Phẩm
An Lạc
Thứ
Mười Bốn
An
là lìa được hiểm nguy (phiền não)
Lạc
là thân tâm vui vẻ.
Hạnh
là oai nghi và lời nói đáng noi theo.
Liễu
vạn pháp ở tính thể rỗng yên, không an, không trụ, không
hành, đó là chân an lạc. Từ chân an lạc ấy mà rộng bày
Diệu Pháp Liên Hoa, đó là hạnh an lạc. Cho nên Phẩm
An Lạc Hạnh này được dựng lập.
“Lúc
bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ Tát bạch Phật rằng:
Thế Tôn ! các vị Bồ Tát này rất khó có, vì kính thuận
Phật nên phát đại thệ nguyện ở nơi đời ác sau, hộ trì
đọc tụng kinh Pháp Hoa này. Thế Tôn ! Các vị Đại Bồ Tát
ở đời ác sau, làm sao mà có thể nói kinh này?”.
Vì
các vị Đại Bồ Tát Dược Vương và Đại Nhạo Thuyết cùng
chúng hội Bồ Tát đều phát lời thệ nguyện “Trì” kinh
Pháp Hoa nên Đại Trí Văn Thù mới thưa hỏi Đức Thế Tôn
“làm sao có thể nói kinh này” trong đời ác năm trược.
Vì khi thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì cần phải năng hành,
năng liễu mới có thể vì người khác mà giảng nói được.
Do
đó, Phật bảo Ngài Văn Thù : Nếu vị Bồ Tát ở đời ác
sau muốn nói kinh này phải an trụ trong bốn pháp :
An
trụ nơi Hành xứ và Thân cận xứ.
a)
Hành xứ
“Văn
Thù Sư Lợi ! Thế nào là chỗ hành xứ của Đại Bồ Tát?”
“Nếu
có vị Đại Bồ Tát an trụ trong nhẫn nhục, hòa dịu, khéo
thuận không vụt chạc lòng cũng chẳng kinh sợ, lại đối
với pháp không phân biệt mà quán tướng như thật, cũng chẳng
hành, chẳng phân biệt, đó là chỗ hành xứ của Bồ Tát”.
Vì
hàng Thanh văn lấy ly dục làm gốc, hàng Bồ Tát lấy nhẫn
nhục làm gốc, tâm thường cùng với chân thật tướng tương
ưng. Đối với tất cả sự động loạn của ngoại cảnh,
ngoại duyên, Bồ Tát vẫn ở trong tự thể của an định,
chẳng vướng chấp nơi “hữu hành” và “vô hành”, không
và hữu cả hai đều không an trụ. Do vậy, Bồ Tát ở trong
tự tánh thanh tịnh sáng soi mà hòa lạc với muôn loài.
b)
Thế nào là thân cận xứ của Đại Bồ Tát?
Kinh
chia làm hai phần:
1-
Bất thân cận (chỗ không nên gần)
Vị
Đại Bồ Tát chẳng gần gũi quốc vương, vương tử, đại
thần, quan trưởng... chẳng gần gũi các ngoại đạo, phạm
chí, ni kiền tử ... chẳng gần kẻ viết sách thế tục, ca
ngâm, sách ngoại đạo, cùng phái lộ già da đà, phái nghịch
lộ già da đà, kẻ chơi hung hiểm, đâm nhau, đánh nhau và
bọn na la, bọn chiên đà la, hàng thịt, kẻ nuôi súc vật,
săn bắn, chài lưới. Những người như thế hoặc có lúc
họ lại đến, thời Bồ Tát vì đó nói pháp mà không có
lòng mong cầu.
Tại
sao Bồ Tát phải tránh xa những vấn đề như thế?
Bởi
vì để phó chúc cho kẻ kế thừa chưa đủ trí và lực
trong việc hiện hành Bồ Tát hạnh, nên đối với chúng sinh
còn dẫy đầy tham dục, nếu cùng họ gần gũi mà chẳng
tùy thuận thì bị nghịch cảnh làm ngăn trở việc hành trì
giáo pháp Đại thừa.
Như
đối với kẻ ngoại đạo như phái lộ già da đà là phái
chủ trương muôn vật do đất, nước, gió, lửa mà thành tứ
đại có hai nguyên tố chất và lực. Tứ đại bất diệt,
muôn vật bất diệt, không có luân hồi, xuất thế gì
cả, cứ làm theo lòng ham muốn là được. Cùng phái ngược
lại là nghịch lộ già da đà, cho nên các luận phái tranh
chấp nhau, tạo ra nhiều ác kiến đối với “chân tánh bình
đẳng nhất như” chẳng tương ứng chút nào cả, chẳng nên
gần gũi họ. Vì gần gũi họ làm cho các chúng sinh có thể
khởi động phân biệt mà rơi vào đảo tưởng. Đối với
những chúng sinh ấy nếu có đến với Bồ Tát sẽ vì họ
mà tùy cơ nghi thuyết pháp, mà không khởi niệm mong cầu
gì ở họ cả. Hơn nữa gần gũi họ chúng sinh khác sinh tâm
phân biệt. Điều đó cũng có ý nghĩa là đối với Bồ Tát
khi hiện hành nơi các thiện ác nhiễm trong tâm thể vẫn an
nhiên không hề trói buộc.
“Lại
chẳng gần gũi Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di,
hạng người cầu quả Thanh văn, hoặc ở trong phòng, hoặc
chỗ kinh hành, hoặc trong giảng đường, chẳng cùng ở chung,
hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ Tát tùy cơ
nghi nói pháp không lòng mong cầu”.
Vì
sao thế? Vì những hạng người trên đắm chấp nơi tiểu
pháp, đối với kinh pháp Đại thừa khó tin, khó hiểu, chẳng
lãnh hội được. Lại những hành vi của Bồ Tát tùy thuận
chúng sinh, họ không hiểu thấu, sinh ra chê bai, sinh tâm phân
biệt, dấy lên những niệm tốt, xấu, hơn, thua, phải, trái
... Lại rao truyền bên ngoài tổn hại đến sự hành trì mật
hạnh của Bồ Tát và sự tu dưỡng của chính họ. Nếu họ
có đến hỏi pháp thì tuỳ cơ mà thuyết “Diệu pháp Đại
thừa” do vì không vướng nhiễm khi hiện hành, nên kinh viện
dẫn “chẳng nên mong cầu gì ở nơi họ cả”.
“Văn
Thù Sư Lợi! Lại vị Đại Bồ Tát chẳng nên đối với thân
người nữ, thấy tướng có thể sinh tưởng dục nhiễm mà
nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng
cùng gái nhỏ, gái trinh, gái góa chung nói chuyện, cũng chẳng
gần năm thứ người bất nam để làm thân hậu”.
Vì
sao thế? vì gần gũi như vậy làm cho họ sinh tưởng dục
nhiễm, bởi “người nữ” ái nhiễm mang nặng. Đã là bậc
đại trí thì phải rõ thông muôn pháp. Đối với những người
ái nhiễm còn mang nặng mà kinh đã dụ như “các người nữ,
cùng những kẻ đoạn căn”. Vỏ vô minh còn dày, tâm phân
biệt ấy khởi không ngừng, không một sớm một chiều mà
tiến dẫn họ bước ngay vào “lý đạo Nhất thừa”. Trái
lại, việc tùy thuận họ chưa đúng thời, đúng lúc, tạo
ra những cảnh duyên làm cho tâm niệm mọi chúng sinh chưa hiển
lộ “lý đạo Nhất thừa” sinh tâm phân biệt, chẳng có
lợi gì cho việc hành trì giáo pháp Đại thừa vậy.
“Cũng
chẳng riêng mình vào nhà người, nếu có nhân duyên riêng
mình vào thì chuyên lòng niệm Phật. Nếu vì người nữ nói
pháp thì chẳng hở răng cười, chẳng bày hông ngực, nhẫn
đến vì pháp mà chẳng thân hậu, huống lại là việc khác.
Chẳng ưa nuôi đệ tử Sa Di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng
chẳng ưa cùng chúng đồng một thầy”.
Đây
là những duyên sự có thể tạo cơ duyên nghi ngờ cho kẻ
khác làm cho họ thối thất Bồ đề tâm và cũng cơ duyên
tạo cho những kẻ có tâm ái nhiễm dấy khỏi. Vì sự thân
cận của mình, việc nuôi dưỡng đệ tử Sa Di ít tuổi và
các trẻ nhỏ, làm cho Bồ Tát phải dùng đến một số phương
tiện như: cơm ăn, áo mặc, dạy dỗ, lắm lúc hiện ra những
tướng trạng: nghiêm nghị, lo âu, chăm sóc... làm cho tâm niệm
sinh diệt của chúng sinh dấy khởi, vì những sự việc đó
mà mất niềm tin vào “lý đạo Nhất thừa”.
2-
Thân cận xứ (chỗ nên gần)
* Thường
ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình. Đây là chỗ
thanh tịnh u nhàn, tạo cảnh duyên cho chúng sinh quy nhiếp.
Lại
nữa vị Đại Bồ Tát quán nhất thiết pháp không như thiệt
tướng, chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng
chuyển.
* Chỗ
thứ hai của Bồ Tát thân cận là xa lìa điên đảo còn gọi
là ngồi thiền nơi chỗ vắng vẻ, luôn luôn hiểu rõ thật
tướng của các pháp ở thể thường trụ. Nhận rõ, trong
mọi hành pháp “như hư không, không có thật tánh, dứt tất
cả đường nói phô, chẳng sinh, chẳng xuất, chẳng khởi”.
Vì
không có sở đắc nên chân như tính nhiệm mầu hiển lộ.
“Không
danh, không tướng, thiệt không chỗ có, chỗ lường, chỗ
ngăn, không ngại, không chướng”.
Tất
cả vọng pháp đều không có “sở hữu”. Lìa tất cả phiền
não nên “vô ngại”. Lìa tất cả sở tri chướng nên được
“không chướng”. Không kẹt trong phương sở nên gọi là
“không ngăn”. Vượt cả không gian và thời gian nên gọi
là “không chỗ, không lường”.
Tất
cả “chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sinh cho
nên nói thường ưa quán sát pháp tướng. Như thế gọi là
thân cận thứ hai của Bồ Tát”.
Tất
cả pháp đều do vô minh vọng khởi, cho nên gọi là “do nhân
duyên mà có, từ điên đảo mà sinh”. Thường quán sát pháp
tướng như thế mà xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng
vậy.
Phần
trùng tụng được lập lại ý nghĩa trên.
c)
An lạc:
Thân
tâm bình an vui vẻ không làm trái ý người, khi có người
hỏi đạo dùng pháp Đại thừa mà giải.
Nhưng
“chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển, cũng
chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở,
tốt xấu của người khác. Đối với hàng Thanh văn, cũng
chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng
kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó, lại cũng chẳng
sinh lòng oán hiềm”.
Đại
Bồ Tát sống xứng hợp với tự tánh chân chính, tự tánh
thanh tịnh, nên không bao giờ mở miệng nói người khác lỗi,
quấy, hay, dở, tốt, xấu.
Chúng
ta phải hiểu rõ rằng một niệm khởi là một sự buộc ràng.
Khởi niệm dữ thì tương ứng với cảnh giới địa ngục:
khởi niệm lành thì tương ưng với cảnh giới thiên đường:
độc hại tương ưng rồng rắn. Từ bi tương ưng cảnh giới
Bồ Tát. Trí tuệ tương ưng cảnh giới giải thoát.
Lành
dữ tuy khác mà gốc tánh lại không nhiễm lành dữ. Bậc đại
trí cần phải vượt qua sự tương phân đối đãi này.
Do
vậy, khi hành đạo Bồ Tát, chúng ta phải biết “ứng cơ
tiếp vật” mà không rời tự tánh thanh tịnh vậy.
Vì
khéo tu lòng an lạc như thế nên những người nghe pháp
không trái ý, có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp Tiểu thừa
mà đáp, chỉ dùng pháp Đại thừa vì họ giải nói làm cho
đặng bậc “nhất thiết chủng trí”.
“Lại
Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ Tát ở đời rốt sau, lúc pháp
gần diệt mà thọ trì, đọc tụng kinh điển này, chớ ôm
lòng ganh ghét, dua vạy, dối gạt, cũng chớ khinh mắng người
học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở của kia. Nếu hàng
Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di hoặc cầu Thanh văn,
hoặc cầu Duyên giác, hoặc cầu Bồ Tát đạo, đều không
đặng làm não họ, khiến kia sinh lòng nghi hối. Như nói họ:
“Các ngươi cách đạo rất xa, trọn chẳng thể đặng bậc
nhất thiết chủng trí. Vì sao? Vì các ngươi là kẻ buông
lung, biếng trễ đối với đạo, lại nữa cũng chẳng nên
hý luận các pháp. Với tất cả chúng sinh khởi tưởng đại
bi, với tất cả chúng sinh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận
theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người
rất ưa pháp cũng chẳng nên nói nhiều”.
Vì
lòng thương xót chúng sinh và chẳng hý luận các pháp, nên
đối với tất cả chúng sinh đều bình đẳng mà thuyết pháp.
Đối với kẻ ái pháp không nên thuyết nhiều, vì từ đó
sẽ mở đường cho tranh luận, trái với pháp tính nhiệm mầu
vậy.
Đó
là thành tựu hạnh an lạc thứ ba.
d)
Đầy đủ lòng từ bi rộng lớn
“Lại
Văn Thù Sư Lợi! Các vị Bồ Tát ở đời rốt sau lúc pháp
gần diệt, có nói kinh Pháp Hoa này với hạng người tại
gia, xuất gia sinh lòng đại từ, với hạng người chẳng phải
Bồ Tát sinh lòng đại bi”.
Như
thế nghĩa là người tại gia hay xuất gia đã trì kinh này
tu hạnh Đại thừa, tất cầu quả vui thù thắng Đại thừa.
Bồ Tát dùng đại từ tâm mà đem niềm vui đến cho người
đó vậy.
Đối
với người không tu hành Đại thừa, gọi là “người chẳng
phải Bồ Tát” thì Bồ Tát cần đem đại từ bi tâm mà giải
trừ cho người ấy lìa các khổ, dẫn đến Đại thừa. Phải
nghĩ như thế này: “Những người như thế thời mất lợi
lớn, Đức Như Lai phương tiện tùy nghi nói pháp, mà chẳng
nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng
hiểu Người đó dầu chẳng hỏi, chẳng hiểu, chẳng tin kinh
này, lúc “ta đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, người
đó tùy ở chỗ nào ta dùng sức thần thông, sức trí tuệ
dẫn dắt họ, khiến đặng trụ trong pháp này”.
Đây
là Bồ Tát khởi tâm đại từ bi thương xót những chúng sinh
căn trí hạ liệt, không rõ là Như Lai phương tiện tùy thuận
theo căn cơ của chúng sinh mà dẫn dắt vào “lý đạo Nhất
thừa”.
Do
vì căn trí hạ liệt mà những chúng sinh ấy chưa tin, chưa
hiểu, chưa nghe, chưa biết, chưa hỏi về lý chân thật của
đại thừa, mà tin Phật như các vị trời, thần, tiên, quỷ,
chẳng rõ thông lý mầu Phật pháp lại cầu phước báu nhân
thiên, xa rời tánh giác, Bồ Tát phải dùng sức đại bi và
trí tuệ dẫn độ họ đến đại pháp Nhất thừa.
“Văn
Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ Tát đó sau khi Như Lai diệt độ,
nếu thành tựu đặng pháp thứ tư này, thời lúc nói pháp
này không lầm lỗi, thường được Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu
bà tắc, Ưu bà di, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân
dân, Bà la môn, cư sĩ phải cúng dường cung kính tôn trọng
ngợi khen, hàng chư thiên nghe pháp cũng thường hầu. Vì sao?
vì kinh này được sức thần lực của tất cả các Đức
Phật thuở quá khứ, vị lai, hiện tại giữ gìn vậy”.
Đến
đây Đức Thế Tôn lại bảo Ngài Văn Thù rằng:
Thí
như vua Chuyển Luân,
Thánh
Vương có sức mạnh,
Binh
đánh giặc có công,
Thưởng
ban những đồ vật,
Voi,
ngựa và xe cộ,
Đồ
trang nghiêm nơi thân,
Và
những ruộng cùng nhà,
Xóm
làng thành ấp thảy,
Hoặc
ban cho y phục,
Các
món báu trân kỳ,
Tôi
tớ cùng của cải,
Đều
vui mừng ban cho,
Nếu
có người hùng anh,
Hay
làm được việc khó,
Vua
mới mở búi tóc,
Lấy
minh châu ban thưởng.
Với
dụ trên có ý nghĩa là các binh chủng Thánh Hiền đã trừ
dẹp các ma, diệt ba độc, ra khỏi ba cõi, lúc đó mới có
thể nhận lãnh được giáo pháp Tối thượng thừa hay nhận
lãnh Diệu Pháp Liên Hoa này vậy.
Đức
Như Lai cũng thế,
Là
vua trong các pháp,
Sức
nhẫn nhục rất lớn,
Tặng
báu đại trí huệ,
Dùng
lòng đại từ bi,
Đúng
như pháp hóa đời,
Thầy
tất cả mọi người,
Chịu
các điều khổ não,
Muốn
cầu được giải thoát,
Cùng
các ma đánh dẹp,...
Phật
vì chúng sinh đó,
Nói
các món kinh pháp,
Rốt
sau mới vì chúng,
Nói
kinh Pháp Hoa này,
Như
vua thánh mở tóc,
Lấy
minh châu ban thưởng,...
Sau
khi ta diệt độ,
Người
mong cầu Phật đạo,
Muốn
đặng tu an ổn,
Diễn
nói kinh pháp này,
Phải
nên thường thân cận,
Bốn
pháp trên như thế
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch