Phẩm
Ngũ Bá Ðệ Tử Lảnh Ký
Thứ
Tám
Phẩm
Hóa Thành Dụ được thuyết để đối trị những kẻ tăng
thượng mạn hoặc do thiền định hoặc do tu pháp Tứ Đế
chứng đặng quả vị Thanh văn cho là rốt ráo.
Nay
để đối trị những kẻ tăng thượng mạn không được cho
là được, không chứng cho là chứng, tâm thức vọng tưởng
đảo điên mà kiêu mạn nên mới thuyết phẩm “Ngũ bá đệ
tử lãnh ký” này.
Hơn
nữa Ngài Mãn Từ Tử hay có danh xưng là Phú Lâu Na, là vị
Bồ Tát hóa hiện Thanh văn. Đó là vì chúng thượng căn bậc
hạ mà uốn chiều thị hiện. Để từ đó nói lên sở nguyện
của chúng hội dù chưa đạt thành tri kiến Như Lai. Nhưng
sau khi nghe Đức Thế Tôn dùng phương tiện, thí dụ khai mở
lý đạo Nhất thừa, Ngài Mãn Từ Tử đại diện cho chúng
hội thượng căn bậc hạ đã hưng phấn tự nhận ra lý đạo
nhiệm mầu nên phẩm này được thuyết.
Lúc
bấy giờ Ngài Mãn Từ Tử từ nơi Đức Phật nghe trí tuệ
phương tiện tùy cơ nghi nói pháp như thế, lại nghe trao ký
cho các vị đệ tử lớn sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, lại nghe việc nhân duyên đời trước, lại nghe
các Đức Phật có sức tự tại thần thông, đặng điều
chưa từng có, lòng thanh tịnh hớn hở, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy đến trước Phật đầu mặt lễ chân Phật rồi
đứng qua một bên, chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt
không tạm rời mà nghĩ thế này: “Thế Tôn rất kỳ lạ,
việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời,
dùng sức phương tiện tri kiến mà vì đó nói pháp, cứu vớt
chúng sinh ra khỏi chỗ tham trước, chúng con đối với công
đức của Phật không thể dùng lời nói mà tuyên dương được,
chỉ có Đức Thế Tôn hay biết bổn nguyện trong thâm tâm
của chúng con”.
Điều
đó đã nói lên rằng: “thể tánh viên minh” không đâu xa
lạ. Chỉ rời bỏ tham trước mà đạt thành “diệu lý cao
siêu”. Ngài Mãn Từ Tử thể nhập được “chân tánh nhiệm
mầu” ấy mới thấy rõ rằng Đức Thế Tôn rất kỳ lạ,
việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời,
mà dìu dắt uốn nắn để đưa chúng sinh từ mê đến giác,
nhận chân được “bản lai diện mục” của mình.
Đến
đây Đức Thế Tôn lại khen Ngài Mãn Từ Tử là kẻ thuyết
pháp đệ nhất, biện tài vô ngại, viên chứng nhị không,
đầy đủ hạnh thanh tịnh, ẩn tích nơi Thanh văn, giáo hóa
kẻ khác, an lậpđạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tự
lợi và lợi tha đầy đủ.
Do
vậy, quá vô lượng vô số kiếp về sau ngươi sẽ ở cõi
này thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là “Pháp
Minh Như Lai”.
Ở
quốc độ của Ngài, chúng sinh thường dùng hai thức ăn: pháp
hỷ thực và thiền duyệt thực. Với hai món vô lậu thực
ấy mới phá hủy được bốn món hữu lậu thực: đoạn thực,
xúc thực, tư thực, thức thực, luôn luôn làm tăng trưởng
cho vọng niệm dấy khởi.
Khen
ngợi và thọ ký cho Mãn Từ Tử đã hàm chứa sự diệu
dụng phi thường của Đức Thế Tôn là chỉ cho chúng sinh
thấy rõ “chân trí viên minh” nơi tự thể vốn có đầy
đủ công năng và oai đức tự tại.
Năm
trăm vị A la hán đồng với Ngài Mãn Từ Tử thấy Ngài được
thọ ký, ai cũng vui mừng, mong Đức Thế Tôn thọ ký cho mình.
Kế đó Đức Thế Tôn đã thọ ký cho các Ngài.
“Bấy
giờ 500 vị A La Hán ở trước Phật được trao ký xong, vui
mừng nhảy nhót, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước
Phật đầu mặt lạy chân Phật ăn năn lỗi mình mà tự trách:
“Thế Tôn! Chúng con thường nghĩ như vậy, tự cho mình đã
rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là người vô trí. Vì
sao? Vì chúng con đáng được trí tuệ Như Lai mà bèn lấy
trí nhỏ cho là đủ”.
Sự
hưng phấn phát khởi từ nhân hạnh Phật thừa đã thể hiện
rõ rệt về sự giác ngộ thấu triệt giáo nghĩa Đại thừa.
Thể
tánh viên minh vốn tự bao giờ thường tịch thường chiếu
vi diệu khôn lường. Bây giờ mới nhận ra, mới phá trừ
tiểu pháp mà từ lâu tự cho đó là rốt ráo.
Điều
đó chẳng khác gì kẻ si mê mờ tối không nhận chân được
tự tánh, vốn hiện tại, hiện tiền, không sinh, không diệt,
đầy đủ diệu dụng công đức bất tư nghì. Nhưng vì vô
minh trói buộc nên dù gặp Phật pháp vẫn không hề hay biết,
mà đoạn kinh đã viện dẫn lời của các vị A la hán trình
bày với Đức Thế Tôn: “Thí như có người đến nhà bạn
thân say rượu mà nằm. Lúc đó người bạn thân có việc
quan phải đi mới lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã
say cho đó rồi đi. Gã đó say nằm không hay biết, sau khi dậy
bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng
sức cầu tìm rất đỗi khó nhọc, nếu có được chút ít
bèn cho là đủ. Lúc sau người bạn thân gặp gỡ thấy gã
bèn bảo rằng: Ôi chao! Anh này, sao lại vì ăn mặc mà đến
nỗi này. Ta lúc trước muốn cho anh được an vui đem châu
báo vô giá cột vào áo anh, nay vẫn còn đó, mà anh không biết.
Nay anh đem ngọc báu đó đổi lấy đồ cần dùng, thì thường
được vừa ý, không bị thiếu thốn”.
Bản
tâm vẫn đó, diệu dụng tùy duyên. Thể tính chân thường,
chân lạc, chân ngã, chân tịnh, là ngọc báu vô giá ở nơi
mình. Thế mà lang thang tìm cầu ăn mặc gắng sức rất đỗi
nhọc nhằn, được chút ít bèn cho là đủ.
Như
thế các Ngài đã nói lên rằng sự thọ dụng tiểu pháp bấy
lâu nay cho là đủ đó, giờ đây nhờ Đức Thế Tôn khai ngộ
mới nhận được “viên ngọc vô giá” vẫn hiện bên mình.
Đoạn
kinh đã viện dẫn: “Đức Phật cũng lại như vậy, lúc làm
Bồ Tát giáo hóa chúng con khiến phát lòng cầu nhất thiết
trí mà chúng con không hay không biết. Đã được đạo A la
hán tự nói là diệt độ, khổ nhọc nuôi sống được chút
ít cho là đủ. Nay mới biết mình thật là Bồ Tát được
lãnh ký sẽ thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng đặng điều chưa từng
có”.
Một
khi đã sống đúng với chân lý giải thoát, liễu được bản
tâm, thực hành lục độ. Trong thì sáng suốt an nhiên, ngoài
thì tùy thuận hóa hiện, đó là Bồ Tát. Thế mà không hay
không biết, tự an trụ nơi Thanh văn cho là đủ, nay mới liễu
triệt được đạo mầu. Do vậy phẩm “Ngũ bá đệ tử lãnh
ký” đã thể hiện rõ nét con đường tiến đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, không đâu xa, mà chính tự thân phải
nhận chân được “bản tánh viên giác” của mình.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch