
thường. Bởi vì hỏi về “Phật quả giác địa” nghĩa
là hỏi về “bản giác diệu minh”, hỏi về “tự tánh
nhiệm mầu”.
Đó
là ý chỉ thâm diệu tạo cho chúng hội phát khởi lòng tin
bền vững mới có thể nghe Đức Thế Tôn giải rõ nghĩa này.
Khi
đó Đức Thế Tôn mới tuyên lại ý trên mà thuyết:
A Dật
Da nên biết,
Các
Đại Bồ Tát đây,
Từ
vô số kiếp lại,
Tu
lập trí tuệ Phật,
Đều
là ta hóa độ,
Khiến
phát đại đạo tâm,
Chúng
đó là con ta,
Nương
ở thế gian này,
Thường
tu hạnh đầu đà,
Chỉ
thích ở chỗ vắng,
Tránh
đại chúng ồn náo,
Chẳng
ưa nói bàn nhiều,
Các
vị đó như thế,
Học
tập đạo pháp ta,
Ngày
đêm thường tinh tấn,
Vì
để cầu Phật đạo,...
Ở
phương dưới Ta bà,
Trụ
giữa khoảng hư không,
Thường
siêng cầu trí tuệ,
Nói
các món diệu pháp,
Tâm
kia không sợ sệt,
Ta
ở thành Già Da,
Ngồi
dưới cội Bồ Đề,
Thành
bậc tối chánh giác,
Chuyển
pháp luân vô lượng,
Rồi
mới giáo hóa đó,
Khiến
sơ phát đại tâm,
Nay
đều trụ bất thối”.
Điều
đó chứng tỏ rằng các vị Bồ Tát hay các đức tướng vốn
sẵn có trong tâm tánh của chúng sinh, một khi đã giác ngộ,
đã thấu hiểu được “tự tánh nhiệm mầu”. Nhưng muốn
sống tương ưng với tự tánh ấy thì phải “ngoài lìa tướng,
trong không loạn” hay gọi là “thường tu hạnh đầu đà”,
thích ở chỗ vắng, tránh đại chúng ồn náo. Không cầu phước
báu ở cõi nhân thiên mà chỉ mong đạt đạo Vô thượng Bồb
Đề.
Đến
đây Ngài Di Lặc lại đặt vấn đề khác: “Đức Như Lai
lúc làm thái tử rời khỏi cung dòng Thích, ngồi nơi đạo
tràng cách thành Già Da chẳng bao xa, thành đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, từ đó đến nay hơn 40 năm. Đức
Thế Tôn nào ở trong thời gian ngắn đó làm nên Phật sự
lớn lao như vậy?”
Thế
Tôn! Chúng Đại Bồ Tát này, giả sử có người trong nghìn
muôn ức kiếp đếm không thể hết, vịêc thế đời rất
khó tin.
Thí
như có người sắc đẹp tóc đen tuổi mới 25 chỉ người
100 tuổi nói là con của ta, người 100 tuổi nọ cũng chỉ
gã tuổi nhỏ nói là cha tôi, đẻ nuôi tôi, việc đó khó
tin.
Đức
Phật cũng như thế, từ lúc thành đạo nhẫn đến nay kỳ
thiệt chưa bao lâu, mà đại chúng Bồ Tát đó đã ở nơi
vô lượng nghìn muôn ức kiếp vì Phật đạo siêng tu tinh
tấn, khéo nhập xuất trụ nơi vô lượng nghìn muôn ức tam
muội đặng đại thần thông. Ngày nay Đức Thế Tôn mới
nói lúc đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bắt
đầu khiến kia phát tâm giáo hóa chỉ dạy, dìu dắt làm cho
kia hướng về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đức Thế
Tôn thành Phật chưa bao lâu mà bèn có thể làm việc công
đức lớn này. Sau khi Phật diệt độ, nếu nghe lời
này hoặc chẳng tin nhận sinh nhân duyên tội nghiệp phá chánh
pháp. Thế Tôn! Mong vì chúng giải nói trừ lòng nghi của chúng
con và các thiện nam tử đời vị lai”.
Đó
là lời hỏi rốt sau khi Đức Thế Tôn đã khai thị “Tri
kiến Phật” để cho chúng hội ngộ về “Tri kiến Phật”,
ngộ về “tự tánh nhiệm mầu”.
Sự
trực ngộ này vượt ra ngoài sự suy lường phân bịêt của
thức tâm.
Đây
là một sự kiện vô cùng quan yếu nhận chân được “bản
lai diện mục” của chính mình là một vấn đề hệ trọng.
Có trực ngộ “bản tâm” thì mới dung thông sự lý.
Từ
đó mới có thể “tùy duyên bất biến”.
Chưa
tỏ ngộ thì làm sao tránh khỏi sự phân biệt trẻ, già, mê,
giác, Phật, chúng sinh, thánh, phàm... phân chia thứ lớp, tâm
cảnh tương phân, làm sao nhận được muôn đức, muôn hạnh,
vốn đã sẵn có nơi tự tánh nhiệm mầu.
Do
đó, lời hỏi rốt sau của Ngài Di Lặc là cơ duyên để chúng
hội ngộ về “Tri kiến Phật” vậy
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch