Phẩm
Thọ Học Vô Học Nhân Ký
Thứ
Chín
Hạng
thương căn bậc hạ đầu tiên đã được thọ ký đó là
Ngài Mãn Từ Tử, thứ đến là Ngài Kiều Trần Như và 500
vị A la hán.
Sau
đây là những người học và vô học được thọ ký vậy.
Lần
thứ ba trao ký cho chúng Thanh văn bậc hạ như Ngài Mãn Từ
Tử, Kiều Trần Như và 500 vị A la hán đều là bậc vô học.
Những vị cùng hàng Thanh văn tiến đến địa vị tứ quả
như Ngài A Nam, La Hầu La, cùng với 2.000 người khác, giờ
đây mới được trao ký, nên phẩm này được thuyết. Ngài
Mãn Từ Tử đứng đầu trong phẩm trao ký trước. Ngài A Nam
đứng đầu trong phẩm trao ký này, vì thông với phẩm trước
mà có danh xưng “thọ học, vô học nhân ký” vậy.
“Bấy
giờ Ngài A Nam và Ngài La Hầu La nghĩ như vầy: chúng ta tự
suy nghĩ nếu được trao ký thời chẳng sung sướng lắm sao?
Liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật đầu mặt
lạy chân Phật đồng bạch rằng: Thế Tôn! Chúng con trong
đây cũng đáng có phần, chỉ có Đức Như Lai là chỗ nương
của chúng con, lại chúng con là người quen biết của
tất cả trời, người, A tu la trong đời. A Nan thường làm
kẻ hộ trì pháp tạng, La Hầu La là con của Phật. Nếu Phật
trao ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giáo cho, thời lòng
nguyện cầu của chúng con đã mãn, mà lòng trông của chúng
con cũng được đủ”.
Với
ý nghĩa Ngài A Nan và hội chúng đều sung sướng mong chờ
Đức Thế Tôn trao ký. Chỉ có Như Lai là chỗ nương về của
chúng con, chúng con đã nhận chân được chỗ nương về đó
là “tri kiến Như Lai” chứ chẳng phải ở tiểu quả Thanh
văn vậy.
Lời
thỉnh cầu của A Nam cùng 2.000 người khác Đức Thế Tôn
rõ biết và Ngài đã trao ký cho.
“Bây
giờ Đức Phật bảo A Nan: Ngươi ở đời sau sẽ đặng làm
Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai,
nước tên là Thường Lập Thắng Phan, kiếp tên Diệu Âm Biến
Mãn”.
Do
A Nan, bậc đa văn biện tài xuất chúng, túc duyên ấy sẽ
đạt thành trí tuệ cao như núi, sâu rộng như biển, không
có gì ngăn cản nên có danh xưng: “Sơn Hải Huệ Tự Tại
Thông Vương Như Lai”.
Với
sự dẫn dắt chúng sinh cùng biện tài vô ngại mà tiếng tăm
nhiệm mầu hiển bày khắp các cõi nên có tên là “Thường
Lập Thắng Phan” kiếp tên là “Diệu Âm Biến Mãn”.
“Bấy
giờ trong hội hàng tân Bồ Tát phát ý 8.000 người đều nghĩ
như thế này: chúng ta vẫn chưa nghe các vị Đại Bồ Tát
được thọ ký như thế, có nhân duyên gì mà các Thanh văn
được thọ ký như vậy?”.
Sự
khởi ghi của những vị Bồ Tát mới phát tâm Đại thừa
là “hàng Thanh văn bậc hạ chưa đạt quả vị A la hán mà
sao Đức Thế Tôn lại thọ ký như thế, vì nhân duyên gì
lại được quả vị đó?.
Đây
là một ý chí cao tuyệt của các Ngài vì phát khởi lòng bi
mẫn để Đức Thế Tôn giải nghi cho chúng hội về hạt giống
“vô lậu” chánh nhân. Ai cũng có hạt giống “chánh nhân”,
ai cũng có Phật tánh, nhưng nhờ thiện tri thức hướng dẫn
khuyến thỉnh, đó là “duyên nhân”. Từ chỗ hướng dẫn
khuyến khích ấy mà mình tự tin nơi mình sẽ giác ngộ, sẽ
nhận chân được “bản lai diện mục” của chính mình một
cách rốt ráo, đó là “liễu nhân”.
Với
chánh nhân, duyên nhân, và liễu nhân, mỗi chúng sinh đều
gồm đủ. Khi nhận chân được rõ ràng thì không còn gì phải
nghi vấn.
Do
vậy, Đức Thế Tôn đã dạy rằng: “Các thiện nam tử! Ta
cùng A Nan ở chỗ Đức Phật Không Vương đồng phát tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. A Nan thường ưu học rộng,
còn ta vì siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, mà A Nan hộ trì pháp tạng của ta,
bổn nguyện A Nan như thế, nên mới trao ký dường ấy”.
Điều
đó đã cho chúng ta thấy rõ rằng: muốn thành bậc Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, không phải học rộng là đủ, vì
học chỉ làm thỏa mãn sự mong cầu hiểu biết. Vọng chấp
trên sự hiểu biết đó mà không thấy được “tự tánh”
vốn từ vô thủy vô chung, tự tại vắng lặng sáng soi không
phải do học mà vào, không phải do chữ nghĩa nhiều mà vào
được.
Sự
“minh tâm kiến tánh” không phải có sự thể hiện thực
tại, hay quán triệt thực tại mà phải siêu việt thực tại.
Phật
và chúng sinh thể vốn đồng, nên Đức Thế Tôn đã bảo:
“Ta và A Nan đều ở chỗ “Không Vương Như Lai”. Chính
ở nơi “tánh không” ấy mà tùy duyên ứng hiện, năng quay
bánh xe pháp để dìu dắt chúng sinh thành đạo Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, nên gọi là “Như Lai”, A Nan vì đại
bi công hạnh hộ trì pháp tạng thâm mật Như Lai. Ngài là
vị Đại Bồ Tát hiện tướng Thanh văn trong chúng hội, khởi
hạnh đa văn, truyền thừa giáo pháp nên lời trao ký quyết
định thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu
là “Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai”.
Khi
đó Ngài A Nan dùng kệ bạch rằng:
Thế
tôn rất ít có,
Khiến
con nhớ quá khứ,
Vô
lượng các Phật pháp,
Như
chỗ nghe ngày nay,
Con
nay không còn nghi,
An
trụ trong Phật đạo,
Phương
tiện làm thị giả,
Hộ
trì các Phật pháp.
Bấy
giờ Phật bảo La Hầu La: “Người ở đời vị lai sẽ đặng
làm Phật hiệu là Đạo Thất Bửu Hoa Như Lai... cũng đồng
như Đức Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không
khác. Ngươi cũng làm trưởng tử cho Phật này, qua sau đây
sẽ thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
Vì
La Hầu La dùng thất giác chi làm nhân hạnh (trạch pháp, tinh
tấn, khinh an, hỷ, xả, niệm, định). Nên trên quả vị đạt
thành có danh xưng “Đạo Thật Bửu Hoa”. Và cũng vì “mật
hạnh đệ nhất” của Ngài mà được tôn xưng là “Phật
tử” hay “con Phật” vậy.
Sau
đó Đức Thế Tôn thọ ký cho 2.000 vị Thanh văn hữu học
cùng vô học, ý chí đã hòa dịu vắng lặng trong sạch, sẽ
đặng thành Phật đồng một hiệu là “Bửu Tướng Như Lai”
cõi nước trang nghiêm đều đồng nhau không khác.
Với
ý nghĩa muốn thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
thì cần phải cung kính hộ trì tạng pháp, phải thể hiện
đức tính từ bi nhẫn nhục, phát đại nguyện rộng độ
chúng sinh và thể nhập vào lý đạo Nhất thừa. Đó là ý
chỉ tối hậu của toàn phẩm vậy
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch