Phẩm
Pháp Sư
Thứ
Mười
Pháp
sư có hai nghĩa:
1.
Vị nào tin hiểu, đọc tụng, thọ trì, thơ tả và vì người
giải thuyết Diệu pháp, gọi là Pháp sư.
2.
Pháp Pháp sư, đó là “chân lý tối hậu” mà chư Phật,
Bồ Tát và tất cả chúng sinh đều kính ngưỡng phụng trì.
Chính
“chân lý tối hậu” ấy mới vượt ra khỏi sự tương phân
đối đãi, vượt ra khỏi năng, sở lập ngôn. Do vậy kinh
này thiết lập với ngụ ý. Đức Thế Tôn thọ ký cho kẻ
hậu lai, nếu ai tin hiểu phụng thờ Phật pháp, phụng thờ
kinh Pháp Hoa, phụng thờ “chân lý tối hậu”.
“Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn nhân nói với Dượng Vương Bồ Tát
để bảo đảm tám muôn đại sĩ rằng: Dược Vương! Trong
đại chúng đây có vô lượng hàng chư Thiên, Long vương, Dạ
xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già,
Nhân cùng Phi nhân, Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà
dị, hạng cầu Thanh văn, cầu Bích Chi Phật, cầu Phật đạo.
Các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp
Liên Hoa một bài kệ, một câu, nhẫn đến một niệm tùy
hỷ, Ta đều trao ký cho sẽ đặng Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác”.
Kinh
Pháp Hoa là chân lý tối thượng, lời lẽ trong ấy chứa đựng
những bí yếu thâm mật của chân lý, nên rất là khó tin
khó hiểu. Lúc Phật hiện tiền hay sau khi Phật diệt độ
ai mà nghe được kinh Pháp Hoa mà tin hiểu thọ trì, thì phải
biết người đó không phải hạng căn trí hạ liệt, phải
rõ rằng người đó đã xa lìa vọng tưởng, trí tuệ rõ thông,
nên do vậy mà Đức Thế Tôn thọ ký cho.
Chỉ
cần một niệm tùy hỷ cũng đủ để tiến lên bậc Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Vì tín là đã tin mình có hạt giống
vô lậu giải thoát, làm sao không đạt thành được, nên kinh
lại viện dẫn:
“Lại
nữa, sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu
Pháp Liên Hoa này nhẫn đến một bài kệ, một câu, một niệm
tùy hỷ đó, ta cũng trao ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác cho. Nếu có người đọc tụng, thọ trì, giải nói, biên
chép kinh này nhẫn đến chắp tay cung kính. Dược Vương nên
biết ! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn
nước Phật, ở chỗ các Đức Phật thành tựu đại nguyên
vì thương xót chúng sinh mà sinh vào nhân gian”.
Bởi
vì kinh Pháp Hoa là ảnh tượng tượng trưng cho pháp tánh.
Cho nên ai đã thực hành như thế chính người đó là Pháp
sư. Chính người đó đã vì lòng bi mẫn đối với chúng sinh
mà hiện thân nơi nhân gian để tùy thuận dìu dắt chúng sinh
vậy.
“Dược
Vương! Nếu có người hỏi chúng sinh nào ở đời vị lai
sẽ thành Phật ? Nên chỉ các người ở trên đó ở đời
vị lai ắt đặng làm Phật vậy. Phải biết người đó là
Đại Bồ Tát thành xong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, vì thương xót chúng sinh mà nguyện sinh trong cõi đời
để rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa”.
“Lại
nữa! Nếu người thiện nam, thiện nữ nào sau khi Ta diệt
độ có thể rộng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến
một câu, phải biết người đó là sứ giả của Như Lai”.
Bởi
vì kinh Diệu Pháp Liên Hoa là đại bi phương tiện bí ẩn
thâm diệu của chư Như Lai. Duy có Như Lai mới năng thuyết
nổi, nên kẻ nào năng thuyết được một kệ, một câu đều
được xem Như Lai thuyết, vì đồng đại bi nguyện lực vậy.
“Dược
Vương! Nếu có người ác đem tâm không lành ở trong một
kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó
còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người
tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất
nặng”.
Vì
sao thế? Vì chửi mắng Phật thì tội cũng nặng, nhưng còn
có thể sám hối được. Sự chửi mắng ấy không ảnh hưởng
gì đến “bản lại diện mục” của tự thân mình. Hơn
nữa đấng giác ngộ, cũng không có gì phải dấy động và
cũng chẳng có gì làm thương tổn đến Ngài được. Còn chửi
mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa.
Đó chính là chúng ta đã tự xa rời tánh giác, lại làm thối
thất tâm Bồ đề của kẻ khác, không tin vào “thể tánh
nhất như” vốn ở nơi mình thì làm sao thoát khỏi vòng nhiễm
chấp sa đọa luân hồi được.
Chê
bai mắng chửi kẻ đọc tung kinh này là chính ta đã tự hủy
hoại hạt giống Phật ở nơi ta, và nơi người khác. Do vậy
mà Đức Thế Tôn dùng dụ trên để chúng sinh khởi bị thối
thất bồ đề tâm.
Vì
chửi mắng chê bai như thế là chính chúng ta không tin vào
cái “chây lý tối thượng” ở nơi ta. Mà kinh Pháp Hoa là
chỗ chứa đựng tất cả những bí yếu của chân lý, là
pháp vi diệu, để từ đó ta tự cứu ta ra khỏi vòng nhiễm
chấp luân hồi.
Sự
chửi mắng chê bai như vậy sẽ làm tổn thương đến niềm
tin vào khả năng thành Phật của chính mình. Đó là chính
ta tự biến thành mũi tên lao nhanh vào nẻo áo.
“Dược
Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người
đó dùng đức trang nghiêm của chư Phật mà tự trang nghiêm
nơi mình”.
“Dược
Vương! Nay bảo người, các kinh của ta nói, với trong kinh
này, Pháp Hoa tốt thứ nhất, vì kinh này là vua trong các kinh”.
Bởi
lẽ các kinh khác như những dòng sông, suối, rạch, tất cả
phải tuôn về biển cả. Pháp Hoa nơi đó chứa đựng “Lý
đạo Nhất thừa”.
Do
vậy nên kinh này thật khó tin, khó hiểu, nên Đức Thế Tôn
đã bảo:
“Dược
Vương! Kinh này là tạng bí yếu của các Đức Phật, chẳng
nên chia bủa vọng trao cho người”.
Đây
là món thuốc vi diệu, nếu không phải bậc đại y vương
thông đạt diệu dụng các phương dược thì chẳng thể nào
dám dùng đến vậy.
Nếu
chính là bậc đại y vương sử dụng thì không còn gì bằng.
Do vậy:
“Dược
Vương nên biết! Sau khi Như Lai diệt độ, người nào có thể
biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường, vì người khác
mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm thân, lại được
các Đức Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm cho”.
“Người
đó có đại trí lực, chí nguyện lực, và các thiện căn
lực, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được Đức
Như Lai lấy xoa đầu”.
Nếu
chúng ta tin rằng, chúng ta sẵn có “Tri kiến Như Lai”, chúng
ta sẵn có “Phật pháp thân” thì chính niềm tin đã thể
hiện rõ nét về sự dùng “đức trang nghiêm của chư Phật
tự trang nghiêm cho mình”. Nên nói là được Như Lai lấy
y trùm thân, hay được Như Lai lấy tay xoa đầu vậy.
“Dược
Vương! Nơi nơi, chỗ chỗ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng,
hoặc chép, hoặc chỗ có quyển kinh này đều nên dựng tháp
bẳng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần
để xá lợi. Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của Đức
Như Lai rồi”.
Vì
kinh Pháp Hoa chứa đựng tròn đủ chân lý. Kinh này từ kim
khẩu Phật tuyên dương, đây là diệu pháp, chỉ rõ tất cả
pháp, không một pháp nào không phải là Phật pháp. Không một
chúng sinh nào không có Phật tánh. Không một chúng sinh nào
không đạt thành tri kiến Như Lai. Do vậy, chỗ nào có kinh
này, chính nơi đó còn quý trọng hơn là có xá lợi Phật.
“Nếu
có người nào thấy được pháp này mà lễ lạy cúng dường
phải biết người đó đã gần đạo Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác”.
“Dược
Vương! Nếu có chúng sinh nào cầu Phật đạo hoặc thấy,
hoặc nghe kinh Pháp Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trí, nên
biết người đó đặng gần đạo Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác”.
Ví
như người cần nước trong lúc khát ngặt, gắng công đào
giếng, từ đất khô đào cho đến khi thấy đất ướt, đất
bùn, biết chắc rằng nước đã đi dần đến chỗ lấy được.
Cũng
như vậy, nếu ai chưa nghe, chưa hiểu, chưa có thể tu tập
Pháp Hoa này, phải biết người đó cách đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác còn xa. Nếu được nghe hiểu suy gẫm
tu tập kinh này thời biết chắc gần đạo Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì đạo Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác của tất cả Bồ Tát đều thuộc kinh này.
Do
vậy, đủ thấy rằng, kinh này là của phương tiện bậc nhất
hiển bày chân thật tướng hiển bày tri kiến Như Lai, thông
nhiếp các căn cơ, chi thẳng vào tâm Phật.
“Dược
Vương! Nếu có Bồ Tát nghe kinh Pháp Hoa này mà kinh nghi sợ
sệt thì phải biết Bồ Tát đó mới phát âm. Nếu hàng Thanh
văn nghe kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hạng
tăng thương mạn”.
Vì
nếu nghe rằng: “Chính tự thân của Bồ Tát cũng đạt thành
tri kiến Như Lai” mà kinh nghi sợ sệt thì rõ biết vị đó
mới bắt đầu bước vào lý đạo.
Còn
hàng Thanh văn nào cho là đã chứng, thành đạo quả A la hán,
được ít cho là đủ mà không hiểu được rằng mình có
thể đạt thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại
an trụ nơi quả vị A la hán, đó chính là kẻ tăng thượng
mạn vậy.
“Dược
Vương! Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào, sau khi Như
Lai diệt độ muốn vì bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này,
thời phải làm cách nào? Người thiện nam, thiện nữ
đó, phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai,
rồi mới nên vì bốn chúng rộng nói kinh này. Nhà Như Lai
chính là tâm đại từ đại bi với tất cả chúng sinh. Aùo
Như Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục. Tòa Như Lai chính
là nhất thiết pháp không”.
Muốn
nói kinh này phải đủ ba điều kiện:
- Phát
tâm đại từ đại bi.
- Có
lòng nhu hòa nhẫn nhục.
- Thực
chứng được nhất thiết pháp không hay tri kiến Như Lai.
Không
thể dùng thế trí biện thông mà nói được. Vì thế trí
biện thông là cái chướng ngại to lớn không thể nào thâm
nhập giáo nghĩa Đại thừa. Thế trí biện thông có được
là do tâm sinh diệt khởi sinh, nằm trong vòng nhiễm pháp.
Do
vậy, người nó kinh Pháp Hoa, đó là Pháp sư. Bậc Pháp sư
này là ảnh tượng, là phương tiện để chỉ về Pháp pháp
sư. Chỉ về “chân tánh nhất như” làm cho chúng sinh viên
thành đạo quả.
Cuối
phẩm kinh đã viện dẫn: “Nếu ai gần Pháp sư mau đặng
đạo Bồ Tát, thuận theo thầy đó học, đặng thấy hằng
sa Phật”.
Thầy
đó chính “Pháp pháp sư” vậy
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch