Phẩm
Hiện Bảo Tháp
Thứ
Mười Một
Đây
là phẩm kinh được viện dẫn từ Phẩm Phương Tiện. Vì
tâm địa của chúng sinh vô minh phiền não phủ mờ, nên tính
nhiệm mầu của Như Lai tạng không do đâu hiển hiện sáng
soi từ những Phẩm trên Đức Thế Tôn đã bi nhẫn khai thị
chỉ rõ về “lý đạo Nhất thừa”. Cho đến Phẩm Pháp
Sư lại càng rõ hơn nữa về cái “chân lý tối hậu” vốn
tự thể của chúng sinh đã đầy đủ.
- Không
một pháp nào không phải là pháp Phật.
- Không
một chúng sinh nào không có “Tri kiến Như Lai”.
- Không
một chúng sinh nào không có “Phật pháp thân”.
Phẩm
Hiện Bảo Tháp đã minh chứng rõ ràng về “tính thể nhiệm
mầu của Như Lai tạng”, phi hữu, phi không, hiển hiện muôn
đức trang nghiêm, không không chẳng ngại mà hữu hữu vô
cùng. Điều đó đã chứng minh được rằng Pháp tánh, Phật
tánh, cũng không ngoài tâm tánh.
- Pháp
tánh chỉ cho ta Đa Bảo.
- Tâm
tánh chỉ cho Như Lai tạng tâm hay nói cách khác là đất tâm
vậy.
- Tính
thể nhiệm mầu của Như Lai tạng tâm gồm cả Pháp tánh và
Phật tánh vậy.
“Lúc
bấy giờ trước Phật có tháp bằng bảy báu cao 500 do tuần,
ngang rộng 250 do tuần, từ dưới đất nổi lên trụ giữa
hư không.
Các
món báu vật trau dồi năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà,
vô số tràng phan để nghiêm sức đó. Chuỗi ngọc báu rũ
xuống, muôn nghìa linh báu treo trên tháp, bốn mặt đều thoảng
đưa mùi hương gỗ ly cấu chiên đàn khắp cùng cõi nước.
Các
phan lọng đều dùng bảy thức báu vàng bạc, lưu ly, xa cừ,
mã não, trân châu và mai khôi hiệp thành cao đến ngang cung
trời Tứ Thiên Vương”.
Như
thế tháp bảy báu ấy là ảnh tượng, tượng trưng cho thân
thất đại đã chuyển thành thất bảo.
Thất
bảo thân này có được khi chúng ta thoát khỏi vòng nhiễm
chấp. Thấy các pháp tự tánh là không. Không còn nằm trong
ngũ thú, nên gọi là cao vọt 500 do tuần.
- Liễu
được “ thể tính chân thường” của 25 cõi gọi là “ngang
rộng 250 do tuần”.
- Từ
tính thể nhiệm mầu của Như Lai tạng tâm mà hiển bày, nương
vào chân không thật tướng mà an trụ, nên gọi là “từ
dưới đấy nổi lên trụ giữa hư không”.
- Dùng
năm lực: tin, tấn, niệm, định, huệ tự trang nghiêm, nên
gọi là “các món báu vật trau dồi nghìn lan can”.
- Dùng
thiền định làm “phòng nhà”.
- Trí
đức làm “vô số tràng phan nghiêm sức”.
- Dùng
tam niệm trụ (tin Phật, chẳng tin Phật, tin hoặc chẳng tin,
không hề khởi động) làm “chuỗi ngọc báu rũ xuống”.
- Dùng
bốn biện tài (pháp, nghĩa, từ, lạc thuyết vô ngại biện)
làm “muôn nghìn linh báu treo trên tháp”.
- Dùng
Tứ nhiếp Pháp, thất thánh tài mà hóa độ chúng sinh thoát
ly, tứ sinh (noãn, thai, thấp, hóa sinh) cùng các cõi, nên gọi
là “bốn mặt đều thoảng đưa mùi hương gỗ ly cấu chiên
đàn”.
Các
phan lọng dùng bảy thứ báu hiệp thành cao đến ngang cung
trời Tứ thiên vương vây (bốn mặt dụ ch từ nhiếp pháp,
bảy báu dụ thất thánh tài, cung trời Tứ thiên vương dụ
thoát ly tứ sinh).
“Bấy
giờ trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng : Hay thay! Hay
thay! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, năng dùng bình đẳng đại
huệ vì đại chúng nói kinh giáo Bồ Tát pháp Phật sở hộ
niệm Diệu Pháp Liên Hoa. Đúng thế ! Đúng thế ! Đức Thích
Ca Mâu Ni Thế Tôn, như lời Phật nói đó đều chân thật”.
Chân
tâm chứa đựng hằng sa công đức nên gọi là Đa Bảo.
Tiếng
nói huyền diệu của chân tâm vọng về : Hay hay! Hay hay ! Khi
đã nghe Đức Thế Tôn phương tiện thuyết để hiển bày
chân thật tướng nên đã lập lại hai lần.
Hay
thay lần thứ nhất là nghe pháp vi diệu.
Hay
thay lần thứ hai là nhờ đó mà thấy được “nhất chân
thật tướng pháp giới” hay thấy được “tự tánh nhiệm
mầu”.
Và
cũng vì chánh pháp vi diệu mà Đức Thế Tôn đã thuyết đều
đúng như vậy. Nghĩa là phương tiện như thế, thật là chân
thật tối diệu vậy.
“Bấy
giờ bốn bộ chung thấy Đa Bảo tháp trụ trong hư không, lại
nghe trong tháp vang tiếng nói ra, đều đặng pháp hỷ, lấy
làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cung
kính chấp tay rồi đứng một bên, lúc đó có vị đại Bồ
Tát tên Đại Nhạo Thuyết biết lòng nghi của tất cả Trời,
Người, A tu la trong thế gian mà bạch Phật rằng: “Do nhân
duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp
vang ra tiếng như thế?”.
Nhận
được rằng: chân tâm vốn có hằng sa công đức, có tiếng
nói huyền diệu vọng về.
Chân
lý tối hậu ấy chưa từng bao giờ nghiệm được. Hôm nay
Đức Thế Tôn đã khai thị, chúng hội lòng vui khôn xiết.
Nhưng vẫn còn lấy làm lạ lắm. Vừa kinh nghi sợ sệt, vừa
vui mừng đón nhận, không biết có thật tự tánh nhiệm mầu
không? Nên Ngài Đại Nhạo Thuyết biết chỗ nghi ấy mà thưa
thỉnh để Đức Thế Tôn giải nghi cho chúng hội.
“Lúc
đó Phật bảo Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát : trong tháp
báu này có toàn thân Như Lai. Thời quá khứ về trước cách
đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước phương Đông,
có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu Đa
Bảo. Đức Phật đó tu hành đạo Bồ Tát phát lời thệ nguyện
lớn rằng: nếu ta được thành Phật, sau khi diệt độ trong
cõi nước mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa thời
tháp miếu của ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để
làm chứng minh khen rằng: Hay thay!”.
Công
đức quý báu bất khả tư nghị đó là tháp bảo. Tháp bảo
ấy lại có toàn thân của Như Lai Đa Bảo, hay đúng hơn là
có “Pháp thân Phật” và chỉ khi nào “Diệu Pháp Liên Hoa”
được thuyết ra thì “Pháp thân” kia được hiển lộ. Điều
đó còn gì vi diệu hơn, nên dùng danh ngôn “hay thay” một
phương chứng vậy.
“Bấy
giờ Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát do sức thần của Đức
Như Lai mà bạc Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện
muốn thấy thân của Đức Phật đó”.
Hội
chúng muốn thấy thân của Đức Đa Bảo, nghĩa là muốn thấy
“Phật pháp thân”. Điều này vô cùng huyền diệu.
Do
đó, Đức Thế Tôn bảo Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát rằng:
“Phật Đa Bảo có nguyện sâu nặng, nếu lúc tháp bảo của
ta vì nghi kinh Pháp Hoa mà hiện ra nơi trước các Đức Phật.
Có Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, thời
các vị Phật của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi
nước trong mười phương đều phải nhóm họp cả một chỗ,
vậy sau thân ta mới hiện ra”.
Huyền
diệu ở chỗ là mỗi hành vi, mỗi cử chỉ, mỗi sự việc
đều diệu dụng từ trí tuệ sáng soi. Tất cả công đức
của từ bi hỷ xả vô lượng vô biên trong từng niệm, và
niệm niệm cùng khắp, không phải là niệm mê, đều ở cái
thể an nhiên tự tại.
Thể
an nhiên tự tại ấy là chỗ nhóm họp của các pháp vi diệu.
Nên
kinh đã viện dẫn: “Phân thân Phật ở các cõi nước trong
mười phương đều phải nhóm họp một chỗ”.
Chính
bản tâm thường tịch (lặng) thường chiếu (sáng) ấy vừa
dung thông vừa thâu nhiếp, đó là tháp Đa Bảo, đó là nơi
Phật Đa Bảo an trụ, hiển bày.
Chỉ
khi nào ánh sáng trí tuệ bừng mở mới không còn bị tương
phân đối đãi, không còn bị phiền não cuốn lôi.
Chỉ
có trí tuệ, tâm cảnh mới an định và thanh tịnh. Do vậy
mà phẩm kinh đã nêu:
“Bấy
giờ Phật phóng một lằn sáng nơi lông trắng giữa chặn
mày, liền thấy 500 muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước
ở phương Đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất,
cây báu, y báu, làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức
Bồ Tát đầy dẫy trong nước đó, khắp nơi giăng màn báu,
vì chúng sinh mà nói pháp, phương Nam, Tây, Bắc, cũng lại
như thế”.
- Luồng
sáng ấy tượng trưng cho trí tuệ.
- Lông
trắng giữa chặn mày tượng trưng cho không mắc kẹt ở tương
phân đối đãi.
Như
vậy tâm cảnh mới nhất như, nên gọi pha lê làm đất, cây
báu, y báu, làm đồ trang nghiêm. Và từ đó muôn hạnh từ
bi trùm khắp cõi nước, nên gọi là Bồ Tát khắp đầy, vì
chúng sinh mà nói pháp.
“Lúc
bấy giờ cõi Ta bà liền biến thanh tịnh, đất bằng lưu
ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để ngăn tám đường,
không có các xóm làng, thôn dinh, thành ấp, sông lớn, sông
nhỏ, biển cả, núi cùng rừng bụi... chỉ lưu lại chúng
trong hội này, dời các trời người đi nơi khác”.
Một
khi tâm đã an định, trí tuệ sáng soi thì uế trược phiền
não được tẩy trừ nên “cõi Ta bà biến thanh tinh”.
Tâm
niệm mong cầu phước báu nhân thiên không còn vướng chấp,
nên gọi là “dời các hàng trời người để ở chỗ khác”.
Chúng
hội đều nhận chân được “Tri kiến Như Lai” không đâu
xa lạ mà chính ở tự thân mình.
Khi
nhận chân được như thế, nhưng vẫn còn e ngại nên phải
tự hỏi.
“Như
Lai, Bồ Tát cùng Thanh văn ít bệnh, ít não, khí lực an vui
đều an ổn chăng?” Nếu là ít bệnh, ít não thì mới mở
tháp cho xem được, mới bắt đầu thấy “Phật pháp thân”.
Do
đó, “Đức Thích Ca Mâu Ni liền từ chỗ ngồi đứng dậy
trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đều đứng dậy,
chắp tay một lòng nhìn Phật. Khi Đức Thích Ca Mâu Ni dùng
ngón tay hữu mở cửa tháp báu, vang ra tiếng lớn, như tháo
khóa chốt mở cửa thành lớn”.
Đức
Thế Tôn hiển thị “lý đạo Nhất thừa”, trụ ở chỗ
vô trụ, tùy thuận chúng sinh để “khai quyền hiển thật”.
Mà
trong phẩm kinh đã nêu là “từ chỗ ngồi đứng dậy, trụ
trên hư không, dùng tay hữu mở cửa tháp báu”.
Khai
quyền hiển thật là tùy thuận chúng sinh cũng là một sự
kiện như trời long đất lở. Thông nhiếp các căn cơ, đem
về “lý đạo Nhất thừa” làm cho bao nhiêu nhiễm chấp
đều đổ vỡ, đập phá vỏ cứng vô minh như tiếng vang dội
của một thành lớn bị phá tan, mà đoạn kinh đã ghi : “mở
cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở
cửa thành lớn” vậy.
Tức
thời tất cả chúng hội đều thấy Đức Đa Bảo Như Lai,
ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử, toàn thân không rã như
vào cảnh thiên định, lại nghe Phật đó nói: “Hay thay! Hay
thay! Thích Ca Mâu Ni Phật sướng thích nói kinh Pháp Hoa đó,
ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này”.
Pháp
thân Phật bất sinh bất diệt, hay nói “tánh thể nhất như”
không nằm trong sự tương phân “sinh tử, Niết Bàn”. Chỉ
có trí tuệ mới thấy được lòng bi mẫn của đấng Từ
phụ đã hiển bày “lý tánh” qua kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Đây là một việc chưa từng tỏ ngộ một cách toàn triệt,
thể nhập ở đó một cách toàn triệt. Ngày nay mới vỡ lẽ
ra nên cho rằng đó là “việc chưa từng có”.
Đức
Thế Tôn là đấng toàn giác luôn luôn thể nhập và hiển
hiện muôn pháp tối diệu.
- Thể
nhập “lý tánh” thể hiện tương ứng với “lý tánh”
dung thông tự tai, nên lúc đó Đức Đa Bảo Phật ở trong
tháp báu chia nửa tòa cho Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà nói
rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật có thể ngồi trên nửa tòa này’.
- Sự
lý viên dung, sự sự vô ngại, đó là cảnh giới bất tư
nghị của “pháp giới tính nhiệm mầu” mà quả vị Phật
mới đạt thành.
Do
vậy, hội chúng đã liễu tri và mong cầu đạt thành như thế,
nên đoạn kinh đã ghi:
“Bây
giờ hàng đại chúng thấy hai Đức Như Lai ngồi xếp bằng
trên tòa sư tử trong tháp báu thời đều nghĩ rằng: “Đức
Phật ngồi trên cao xa cúi mong Đức Như Lai dùng sức thần
thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không.
Tức thời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng sức thần thông
tiếp hàng đại chúng đều ở hư không”.
Đức
Thế Tôn đã dùng “phương tiện trí” chỉ rõ các pháp tự
tánh là không, để chúng sinh lìa nhiễm chấp tiến đến “lý
đạo Nhất thừa”, đó gọi là sức thần thông đệ nhất.
Chính thần thông ấy đã làm cho hội chúng thâm nhập
“Tri kiến Như Lai” vậy.
Đó
là “phương tiện diệu lực” của chúng sinh từ mê đến
giác, đã chứa đựng một cách vi diệu trong phần trường
của phẩm kinh.
Đến
đây hội chúng đã liễu tri, một lần nữa Đức Thế Tôn
đã ân cần dạy bảo:
Sau
khi ta diệt độ,
Ai
có thể hộ trì,
Đọc
nói kinh pháp này,
Thời
là đã cúng dường,
Thích
Ca cùng Đa Bảo,
Thời
ấy thấy Thích Ca,
Cùng
Đa Bảo Như Lai,
Và
các vị hóa Phật.
Nếu
sau các Phật diệt,
Người
ở trong đời ác,
Có
thể nói kinh này,
Đây
thời là rất khó.
Giả
sử gặp kiếp thiêu,
Gánh
mang những cỏ khô,
Vào
lửa không bị cháy,
Cũng
chưa lấy làm khó.
Sau
khi ta diệt độ,
Nếu
người từ kinh này,
Vì
một người mà nói,
Đây
thời mới là khó.
Hợac
người từ tám muôn,
Bốn
nghìn các pháp tạng,
Đủ
mười hai bộ kinh,
Vì
người mà diễn nói,
Khiến
các người nghe pháp,
Đều
đặn sáu thần thông,
Dầu
được như thế đó,
Cũng
chưa lấy làm khó,
Sau
khi ta diệt độ,
Nghe
lãnh kinh điển này,
Hỏi
nghĩa thú trong kinh,
Đây
thời mới là khó.
Hoặc
có người nói Pháp,
Làm
đến nghìn muôn ức,
Đến
vô lượng vô số,
Hằng
hà sa chúng sinh,
Chứng
đặng quả La Hán,
Đủ
sáu phép thần thông,
Dầu
có lợi ích đó,
Cũng
chưa phải là khó.
Sau
khi ta diệt độ,
Nếu
người hay phụng trì,
Những
kinh điển như đây,
Đây
thời là rất khó,
Ta
vì hộ Phật đạo,
Ở
trong vô lượng cõi,
Từ
thuở trước đến nay,
Rộng
nói nhiều các kinh,
Mà
ở trong kinh đó,
Kinh
này là bậc nhất
Nếu
có người tạm trì,
Thời
ta rất vui mừng
Các
Đức Phật cũng thế,
Người
nào được như vậy,
Các
Đức Phật thường khen,
Đó
là rất dõng mãnh,
Đó
là rất tinh tấn,
Gọi
là người trì giới,
Bậc
tu hạnh đầu đà,
Thời
chắc sẽ mau đặng
Quả
vô thượng Phật đạo,
Sau
khi ta diệt độ,
Có
thể hiểu nghĩa này,
Thời
là mắt sáng suốt,
Của
trời người trong đời,
Ở
trong đời kinh sợ,
Hay
nói trong chốc lát,
Tất
cả hàng trời người,
Đều
nên cúng dường đó.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch