Phẩm
Thọ Ký
Thứ
Sáu
Hạng
thượng căn thượng trí như Ngài Xá Lợi Phật được thọ
ký sau khi nghe Đức Thế Tôn thuyết về hạnh nguyện đại
từ đại bi của chư Phật, nhằm khai thị chúng sinh ngộ nhập
Phật tri kiến, mà các Ngài đã dùng phương tiện một Phật
thừa phân biệt nói thành ba.
Với
thí dụ về nhà lửa, sự trình giải và thí dụ về gã cùng
tử của nhóm Ngài Đại Ca Diếp.
Đức
Thế Tôn đã từ mẫn thuyết về dược thảo dụ, hạng thượng
căn bậc trung đã lãnh hội một cách rốt ráo. Do vậy, Đức
Thế Tôn đã trao ký cho từng vị trong nhóm Ngài Đại Ca Diếp
này.
Vì
sao có sự trao ký riêng cho từng vị như vậy?
Bởi
con đường “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” là con đường
tối hậu mà mỗi chúng sinh đều có thể đạt thành. Tuy nhiên
phương tiện nào để cho kẻ “bộ hành” đạt đến mục
đích ấy? Điều đó phải tùy theo căn cơ và sự phát khởi
chủng tính của từng hạng loại mà cuộc hành trình ấy có
thể chậm mau. Chính vì sự thấm nhuần pháp như có sai biệt
theo chủng loại, và cũng chính vì muốn đối trị quan niệm
cho rằng quả vị Nhị thừa không thể nào đạt thành “Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác” mà có phẩm Thọ Ký này.
“Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn đã nói kệ xong, bảo các đại chúng
và xướng lời thế này : Ma Ha Ca Diếp đệ tử của ta ở
đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các Đức Phật
Thế Tôn cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen, rộng
nói vô lượng đạo pháp của các Đức Phật, ở nơi thân
rốt sau thành Phật, hiệu Quang Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh
biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng
sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.
Nước tên Quang Đức, cõi nước giàu vui, Bồ Tát trong nước
đông vô lượng, Đức Ma Ha Ca Diếp phụng thờ 300 muôn ức
Đức Phật và thân rốt sau thành Phật”.
Như
vậy sự đạt thành Chánh đẳng Chánh giác của Ngài số kiếp
bao nhiêu? Thọ ký như thế mà trong chúng hội vui mừng cho
là đặng điều chưa từng có. Còn chúng ta hôm nay thường
vấp phải hai quan niệm:
- Tu
cách nào để mau chứng đắc.
- Tu
từ từ ngày một, hai thời kinh, hoặc một đôi giờ ngồi
thiền, niệm Phật, trì chú, là được rồi.
Quan
niệm thứ nhất dễ bị lạc đường vì muốn nhanh nên ai
chỉ đi đường nào mình cũng đi được, để rồi đi quanh
quẩn nhọc nhằn mà chẳng tới đâu.
Quan
niệm thứ hai buông trôi dật dờ theo ngày tháng, cuối cùng
chẳng thấu rõ lý đạo nhiệm mầu. Cả hai quan niệm ấy
đều dấy khởi từ vọng thức sai lầm.
Tại
sao lại vấp phải sai lầm như thế?
Bởi
vì hằng niệm chúng ta thường duyên theo cảnh, cảnh trần
phủ mờ tri giác, trí tuệ không bừng sáng, muôn việc niệm
niệm lao xao quay cuồng điên đảo. Từng phút từng giây tâm
không an định. Kẻ thì nôn nóng, lo âu, sợ sệt, người thì
dật dờ chầm chậm buông trôi. Lý đạo nhiệm mầu ở ngay
trước mắt, không chậm, không mau, không thiện, không ác.
Muốn đến Tây phương Cực lạc, chỉ một câu “Nam mô A
Di Đà Phật” một câu niệm Phật ấy là nẻo tắt để ra
ngoài tam giới, là ngọn đèn sáng soi hắc ám, là viên dũng
tướng phá tan lũy thành. Một câu niệm Phật khảy móng tay
đã đến cảnh giới Di Đà.
Niệm
làm sao? Mau hay chậm, lớn hay nhỏ, hoặc niệm cho có chừng?
Niệm
Di Đà là sáng soi muôn nẻo, dứt hết chướng duyên, không
lay, không chuyển.
Như
kẻ đang rớt xuống hố sâu ngàn thước mong cầu ra khỏi.
Như
kẻ đứng trên đầu ngọn cây ngàn thước, thõng tay bước
tới.
Đi,
đứng, nằm, ngồi, tới, lui, động, tịnh, một ý nghĩ, một
lời nói, một việc làm, không một điều nào là không phải
“Nam mô A Di Đà Phật”.
Vì
Phật là “giác”, niệm Phật là niệm giác, niệm nào cũng
tỉnh giác. Chính như thế mới tỏ ngộ lý mầu của đạo,
mà dứt trừ suy nghĩ chóng mau. Chính như thế mới tránh khỏi
vọng thức sai lầm.
Ngài
Ca Diếp đã hiển bày trí tuệ thâm sâu bước vào Phật đạo.
Cho nên lời kinh đã ẩn dụ, ghi rằng Ngài đã: “Rộng nói
vô lượng đạo pháp phụng thờ 300 muôn ức Đức Phật cúng
dường, cung kính, t6n trọng, ngợi khen”.
Chính
ánh ság trí tuệ kia đã chiếu tỏ muôn hạnh lành, bố thí,
nhẫn nhục, tinh tấn... tương ưng cùng tánh thể mà “ở
thân rốt sau đặng thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai”.
Sống
với “giác tri thường chiếu” thì mới vượt khỏi sự
ràng buộc của thức tâm về không gian và thời gian.
Chúng
ta đọc đến câu: “Phụng thờ 300 muôn ức Đức Phật”,
đủ thấy rằng thức tâm khó mà liễu tri được điều này.
Sự
vui mừng hớn hở của các Ngài đã chứng tỏ sự nhiệm mầu
của Như Lai tạng. Ngay hiện tiền các Ngài đã trực nhận
“bản tâm” vô thỉ vô chung thường hằng vi diệu, mà từ
lâu các Ngài bị vọng thức đánh lừa.
Đến
đây “Ngài Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Đại Ca Chiên
Diên thảy đều run sợ”. Không biết rằng mình có được
Đức Thế Tôn trao ký cho chăng? Sự mong cầu chí thiết hằng
niệm hằng niệm, các Ngài đã bước vào Phật đạo quanh
bậc thang hữu hạn Nhị thừa. Giờ đây sắp khai phá những
vi tế của vô minh, chủng tính Đại thừa đã đủ điều
kiện đơm hoa kết trái.
Do
vậy, Đức Thế Tôn tuyên thuyết với chúng hội rằng: “Tu
Bồ Đề đây đến đời vị lai phụng thờ 300 muôn ức na
do tha Đức Phật, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen, thường
tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ Tát, thân rốt sau thành
Phật, hiệu Danh Dướng Như Lai”.
Vì
Ngài Tu Bồ Đề liễu triệt pháp không, biết vạn pháp đều
hư huyễn, chỉ là danh tướng, nên đức hiệu đạt thành
nơi quả Phật, dùng phương tiện mà có tên gọi là “Danh
Tướng Như Lai”.
Kế
tiếp Đức Thế Tôn lại bảo chúng Tỳ kheo, ta nói với các
ông: “Đại Ca Chiên Diên này đời vị lai dùng các đồ mà
cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính, tôn trọng.
Sau khi các Đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu
cao một nghìn do tuần, ngang rộng bằng 500 do tuần để cúng
dường. Sau thời kỳ đó lại cúng dường hai muôn ức Đức
Phật cũng như trước, đủ đạo Bồ Tát sẽ thành Phật hiệu
Diêm Phù Na Đề Kim Quang Như Lai”.
Đến
Ngài Mục Kiền Liên cũng như thế.
Tất
cả các vị đại đệ tử Đức Thế Tôn đều được trao
ký. Điều đó cho chúng ta hiểu được rằng nếu một khi
đã thâm nhập lý đạo vững tin và sống hợp với lý đạo
ấy, thì ta sẽ đạt thành Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch