Phẩm
Trì Thứ
Mười
Ba
Trì
là nắm giữ.
Giữ
gìn kinh này chẳng cho rơi mất.
Cố
gắng khắc sâu vào lòng mà hiển lộ ra ngoài đó là phụng
trì, đọc tụng, biên chép, giảng thuyết. Nghĩa là phải diễn
đạt sự khắc sâu ấy bằng lời nói, bằng việc làm để
tự lợi, lợi tha.
“Lúc
bấy giờ Ngài Dược Vương Bồ Tát và Ngài Đại Nhạo Thuyết
Bồ Tát Ma Ha Tát cùng chung với quyến thuộc hai muôn vị Bồ
Tát đều ở trước Phật nói lời thệ rằng: Cúi mong Đức
Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ, chúng con sẽ phụng
trì, đọc tụng, diễn nói kinh này”.
Từ
những phẩm trước chúng hội đã liễu tri về “Tri Kiến
Phật”, nhận ra “Tri Kiến Phật” nơi tự thân mình. Nhưng
tri kiến Như Lai ấy được hiển lộ là nhờ Diệu Pháp. Diệu
Pháp thâm mật này cần phải kiên trì, kham nhẫn, tinh tấn,
dõng mãnh thì mới có thể nhận được.
Vì
sau khi Đức Như Lai diệt độ, chúng sinh căn lành càng ít,
bạc nhược, si mê, không có “viễn đại chí”, được ít
cho là đủ. Lại khởi tâm khinh mạn, đắm mê nơi ngũ
dục, xa rời “lý đạo Nhất thừa”. Do vậy, các vị Đại
Bồ Tát hiện hành phát khởi đại bi tâm, vì chúng sinh mà
ban pháp âm vi diệu.
Dù
có khó khăn đến đâu, dù ở cảnh giới nào các Ngài cũng
hiện sức trí tuệ vi diệu chẳng tiếc thân mạng, vì chúng
sinh mà lưu truyền Diệu Pháp Liên Hoa, để chúng sinh có cơ
duyên phát khởi Đại thừa tâm trở về “tự tánh sáng soi,
tự tánh chân chính, tự tánh thanh tịnh” của mình.
Do
vậy, đoạn kinh được viện dẫn: “Đời ác sau chúng sinh
căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn, tham lợi, dưỡng
cúng dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát.
Dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức đại nhẫn
nhục, đọc tụng kinh này, thọ trì, giải nói, biên chép,
dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mạng”.
Điều
đó cho chúng ta thấy rằng: chỉ có chư vị Đại Bồ Tát
mới có thể phát lời thệ nguyện thọ trì kinh này ở nơi
cõi Ta bà, mà các hạng Thanh văn chẳng kham được.
Nên,
“Lúc đó trong chúng có 500 vị A la hán đã đặng lãnh thọ
ký đồng bạch Phật rằng: Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ
nguyện nơi cõi khác rộng nói kinh này”.
Lại
có bậc học và vô học tám ngàn người đã đồng lãnh thọ
ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay hướng về phía
Phật nói lời thệ rằng: Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở nước
khác nói kinh này. Vì sao? Vì người trong nước Ta bà nhiều
điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng,
giận hờn, dua vạy, tâm không chân thật”.
Do
vậy, chúng ta mới thấy rõ hơn là trong thế giới ngũ trược,
người gánh vác huệ mạng Như Lai phải là bậc đại căn
đại trí, không thể dùng tiểu tâm khiếp nhược mà gánh
vác nổi. Bởi tà kiến, tham, sân, si ẩn tàng trong tâm thức.
Lời nói nhiều khi bóng bẩy nhưng sự sống lại không có
chút nào xứng hợp với tri kiến Như Lai.
Năm
trăm vị A la hán, và tám ngàn vị hữu học cùng vô học tuy
đã nhận lãnh lời trao ký thành đạo Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Nhưng các Ngài vẫn thị hiện sự e dè đối với
đời ác ngũ trược ở cõi Ta bà này.
Các
Ngài đã nhắc nhủ cho chúng ta thấy rõ rằng: việc trì kinh
thì ai ai cũng có thể trì được. Từ bậc Đại Bồ Tát,
bậc A la hán, xuống đến hàng hữu học, vô học, Tỳ kheo,
Tỳ kheo Ni... nghĩa là bậc đại trí giàu đức tính vô ngã
vị tha, xuống bậc đã trừ sạch nhân hữu lậu trong ba cõi,
những bậc nhập lưu theo chiều hướng giải thoát. Hạng người
quyết tâm cầu đạo giải thoát đều có thể lãnh hội thọ
trì kinh Pháp Hoa. Nhưng muốn truyền trao Diệu Pháp tối thượng
thừa này cần phải có các đức tính vô ngã, vị tha, nghị
lực phi thường, biện tài vô ngại, rõ thông các pháp thế
gian và xuất thế gian, sống xứng hợp với tự tính thanh
tịnh và truyền trao Diệu Pháp bằng nhiều phương tiện. Đó
mới là người trì kinh Pháp Hoa. Các vị Tỳ kheo Ni sau khi
được Đức Thế Tôn thọ ký sẽ đặng thành bậc Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác cũng chỉ xin thọ trì kinh này “ở
cõi nước khác” chứ không ở cõi Ta bà này.
Điều
đó đủ nói lên rằng dù căn cớ nào, hạng loại nào, nếu
nằm trong cảnh duyên trái nghịch ô nhiễm mà liễu tri cùng
sống xứng hợp với tánh lý nhất như mới là bậc đại
trí, đại Bồ Tát vậy.
Hơn
nữa, muốn nắm giữ kinh này, nắm giữ được chân lý tối
hậu của chư Phật truyền trao, để tạo cho chúng sinh nhận
chân được lý tánh thì phải mặc áo giáp nhẫn nhục. Nghĩa
là phải hết sức chịu đựng trước sự tấn công của muôn
vạn thứ ma chướng quấy nhiễu, mới vì chúng sinh mà tuyên
thuyết kinh này.
Nên
đoạn kinh đã viện dẫn: “Các vị Đại Bồ Tát ở trước
Phật lớn tiếng như sư tử rống mà phát thệ rằng: “Thế
Tôn! sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại,
khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sinh biên chép
kinh này, thọ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa đó, nghĩ nhớ
chân chính đúng như Pháp mà tu hành”. Tức thời các vị
Bồ Tát đều đồng tiếng nói kệ rằng:
Cúi
mong Phật chớ lo,
Sau
khi Phật diệt độ,
Trong
đời ác ghê sợ,
Chúng
con sẽ rộng nói
Có
những người vô trí,
Lời
ác mắng rủa thảy,
Và
dao gậy đánh đập,
Chúng
con đều phải nhẫn
Tỳ
kheo trong đời ác
Trí
tà lòng dua vạy,
Chưa
được nói đã được,
Lòng
ngã mạn dẫy đầy.
Hoặc
người mặc áo nạp,
Lặng
lẽ ở chỗ vắng,
Tự
nói tu chân đạo,
Khinh
dễ kẻ nhân gian,
Vì
tham lam danh lợi,
Nói
pháp cho bạch y,
Được
người đời cung kính,
Như
lục thông La Hán,
Người
đó ôm lòng ác,
Thường
nghĩ việc thế tục,
Giả
danh A Luyện Nhã,
Ưa
nói lỗi chúng con.
Lời
kệ trên các vị Đại Bồ Tát đã nêu ra các trường hợp
có thể diễn ra trong đời ác năm trược. Như hạng giả danh
Tỳ kheo mặc áo kẻ tu hạnh đầu đà, nghĩa là mặc phấn
tảo y thường đi khất thực, ngồi một chỗ mà ăn, ăn vật
thực trong bát mình xin được, qua giờ ngọ không ăn nữa,
ở nơi chỗ vắng vẻ, thường ở cội cây, nơi chỗ trống,
nơi mộ đá, thường ngồi ít nằm... lại giả danh A Luyện
Nhã, là giả danh tu hạnh đầu đà như đã nêu trên mà khinh
rẻ mọi người. Tâm lại thường tham lam lại lợi, tự cho
là đạt thành quả vị và nói là chúng con vì tham lợi dưỡng
nói luận nghĩa của ngoại đạo, mà:
Tự
làm kinh điển này,
Dối
gạt người trong đời,
Vì
muốn cầu danh tiếng,
Mà
giải nói kinh này,
Thường
ở trong đại chúng,
Vì
muốn phá chúng con,
Đến
quốc vương, quan lớn,
Bà
la môn, cư sĩ,
Và
chúng Tỳ kheo khác,
Chê
bai nói xấu con,
Bảo
là người tà kiến,
Nói
luận nghĩa ngoại đạo.
Đó
là những kẻ vô trí, chẳng hiểu được lý kinh mà cho người
trì kinh này là tà kiến, làm gì chúng sinh lại có “tri kiến
Như Lai”.
“Chúng
con vì kính Phật,
Đều
nhẫn các ác này,
Bị
người đó khinh rằng,
Các
người đều là Phật,
Lời
khinh mạn dường ấy,
Đều
sẽ nhịn chịu hết.
Vì
kính Phật trọng pháp mà kẻ xấu ác lại mỉa mai cho là “các
ngươi đều là Phật”, lời mỉa mai nặng nề ấy chúng con
đều kham nhẫn được.
Trong
đó ác kiếp trược,
Nhiều
các sự khủng bố,
Quỷ
dữ nhập thân kia,
Mắng
rủa hủy nhục con,
Chúng
con kính tin Phật,
Mặc
áo giáp nhẫn nhục,
Vì
để nói kinh này,
Nên
nhẫn các việc khó,
Con
chẳng tiếc thân mạng,
Chỉ
tiếc đạo vô thượng,
Chúng
con ở đời sau,
Hộ
trì lời Phật dặn,
Thế
Tôn đã tự biết,
Tỳ
kheo đời ác trược,
Chẳng
biết Phật phương tiện,
Tùy
nghi nói ra pháp,
Nhăn
mày nói lời ác,
Luôn
luôn bị xua đuổi,
Xa
rời nơi chùa tháp,
Các
điều ác như thế,
Nhớ
lời Phật dặn bảo,
Đều
sẽ nhẫn việc ấy.
Đó
là sức phương tiện, Đức Thế Tôn một Phật thừa phân
biệt nói thành ba. Lại đắm chấp chê bai cho các vị Bồ
Tát dùng phương tiện giáo hóa chúng sinh là ngoại đạo.
Các
thành ấp xóm làng,
Kia
có người cầu pháp,
Con
đều đến chỗ đó,
Nói
pháp của Phật dặn,
Con
là sứ của Phật,
Ở
trong chúng không sợ,
Con
sẽ khéo nói pháp,
Xin
Phật an lòng cho,
Con
ở trước Thế Tôn,
Mười
phương Phật đến nhóm,
Phát
lời thệ như thế,
Phật
tự rõ lòng con.
Như
thế phẩm Đề Bà Đạt Đa và phẩm Trì đều nói lên sự
chướng ngại có thể làm cho chúng sinh xa rời tánh giác. Trước
chướng duyên, trước kẻ nghịch dễ làm cho chúng sinh dao
động. Chúng sinh vì nhiễm trước mà vọng động nên vô minh
bao trùm “tự tánh nhiệm mầu”.
Do
đó, Đức Thế Tôn đã thương xót chỉ bày sự liễu ngộ
tự tâm, trở về với “bản giác diệu minh thanh tịnh”
vừa mới trực nhân đó, chớ để những lời chướng duyên
bao phủ mà vọng tâm dấy khởi.
- Đại
Bồ Tát Dược Vương có ý nghĩa tượng trưng cho bậc đại
y vương tài giỏi có đủ khả năng trị các bệnh tà kiến,
tự tôn, tự ti của mọi loài.
- Bồ
Tát Đại Nhạo Thuyết có ý nghĩa tượng trưng cho bậc biện
tài vô ngại, có khả năng diệt trừ tà kiến, đưa chánh
kiến trở về cho muôn loài.
Đó
là chư vị Bồ Tát thị hiện để chỉ cho chúng hội rằng:
chỉ có trí tuệ Bát Nhã, và biện tài vô ngại thì mới
có thể triển khai giáo pháp Tối thượng thừa. Nghĩa là triển
khai Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu không có đủ trí lực và pháp
lực thậm thâm vi diệu, mà chỉ vì danh tướng, lại dám tuyên
thuyết kinh này thì bánh xe pháp sẽ quay ngược lại.
Bệnh
tà kiến, biên kiến, kiến thủ sẽ phủ mờ chân tánh, nó
biến thành mũi tên lao nhanh vào địa ngục. Luận Hiển Dương
Chánh Giáo ghi:
Tâm
sinh chủng chủng pháp,
Tùy
duyên thủy thượng âu,
Tánh
chân như bất biến,
Như
thủy bổn thanh trừng,
Bất
biến tùy duyên chân thử tánh,
Tùy
duyên bất biến thị tha tâm,
Minh
tâm, minh liễu âu bào thượng,
Kiến
tánh thâm tri thúy diện trừng.
Dịch:
Tâm
sinh ra muôn pháp,
Tùy
duyên sóng nước xao,
Tánh
chân như bất biến,
Như
nước vốn lặng trong,
Bất
biến tùy duyên là tánh ấy,
Tùy
duyên bất biến chính tâm này,
Minh
tâm nhận rõ lao xao sóng,
Kiến
tánh nhìn sâu mặt nước bằng.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch