Phẩm
Dược Thảo Dụ
Thứ
Năm
Dược
Thảo Dụ: thí dụ về cỏ thuốc.
Sau
khi Ngài Ca Diếp đã trình giải chỗ thâm hiểu của mình về
“Tri kiến Phật”. Sự trình giải ấy đã nói lên rằng,
các Ngài thấu rõ được Đức Thế Tôn vì căn cơ chúng sinh,
mà phương tiện thuyết về Tam thừa để quy hướng Nhất
thừa.
Đến
đây Đức Thế Tôn khen ngợi các Ngài Huệ mạng Đại Ca Chiên
Diên, Tu Bồ Đề, Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp đã thấy đúng
biết đúng. Để làm sáng tỏ hơn và cho chúng hội hiểu được
rằng Đức Thế Tôn bình đẳng thuyết pháp. Giống như một
trận mưa thấm nhuần cây cỏ, tùy theo sức của mỗi loại
mà sự thấm nhuần có khác nhau. Do vậy, Phẩm Dược Thảo
Dụ được tuyên bày để đối trị hàng tăng thượng mạn,
cho rằng nếu quy hướng vào Nhất thừa thì tâm tánh của
chúng sinh sai khác nhau nhiều như số cát sông Hằng, làm sao
“Giáo môn Nhất thừa” có thể bao trùm mà đưa họ đến
con đường Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác được.
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Ma Ha Ca Diếp và các vị
đại đệ tử: “Hay thay! Hay thay! Ca Diếp khen nói đặng công
đức chân thật của Đức Như Lai. Đúng như lời các ngươi
nói, Đức Như Lai còn có vô lượng vô biên a tăng kỳ công
đức, các người dù trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng
không hết được”.
Như
vậy Ngài Ca Diếp đã đại diện cho các vị đệ tử và chúng
hội, nêu lên được công đức chân thật của Như Lai. Các
Ngài đã trình bày rất rõ ràng trong phẩm Tín Giải. Đức
Thế Tôn vì phương tiện theo căn cơ của chúng sinh mà một
Phật thừa phân biệt nói thành ba. Đó là công đức tùy thuận
đại từ, đại bi bất khả tư nghị của Như Lai mà Ca Diếp
đã nói lên được, nên Đức Thế Tôn đã ngợi khen: Hay thay!
Hay thay!.
- Hay
thay lần thứ nhất là khen ngợi Ngài Ca Diếp thấy đúng,
biết đúng.
- Hay
thay lần thứ hai là khen ngợi các Ngài đã trình bày một
cách chân thật rõ ràng chỗ thấy biết đúng của mình.
Nhưng
Đức Thế Tôn còn cho các Ngài biết Như Lai hãy còn có vô
lượng vô biên a tăng kỳ công đức nữa, dù nói bao lâu cũng
không hết được. Nghĩa là nếu đạt đến “thể tánh viên
minh” thì diệu dụng tùy duyên ứng hiện không thể nào suy
lường được.
Ngài
nói tiếp:
“Ca
Diếp nên biết, Đức Như Lai là vua của các pháp, nếu nói
ra điều gì đều không hư dối vậy”.
Với
ý nghĩa Đức Như Lai phương tiện vì chúng sinh mà thuyết
pháp. Sự thuyết pháp ấy dù thật, dù hư, dù có, dù không,
Ngài vẫn ung dung thông tự tại, năng quay bánh xe pháp mà không
bị bánh xe ấy trói buộc hay quay ngược lại, cho nên gọi
là “vua các pháp”. Đức Như Lai thuyết pháp hợp với căn
cơ của chúng sinh, đúng thời, đúng lúc. Nếu thuyết vì Nhị
thừa, thì hợp với căn cơ. Nếu thuyết về nhất thừa thì
ứng hợp với chân lý. Các pháp của thế gian nay dời mai
đổi. Nhưng lời của Như Lai nói ra đều rốt ráo, cứu cánh
vượt cả không gian, thời gian, nên gọi là “không hư dối”
vậy.
“Phật
đối tất cả pháp dùng sức trí huệ phương tiện mà diễn
nói, pháp của Phật nói ra thảy đều đến bậc nhất thiết
trí”. Đến đây chúng ta cũng thấy rõ hơn, Đức Thế Tôn
đã biết rõ thật tướng của các pháp, biết rõ căn cơ của
chúng sinh theo chủng loại. Ngài đã dùng trí phương tiện
tùy thuận chúng sinh để thuyết pháp. Nhưng pháp đó luôn
luôn tương ứng của trí tuệ của bậc nhất thiết trí. Do
vậy mà chúng sinh mới hiểu rõ ràng để nương theo đó tiến
vào Phật đạo.
“Đức
Như Lai xem biết chỗ quy thú của tất cả pháp, cũng biết
chỗ tâm sở hành của tất cả chúng sinh thông suốt không
ngại”.
Mặc
dù chúng sinh nhiều chủng loại, phát khởi vô lượng ý niệm
khác nhau. Nhưng trí vô ngại của Đức Thế Tôn đã thấu
rõ, do đó Ngài đã ứng dụng các pháp theo từng hạng, từng
loại để chúng nương theo mà quy hướng đến đạo Vô thượng
Chánh Đẳng, Chánh Giác.
“Phật
lại đối với các pháp rõ biết rốt ráo hết, chỉ bày tất
cả trí tuệ cho chúng sinh”.
Vì
biết rõ cội nguồn của các pháp, nên Đức Thế Tôn mới
tùy thuận theo căn cơ của chúng sinh mà lập ra Tam thừa giáo
pháp, để cuối cùng đưa chúng sinh vào “lý đạo Nhất thừa”.
Để
chúng hội lãnh hội một cách rõ ràng hơn, Đức Thế Tôn
đã tuyên bày thí dụ:
“Ca
Diếp! Thí như trong cõi tam thiên đại thiên, nơi núi, sông,
khe, hang, ruộng đất sinh ra cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc,
bao nhiêu giống loại, tên gọi màu sắc đều khác”.
Với
ý nghĩa trong cõi phàm thánh đồng cư chúng sinh nhiều chủng
loại. Hoặc có những loại đang bị nghiệp lực dẫn dắt
ở cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, hoặc có chủng
loại ở cảnh giới nhân thiên.
Tuy
nhiên, trong các chủng loại đó, có chủng loại hạt giống
thiện của thế gian và xuất thế gian đã nẩy mầm gọi là
“Ngũ thừa chủng tính” như: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh
văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ Tát thừa. Ngũ thừa chủng
tính ấy nếu đã phát khởi mà gặp cơn mưa pháp đúng thời,
đúng lúc thì nó dễ dàng đơm hoa kết trái, dễ dàng đạt
đến quả vị “Diệu giác chân thường”.
Do
vậy, trong phẩm kinh gọi Ngũ thừa chủng tính này là “các
cỏ thuốc” và mỗi thừa đều có sự phát tâm tu hành, chứng
quả khác nhau, nên gọi là “Bao nhiêu chủng loại, tên gọi,
màu sắc đều khác nhau”.
Đúng
lúc “mây mù bủa giăng khắp cõi tam thiên đại thiên”.
Đó
là dụ cho ứng hóa thân của Như Lai, khắp hiện ra 9 cõi pháp
giới đều tùy cơ thuyết pháp. Vầng mây ứng hóa ấy đã
bình đẳng và phải thời khắp nơi thấm nhuần cây cối lùm
rừng và các cỏ thuốc. Hoặc có thứ gốc nhỏ, thân nhỏ,
nhánh nhỏ, lá nhỏ. Hoặc có thứ gốc vừa, thân vừa, nhánh
vừa, lá vừa. Hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn,
lá lớn. Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng, trung,
hạ mà hấp thụ khác nhau. Một đám mây tuôn mưa xuống, xứng
theo mỗi giống loại mà cây cỏ đặng sinh trưởng, đơm bông
kết trái.
Đó
là đám mây tuôn mưa đúng lúc, đúng thời. Chính cơn mưa
pháp phải thời, đã làm cho muôn loại cây cỏ thấm nhuần.
Nhưng loại cỏ thuốc lại có công năng trị được các chứng
bệnh, như tam độc tham, sân, si, dứt trừ phiền não, đã
nhân cơn mưa ấy mà thấm nhuần lý đạo y theo đó mà hành,
để “đơm bông kết trái” làm lợi ích cho chúng sinh. Nghĩa
là sẽ đạt quả vị “diệu giác chân thường” mà hóa
độ muôn loài.
- Với
loại cỏ thuốc gốc lớn là dụ cho chủng tính Bồ Tát đại
thừa.
- Với
loại cỏ thuốc gốc vừa là dụ cho chủng tính Thanh văn,
Duyên giác thừa.
- Với
loại cỏ thuốc gốc nhỏ là dụ cho chủng tính Nhân, Thiên
thừa.
- Thân,
nhánh, lá, là dụ cho sự phát tâm tu chứng quả theo từng
chủng tính loại khác nhau.
Trong
các loại cây cũng có hai loại lớn nhỏ. Loại cây lớn dụ
cho hàng Bồ Tát từ Bát địa trở lên. Loại cây nhỏ dụ
cho hàng Bồ Tát từ Thất địa trở xuống.
Hai
loại cây này chia làm ba bậc thượng, trung, hạ phẩm.
- Bậc
hạ phẩm từ Sơ địa đến Ngũ địa.
- Bậc
trung phẩm từ Ngũ địa đến Bát địa.
- Bậc
thượng phẩm từ Bát địa trở lên.
Từ
khi phát tâm đến khi đạt thành quả vị, mỗi giống loại
đều được thấm nhuần mưa pháp một cách trọn vẹn. “Dầu
rằng một cõi đất sinh, một trận mưa thấm nhuần các cỏ
cây đều có sai khác”.
Điều
đó cho chúng ta thấy rằng ở trong cõi tam thiên đại thiên
mưa pháp vốn đồng, nhưng tùy theo giống loại cỏ cây mà
sự thấm nhuần có khác nhau.
“Ca
Diếp nên biết! Đức Như Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi
đời như vầng mây lớn nổi lên. Dùng giọng tiếng lớn vang
khắp thế giới cả trời, người, A tu ha, như mây lớn kia
trùm khắp cõi tam thiên đại thiên”.
Đức
Thế Tôn vì thương xót muôn loài, Ngài có đủ phước huệ
trang nghiêm, biện tài vô ngại. “Người chưa được độ,
thời làm cho được độ, người chưa được tỏ ngộ, thời
làm cho được tỏ ngộ, người chưa an, thời làm cho được
an, người chưa chứng Niết bàn, làm cho chứng Niết bàn”.
Ngài
là bậc có đầy đủ tam minh, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông.
Dùng vô số phương tiện tùy duyên ứng hiện để khai đạo
cho chúng sinh trong tam giới.
“Đức
Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn, hay giải đãi
của chúng sinh đó, thuận theo vừa sức nó kham được mà
vì chúng nói pháp. Chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều
khiến vui mừng đặng lợi lành, đã nghe các pháp rồi lìa
khỏi các chướng ngại ở trong các pháp theo sức mình kham
lần lần được vào đạo”.
- Đức
Như Lai nói pháp với mục đích làm cho chúng sinh dứt trừ
phiền não, xa rời vọng tưởng thoát ly sinh tử để hiển
bày “chân như tướng”.
- Đức
Như Lai thuyết pháp ứng hợp với căn cơ và chân lý. Do đó
mà chúng sinh tỏ ngộ dứt trừ cội gốc của vô minh, đạt
đến bậc nhất thiết trí.
- Đức
Như Lai biết rõ từng căn cơ của chúng sinh “còn nhớ pháp
nào, dùng pháp gì để nhớ, dùng pháp gì để nghĩ, dùng pháp
gì để tu, dùng pháp gì để đặng pháp gì?”
- “Đức
Như Lai biết đúng như thật, rõ ràng không bị ngại, nhiều
điều Đức Như Lai biết đó tự chúng sinh trong các chủng
loại không thể nào biết một cách rốt ráo được. Như cây
cối lùm rừng các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng,
trung, hạ của nó”.
- Đức
Như Lai biết tướng chân thật của vạn pháp, nhưng chúng
sinh vì vô minh nhiễm chấp nơi các pháp nên chưa có thể thấu
rõ được ngay tướng chân thật của vạn pháp.
Do
đó, Đức Như Lai thị hiện đồng cư với chúng sinh, như
đám mây lớn bao trùm các cõi, mưa pháp phải thời, phải
lúc, làm cho muôn loài cây cỏ thấm nhuần mát mẻ, từ đó
đơm hoa kết trái sum sê. Chính vì chủng loại quá nhiều và
căn cơ hạ liệt. Do vậy mà Đức Như Lai ngay lúc ban đầu
tùy thuận chúng sinh để dìu dắt uốn nắn mà không vội
thuyết về nhất thiết chủng trí. “Đức Như Lai biết một
pháp, một tướng, một vị, nghĩa là tướng giải thoát, tướng
xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết bàn, thường tịch
diệt trọn về nơi không. Phật biết như thế rồi, xem xét
tâm ưa muốn của chúng sinh mà dìu dắt chúng, cho nên chẳng
liền vì chúng thuyết nhất thiết chủng trí”.
Đến
đây một lần nữa Đức Như Lai khen ngợi bốn vị trong nhóm
Ngài Ca Diếp, đã thấu hiểu tột cùng về ý chỉ của Ngài.
“Ca
Diếp! Các ngươi rất là hi hữu, có thể biết rõ Đức Như
Lai tùy cơ nghi nói pháp hay tin hay nhận”.
Điều
quan trọng ở phần khen ngợi này mà chúng ta cần phải hiểu
rõ là chỗ “tùy cơ nghi nói pháp”. Giờ đây chúng ta thuyết
về pháp Phật, chúng ta có tùy cơ nghi không? Sở dĩ chúng
ta không tùy cơ nghi được vì chúng ta chưa thông đạt được
giáo nghĩa Đại thừa, chưa thực sống mà chúng ta chỉ loanh
quanh lẩn quẩn trong việc khuyên mọi người tụng kinh, niệm
Phật, trì chú, ngồi thiền cho thật nhiều đặng cho có phước.
Hưởng phước báu từ đời này qua đời khác, hàng ngày giữ
cho có chừng mấy thời tụng niệm.
Hàng
Tăng Ni chúng thì muốn học chữ nghĩa thật nhiều, đọc thuộc
lòng hàng trăm bài kệ, hàng ngàn điển ngữ, mống ý cao xa,
lại cứ tưởng giáo lý thâm sâu của nhà Phật nằm trong
tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Pali... rồi đổ xô
đi học các thứ tiếng ấy, để lòe đời bịp thế, bước
chân thấp chân cao ra tuồng ngơ ngơ ngáo ngáo, rốt cuộc đắm
nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc... thô hèn mà trở về thế
tục.
Vẫn
biết rằng phương tiện ngữ ngôn, văn tự cần cho việc truyền
thừa giáo pháp. Nhưng luôn luôn phải nhớ rằng chữ nghĩa
ngữ ngôn không dính dấp gì đến đạo lý thâm sâu mầu nhiệm
của chư Phật cả.
Các
bậc Tổ Đức đã từng dạy: “Phật pháp hưng vong, Tăng
đồ hữu trách”. Là Thích tử, chúng ta được gội nhuần
ánh sáng của chư Tổ, được che chở dưới bóng Bồ Đề
mát rượi của các bậc tiền nhân. Chúng ta không nỡ đem
“lý đạo nhiệm mầu” biến thành quyền uy ban phước giáng
họa hoặc biến thành chiếc thuyền truyền cảm để chở
tiền tài, danh vọng và sắc đẹp.
“Lý
đạo nhiệm mầu” không nằm trong các loại chữ viết ngôn
ngữ, bằng cấp, không nằm trong giáo nghĩa của tà giáo, ngoại
đạo và các pháp từ vọng thức nẩy sinh, từ cõi Dục đến
cõi Vô Sắc.
Thông
đạt lý đạo, hay nói đúng hơn thông đạt “giáo nghĩa Đại
thừa”, chúng ta sẽ có một mặt trời trí huệ, một núi
hùng biện, một suối từ bi, một nguồn sức mạnh vô biên.
Chúng ta sẽ có đủ điều kiện tự cứu thoát được ta và
cứu thoát cả muôn loài.
Kinh
Pháp Hoa là bộ kinh chứa đựng tròn đủ chân lý, chứa đựng
những bí yếu của chân lý.
Kinh
Pháp Hoa là vua trong các kinh, vì đó là pháp vi diệu thuyết
về “Tri kiến Phật”.
Do
vậy, chúng ta đọc tụng thọ trì kinh Pháp Hoa, để đạt
thành “Tri kiến Như Lai”, chứ chẳng phải đọc tụng để
hưởng phước báu ở cõi Nhân, Thiên.
Xưa
kia có vị sư tên Pháp Đạt, người đất Hồng Châu, xuất
gia từ 7 tuổi, lớn lên thường tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm
đến làm lễ ra mắt Lục Tổ Tuệ Năng, đầu cúi chẳng sát
đất, Tổ quở rằng: “Làm lễ mà đầu chẳng sát đất
thì chi bằng đừng làm lễ, chắc trong lòng ngươi ỷ có tích
chứa vật gì đây, vậy người chứa kín sự chi đó?”
Phát
Đạt bạch: “Tôi tụng kinh Pháp Hoa đặng 3.000 bộ rồi”.
Tổ
nói: “Dầu người có tụng muôn bộ và hiểu thấu ý nghĩa
của kinh đi nữa, cũng chẳng nên lấy đó tự phụ hơn người,
được như thế ngươi mới cùng ta đồng hành với nhau, nay
ngươi cậy mình có tạo được sự nghiệp ấy, cho nên người
lầm lỗi mà chẳng biết lỗi vậy, hãy nghe kệ ta đây:
- Lễ
phép vốn bẻ gãy cái tròng kiêu mạn, xấc xược.
- Đầu
lễ cúi không tới đất.
- Lòng
chứa ngã tướng thì tội lỗi ắt nảy sinh, quên công đi
thì phước không lường.
Tổ
lại đọc thêm một bài kệ:
- Ngươi
nay tên Pháp Đạt.
Chuyên
tụng kinh Pháp Hoa không dừng nghỉ.
Nhưng
đọc không, đọc suông cho có giọng êm tai. Chừng nào khai
mở tâm mình được sáng suốt mới thành bậc Bồ Tát.
Nay
vì ngươi có căn duyên với ta, nên ta vì ngươi mà giải quyết.
Ngươi chỉ nên tin rằng: Phật chẳng có lời nào mà không
có ý nghĩa cao siêu. Hiểu biết như vậy thì tụng kinh Pháp
Hoa dường như hoa sen trong miệng mọc ra vậy.
Sau
đó Pháp Đạt đọc kinh Pháp Hoa cho Tổ nghe đến Phẩm Thí
Dụ, Tổ bảo ngừng lại.
Tổ
dạy:
- Lòng
mê muội bị Pháp Hoa sai khiến.
- Lòng
tỏ ngộ xoay chuyển được Pháp Hoa.
Tụng
kinh trải qua bao thời gian rồi mà chẳng thông hiểu nghĩa,
thì làm cho người đọc kinh và nghĩa kinh càng nghịch lẫn
nhau.
Không
tụng thì thôi, nếu tụng thì đừng câu chấp văn tự, mà
phải tìm hiểu ý nghĩa rồi thực hành theo đó, nhờ nơi đó
mà làm điều chân chính.
Còn
như chỉ chuyên chú về mặt văn, không tìm hiểu ý nghĩa,
nhắm mắt làm càn, thì nhân đó mà làm điều tà vậy.
Bởi
vậy hoặc có tụng, hoặc không tụng đều chẳng nên tính
toán, kể lể công đức chi cả.
Có
như thế mới ngồi lâu dài trên cỗ xe trâu trắng được.
Tổ
dạy tiếp:
- Ba
cỗ xe ấy thật ra chẳng có.
Đó
là lời nói bóng dáng mượn đặng giải dạy trong thời buổi
xưa kia cho dễ hiểu. Còn đối với thời buổi hiện tại
thật sự chỉ có một cỗ xe Phật. Và chỉ dạy cho người
bỏ cái giả dối mà trở về cái chân thật.
Sau
khi quay trở về cái chân thật thì chân thật cũng chẳng có
tên.
Ngươi
nên biết, những của cải của ngươi vốn có, tất cả đều
toàn thuộc về ngươi, do ngươi thọ dụng. Lại nữa chớ
khá tưởng rằng của ấy do cha tạo ra hay con tạo ra, mà cũng
chẳng nên xem là vật vô dụng mà không tưởng dùng đến
nó.
Pháp
Đạt nhờ Tổ mở mang trí tuệ nên mừng vui không kể xiết,
nhân đó đọc một bài kệ:
Tụng
kinh được ba ngàn bộ
Nay
qua Tào Khê một câu cũng chẳng còn
Chưa
thông hiểu ý nghĩa tu hành xuất thế tới mức độ nào, thì
làm sao dứt được nợ đời ngây cuồng cho được. Ai biết
được lửa đang cháy trong nhà người ấy mới làm chủ được
tâm mình.
Tổ
nói: “Từ nay sắp sau ngươi mới có thể tự xưng là vị
Tăng biết đọc kinh”.
Từ
đó Pháp Đạt hiểu rõ ý tứ sâu kín của Tổ mà chẳng dám
bỏ bê việc tụng kinh.
Do
vậy, nên chúng ta cần phải thấu hiểu là đọc tụng, thọ
trì kinh Pháp Hoa là để đạt đến “Tri kiến Như Lai” chứ
không phải chuyên kể lể công đức đặng hưởng phước
báu nhân thiên.
Đến
đây Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà thuyết kệ:
Pháp
vương phá các cõi,
Hiện
ra trong thế gian,
Theo
tánh của chúng sinh,
Dùng
các món nói pháp,
Đức
Như Lai tôn trọng,
Trí
tuệ rất sâu xa,
Lâu
giữ pháp yếu này,
Chẳng
vội liền nói ra,
Người
trí nếu được nghe,
Thời
có thể tin hiểu,
Kẻ
không trí nghi hối,
Thời
bèn là mất hẳn,
Ca
Diếp vì cớ đó,
Theo
sức chúng nói pháp,
Dùng
các món nhân duyên,
Cho
chứng đặng chánh kiến.
Phần
trùng tụng trên với ý nghĩa Đức Thế Tôn là vua các pháp.
Ngài dùng sức trí tuệ soi sáng vô minh của chúng sinh đã
và đang bị vọng thức làm nảy sinh các cõi và đắm chấp
trong các cõi ấy. Ngài tùy theo chủng tính của chúng ta mà
nói pháp để cho chúng xa rời hư vọng mà vào nơi chánh kiến
của Phật.
Ca
Diếp ngươi nên biết,
Thí
như vầng mây lớn,
Nổi
lên trong thế gian,
Che
trùm khắp tất cả,
Mây
trí tuệ khắp nhuần,
Chớp
nhoáng chói sáng lòa
Tiếng
sấm vang xa động,
Khiến
mọi loài vui đẹp,
Nhật
quang bị che khuất,
Trên
mặt đất mát mẻ,
Mây
mù khắp bủa xuống,
Dường
có thể nắm tới,
Trận
mưa khắp bình đẳng,
Cây
cỏ đều thấm ướt,
Theo
thể tướng của nó,
Tánh
loại chia lớn nhỏ,
Nước
đượm nhuần vẫn một,
Mà
đều được sum sê.
Phần
trùng tụng trên với ý nghĩa vầng mây trí tuệ bao trùm, ngăn
trừ ác đạo, làm cho nhân hạnh ngũ thừa phát khởi, để
từ đó vươn lên tiến vào Phật đạo.
Đức
Phật cũng như thế,
Xuất
hiện ra giữa đời,
Ví
như vầng mây lớn,
Che
trùm khắp tất cả,
Đã
hiện ra trong đời,
Bèn
vì các chúng sinh,
Phân
biệt diễn nói ra,
Nghĩa
thật của các pháp.
Sau
khi đã nghe pháp tất cả chúng sinh đều tùy theo căn cơ của
mình mà đạt thành quả vị.
Tất
cả loại chúng sinh,
Được
nghe pháp của ta,
Tùy
sức mình lãnh lấy,
Trụ
ở nơi các bậc,
Hoặc
là ở trời người,
Làm
Chuyển luân thánh vương,
Trời
Thích Phạm các vua,
Đó
là cỏ thuốc nhỏ,
Hoặc
rõ pháp vô lậu,
Hay
chứng đặng Niết bàn,
Khởi
sáu pháp thần thông,
Và
đặng ba món minh,
Ở
riêng trong núi rừng,
Thường
hành môn thiền định,
Chứng
đặng bậc Duyên giác,
Là
cỏ thuốc bậc trung,
Hoặc
cầu bậc Thế Tôn,
Ta
sẽ đặng thành Phật,
Tu
tinh tấn thiền định,
Là
cỏ thuốc bậc thượng,
Lại
có hàng Phật tử,
Chuyên
tâm nơi Phật đạo,
Thường
thật hành từ bi,
Tự
biết mình thành Phật,
Quyết
định không còn nghi,
Gọi
đó là cây nhỏ,
Hoặc
an trụ thần thông,
Chuyển
bất thối pháp luân,
Độ
vô lượng muôn ức,
Trăm
nghìn loài chúng sinh,
Bồ
Tát hạng như thế,
Gọi
đó là cây lớn.
Đến
cuối phẩm:
Ca
Diếp ngươi nên biết,
Ta
dùng các nhân duyên,
Các
món thí dụ thảy,
Để
chỉ bày Phật đạo,
Đó
là ta phương tiện,
Các
Đức Phật cũng thế,
Nay
ta vì các ngươi,
Nói
việc rất chân thật,
Các
chúng thuộc Thanh văn,
Đều
chẳng phải diệt độ,
Chỗ
các ngươi tu hành,
Là
đạo của Bồ Tát,
Lần
lần tu học lên,
Thảy
đều sẽ thành Phật.
Dược
Thảo Dụ: thí dụ về cỏ thuốc.
Sau
khi Ngài Ca Diếp đã trình giải chỗ thâm hiểu của mình về
“Tri kiến Phật”. Sự trình giải ấy đã nói lên rằng,
các Ngài thấu rõ được Đức Thế Tôn vì căn cơ chúng sinh,
mà phương tiện thuyết về Tam thừa để quy hướng Nhất
thừa.
Đến
đây Đức Thế Tôn khen ngợi các Ngài Huệ mạng Đại Ca Chiên
Diên, Tu Bồ Đề, Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp đã thấy đúng
biết đúng. Để làm sáng tỏ hơn và cho chúng hội hiểu được
rằng Đức Thế Tôn bình đẳng thuyết pháp. Giống như một
trận mưa thấm nhuần cây cỏ, tùy theo sức của mỗi loại
mà sự thấm nhuần có khác nhau. Do vậy, Phẩm Dược Thảo
Dụ được tuyên bày để đối trị hàng tăng thượng mạn,
cho rằng nếu quy hướng vào Nhất thừa thì tâm tánh của
chúng sinh sai khác nhau nhiều như số cát sông Hằng, làm sao
“Giáo môn Nhất thừa” có thể bao trùm mà đưa họ đến
con đường Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác được.
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Ma Ha Ca Diếp và các vị
đại đệ tử: “Hay thay! Hay thay! Ca Diếp khen nói đặng công
đức chân thật của Đức Như Lai. Đúng như lời các ngươi
nói, Đức Như Lai còn có vô lượng vô biên a tăng kỳ công
đức, các người dù trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng
không hết được”.
Như
vậy Ngài Ca Diếp đã đại diện cho các vị đệ tử và chúng
hội, nêu lên được công đức chân thật của Như Lai. Các
Ngài đã trình bày rất rõ ràng trong phẩm Tín Giải. Đức
Thế Tôn vì phương tiện theo căn cơ của chúng sinh mà một
Phật thừa phân biệt nói thành ba. Đó là công đức tùy thuận
đại từ, đại bi bất khả tư nghị của Như Lai mà Ca Diếp
đã nói lên được, nên Đức Thế Tôn đã ngợi khen: Hay thay!
Hay thay!.
- Hay
thay lần thứ nhất là khen ngợi Ngài Ca Diếp thấy đúng,
biết đúng.
- Hay
thay lần thứ hai là khen ngợi các Ngài đã trình bày một
cách chân thật rõ ràng chỗ thấy biết đúng của mình.
Nhưng
Đức Thế Tôn còn cho các Ngài biết Như Lai hãy còn có vô
lượng vô biên a tăng kỳ công đức nữa, dù nói bao lâu cũng
không hết được. Nghĩa là nếu đạt đến “thể tánh viên
minh” thì diệu dụng tùy duyên ứng hiện không thể nào suy
lường được.
Ngài
nói tiếp:
“Ca
Diếp nên biết, Đức Như Lai là vua của các pháp, nếu nói
ra điều gì đều không hư dối vậy”.
Với
ý nghĩa Đức Như Lai phương tiện vì chúng sinh mà thuyết
pháp. Sự thuyết pháp ấy dù thật, dù hư, dù có, dù không,
Ngài vẫn ung dung thông tự tại, năng quay bánh xe pháp mà không
bị bánh xe ấy trói buộc hay quay ngược lại, cho nên gọi
là “vua các pháp”. Đức Như Lai thuyết pháp hợp với căn
cơ của chúng sinh, đúng thời, đúng lúc. Nếu thuyết vì Nhị
thừa, thì hợp với căn cơ. Nếu thuyết về nhất thừa thì
ứng hợp với chân lý. Các pháp của thế gian nay dời mai
đổi. Nhưng lời của Như Lai nói ra đều rốt ráo, cứu cánh
vượt cả không gian, thời gian, nên gọi là “không hư dối”
vậy.
“Phật
đối tất cả pháp dùng sức trí huệ phương tiện mà diễn
nói, pháp của Phật nói ra thảy đều đến bậc nhất thiết
trí”. Đến đây chúng ta cũng thấy rõ hơn, Đức Thế Tôn
đã biết rõ thật tướng của các pháp, biết rõ căn cơ của
chúng sinh theo chủng loại. Ngài đã dùng trí phương tiện
tùy thuận chúng sinh để thuyết pháp. Nhưng pháp đó luôn
luôn tương ứng của trí tuệ của bậc nhất thiết trí. Do
vậy mà chúng sinh mới hiểu rõ ràng để nương theo đó tiến
vào Phật đạo.
“Đức
Như Lai xem biết chỗ quy thú của tất cả pháp, cũng biết
chỗ tâm sở hành của tất cả chúng sinh thông suốt không
ngại”.
Mặc
dù chúng sinh nhiều chủng loại, phát khởi vô lượng ý niệm
khác nhau. Nhưng trí vô ngại của Đức Thế Tôn đã thấu
rõ, do đó Ngài đã ứng dụng các pháp theo từng hạng, từng
loại để chúng nương theo mà quy hướng đến đạo Vô thượng
Chánh Đẳng, Chánh Giác.
“Phật
lại đối với các pháp rõ biết rốt ráo hết, chỉ bày tất
cả trí tuệ cho chúng sinh”.
Vì
biết rõ cội nguồn của các pháp, nên Đức Thế Tôn mới
tùy thuận theo căn cơ của chúng sinh mà lập ra Tam thừa giáo
pháp, để cuối cùng đưa chúng sinh vào “lý đạo Nhất thừa”.
Để
chúng hội lãnh hội một cách rõ ràng hơn, Đức Thế Tôn
đã tuyên bày thí dụ:
“Ca
Diếp! Thí như trong cõi tam thiên đại thiên, nơi núi, sông,
khe, hang, ruộng đất sinh ra cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc,
bao nhiêu giống loại, tên gọi màu sắc đều khác”.
Với
ý nghĩa trong cõi phàm thánh đồng cư chúng sinh nhiều chủng
loại. Hoặc có những loại đang bị nghiệp lực dẫn dắt
ở cảnh giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, hoặc có chủng
loại ở cảnh giới nhân thiên.
Tuy
nhiên, trong các chủng loại đó, có chủng loại hạt giống
thiện của thế gian và xuất thế gian đã nẩy mầm gọi là
“Ngũ thừa chủng tính” như: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh
văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ Tát thừa. Ngũ thừa chủng
tính ấy nếu đã phát khởi mà gặp cơn mưa pháp đúng thời,
đúng lúc thì nó dễ dàng đơm hoa kết trái, dễ dàng đạt
đến quả vị “Diệu giác chân thường”.
Do
vậy, trong phẩm kinh gọi Ngũ thừa chủng tính này là “các
cỏ thuốc” và mỗi thừa đều có sự phát tâm tu hành, chứng
quả khác nhau, nên gọi là “Bao nhiêu chủng loại, tên gọi,
màu sắc đều khác nhau”.
Đúng
lúc “mây mù bủa giăng khắp cõi tam thiên đại thiên”.
Đó
là dụ cho ứng hóa thân của Như Lai, khắp hiện ra 9 cõi pháp
giới đều tùy cơ thuyết pháp. Vầng mây ứng hóa ấy đã
bình đẳng và phải thời khắp nơi thấm nhuần cây cối lùm
rừng và các cỏ thuốc. Hoặc có thứ gốc nhỏ, thân nhỏ,
nhánh nhỏ, lá nhỏ. Hoặc có thứ gốc vừa, thân vừa, nhánh
vừa, lá vừa. Hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn,
lá lớn. Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng, trung,
hạ mà hấp thụ khác nhau. Một đám mây tuôn mưa xuống, xứng
theo mỗi giống loại mà cây cỏ đặng sinh trưởng, đơm bông
kết trái.
Đó
là đám mây tuôn mưa đúng lúc, đúng thời. Chính cơn mưa
pháp phải thời, đã làm cho muôn loại cây cỏ thấm nhuần.
Nhưng loại cỏ thuốc lại có công năng trị được các chứng
bệnh, như tam độc tham, sân, si, dứt trừ phiền não, đã
nhân cơn mưa ấy mà thấm nhuần lý đạo y theo đó mà hành,
để “đơm bông kết trái” làm lợi ích cho chúng sinh. Nghĩa
là sẽ đạt quả vị “diệu giác chân thường” mà hóa
độ muôn loài.
- Với
loại cỏ thuốc gốc lớn là dụ cho chủng tính Bồ Tát đại
thừa.
- Với
loại cỏ thuốc gốc vừa là dụ cho chủng tính Thanh văn,
Duyên giác thừa.
- Với
loại cỏ thuốc gốc nhỏ là dụ cho chủng tính Nhân, Thiên
thừa.
- Thân,
nhánh, lá, là dụ cho sự phát tâm tu chứng quả theo từng
chủng tính loại khác nhau.
Trong
các loại cây cũng có hai loại lớn nhỏ. Loại cây lớn dụ
cho hàng Bồ Tát từ Bát địa trở lên. Loại cây nhỏ dụ
cho hàng Bồ Tát từ Thất địa trở xuống.
Hai
loại cây này chia làm ba bậc thượng, trung, hạ phẩm.
- Bậc
hạ phẩm từ Sơ địa đến Ngũ địa.
- Bậc
trung phẩm từ Ngũ địa đến Bát địa.
- Bậc
thượng phẩm từ Bát địa trở lên.
Từ
khi phát tâm đến khi đạt thành quả vị, mỗi giống loại
đều được thấm nhuần mưa pháp một cách trọn vẹn. “Dầu
rằng một cõi đất sinh, một trận mưa thấm nhuần các cỏ
cây đều có sai khác”.
Điều
đó cho chúng ta thấy rằng ở trong cõi tam thiên đại thiên
mưa pháp vốn đồng, nhưng tùy theo giống loại cỏ cây mà
sự thấm nhuần có khác nhau.
“Ca
Diếp nên biết! Đức Như Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi
đời như vầng mây lớn nổi lên. Dùng giọng tiếng lớn vang
khắp thế giới cả trời, người, A tu ha, như mây lớn kia
trùm khắp cõi tam thiên đại thiên”.
Đức
Thế Tôn vì thương xót muôn loài, Ngài có đủ phước huệ
trang nghiêm, biện tài vô ngại. “Người chưa được độ,
thời làm cho được độ, người chưa được tỏ ngộ, thời
làm cho được tỏ ngộ, người chưa an, thời làm cho được
an, người chưa chứng Niết bàn, làm cho chứng Niết bàn”.
Ngài
là bậc có đầy đủ tam minh, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông.
Dùng vô số phương tiện tùy duyên ứng hiện để khai đạo
cho chúng sinh trong tam giới.
“Đức
Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn, hay giải đãi
của chúng sinh đó, thuận theo vừa sức nó kham được mà
vì chúng nói pháp. Chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều
khiến vui mừng đặng lợi lành, đã nghe các pháp rồi lìa
khỏi các chướng ngại ở trong các pháp theo sức mình kham
lần lần được vào đạo”.
- Đức
Như Lai nói pháp với mục đích làm cho chúng sinh dứt trừ
phiền não, xa rời vọng tưởng thoát ly sinh tử để hiển
bày “chân như tướng”.
- Đức
Như Lai thuyết pháp ứng hợp với căn cơ và chân lý. Do đó
mà chúng sinh tỏ ngộ dứt trừ cội gốc của vô minh, đạt
đến bậc nhất thiết trí.
- Đức
Như Lai biết rõ từng căn cơ của chúng sinh “còn nhớ pháp
nào, dùng pháp gì để nhớ, dùng pháp gì để nghĩ, dùng pháp
gì để tu, dùng pháp gì để đặng pháp gì?”
- “Đức
Như Lai biết đúng như thật, rõ ràng không bị ngại, nhiều
điều Đức Như Lai biết đó tự chúng sinh trong các chủng
loại không thể nào biết một cách rốt ráo được. Như cây
cối lùm rừng các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng,
trung, hạ của nó”.
- Đức
Như Lai biết tướng chân thật của vạn pháp, nhưng chúng
sinh vì vô minh nhiễm chấp nơi các pháp nên chưa có thể thấu
rõ được ngay tướng chân thật của vạn pháp.
Do
đó, Đức Như Lai thị hiện đồng cư với chúng sinh, như
đám mây lớn bao trùm các cõi, mưa pháp phải thời, phải
lúc, làm cho muôn loài cây cỏ thấm nhuần mát mẻ, từ đó
đơm hoa kết trái sum sê. Chính vì chủng loại quá nhiều và
căn cơ hạ liệt. Do vậy mà Đức Như Lai ngay lúc ban đầu
tùy thuận chúng sinh để dìu dắt uốn nắn mà không vội
thuyết về nhất thiết chủng trí. “Đức Như Lai biết một
pháp, một tướng, một vị, nghĩa là tướng giải thoát, tướng
xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết bàn, thường tịch
diệt trọn về nơi không. Phật biết như thế rồi, xem xét
tâm ưa muốn của chúng sinh mà dìu dắt chúng, cho nên chẳng
liền vì chúng thuyết nhất thiết chủng trí”.
Đến
đây một lần nữa Đức Như Lai khen ngợi bốn vị trong nhóm
Ngài Ca Diếp, đã thấu hiểu tột cùng về ý chỉ của Ngài.
“Ca
Diếp! Các ngươi rất là hi hữu, có thể biết rõ Đức Như
Lai tùy cơ nghi nói pháp hay tin hay nhận”.
Điều
quan trọng ở phần khen ngợi này mà chúng ta cần phải hiểu
rõ là chỗ “tùy cơ nghi nói pháp”. Giờ đây chúng ta thuyết
về pháp Phật, chúng ta có tùy cơ nghi không? Sở dĩ chúng
ta không tùy cơ nghi được vì chúng ta chưa thông đạt được
giáo nghĩa Đại thừa, chưa thực sống mà chúng ta chỉ loanh
quanh lẩn quẩn trong việc khuyên mọi người tụng kinh, niệm
Phật, trì chú, ngồi thiền cho thật nhiều đặng cho có phước.
Hưởng phước báu từ đời này qua đời khác, hàng ngày giữ
cho có chừng mấy thời tụng niệm.
Hàng
Tăng Ni chúng thì muốn học chữ nghĩa thật nhiều, đọc thuộc
lòng hàng trăm bài kệ, hàng ngàn điển ngữ, mống ý cao xa,
lại cứ tưởng giáo lý thâm sâu của nhà Phật nằm trong
tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Pali... rồi đổ xô
đi học các thứ tiếng ấy, để lòe đời bịp thế, bước
chân thấp chân cao ra tuồng ngơ ngơ ngáo ngáo, rốt cuộc đắm
nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc... thô hèn mà trở về thế
tục.
Vẫn
biết rằng phương tiện ngữ ngôn, văn tự cần cho việc truyền
thừa giáo pháp. Nhưng luôn luôn phải nhớ rằng chữ nghĩa
ngữ ngôn không dính dấp gì đến đạo lý thâm sâu mầu nhiệm
của chư Phật cả.
Các
bậc Tổ Đức đã từng dạy: “Phật pháp hưng vong, Tăng
đồ hữu trách”. Là Thích tử, chúng ta được gội nhuần
ánh sáng của chư Tổ, được che chở dưới bóng Bồ Đề
mát rượi của các bậc tiền nhân. Chúng ta không nỡ đem
“lý đạo nhiệm mầu” biến thành quyền uy ban phước giáng
họa hoặc biến thành chiếc thuyền truyền cảm để chở
tiền tài, danh vọng và sắc đẹp.
“Lý
đạo nhiệm mầu” không nằm trong các loại chữ viết ngôn
ngữ, bằng cấp, không nằm trong giáo nghĩa của tà giáo, ngoại
đạo và các pháp từ vọng thức nẩy sinh, từ cõi Dục đến
cõi Vô Sắc.
Thông
đạt lý đạo, hay nói đúng hơn thông đạt “giáo nghĩa Đại
thừa”, chúng ta sẽ có một mặt trời trí huệ, một núi
hùng biện, một suối từ bi, một nguồn sức mạnh vô biên.
Chúng ta sẽ có đủ điều kiện tự cứu thoát được ta và
cứu thoát cả muôn loài.
Kinh
Pháp Hoa là bộ kinh chứa đựng tròn đủ chân lý, chứa đựng
những bí yếu của chân lý.
Kinh
Pháp Hoa là vua trong các kinh, vì đó là pháp vi diệu thuyết
về “Tri kiến Phật”.
Do
vậy, chúng ta đọc tụng thọ trì kinh Pháp Hoa, để đạt
thành “Tri kiến Như Lai”, chứ chẳng phải đọc tụng để
hưởng phước báu ở cõi Nhân, Thiên.
Xưa
kia có vị sư tên Pháp Đạt, người đất Hồng Châu, xuất
gia từ 7 tuổi, lớn lên thường tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm
đến làm lễ ra mắt Lục Tổ Tuệ Năng, đầu cúi chẳng sát
đất, Tổ quở rằng: “Làm lễ mà đầu chẳng sát đất
thì chi bằng đừng làm lễ, chắc trong lòng ngươi ỷ có tích
chứa vật gì đây, vậy người chứa kín sự chi đó?”
Phát
Đạt bạch: “Tôi tụng kinh Pháp Hoa đặng 3.000 bộ rồi”.
Tổ
nói: “Dầu người có tụng muôn bộ và hiểu thấu ý nghĩa
của kinh đi nữa, cũng chẳng nên lấy đó tự phụ hơn người,
được như thế ngươi mới cùng ta đồng hành với nhau, nay
ngươi cậy mình có tạo được sự nghiệp ấy, cho nên người
lầm lỗi mà chẳng biết lỗi vậy, hãy nghe kệ ta đây:
- Lễ
phép vốn bẻ gãy cái tròng kiêu mạn, xấc xược.
- Đầu
lễ cúi không tới đất.
- Lòng
chứa ngã tướng thì tội lỗi ắt nảy sinh, quên công đi
thì phước không lường.
Tổ
lại đọc thêm một bài kệ:
- Ngươi
nay tên Pháp Đạt.
Chuyên
tụng kinh Pháp Hoa không dừng nghỉ.
Nhưng
đọc không, đọc suông cho có giọng êm tai. Chừng nào khai
mở tâm mình được sáng suốt mới thành bậc Bồ Tát.
Nay
vì ngươi có căn duyên với ta, nên ta vì ngươi mà giải quyết.
Ngươi chỉ nên tin rằng: Phật chẳng có lời nào mà không
có ý nghĩa cao siêu. Hiểu biết như vậy thì tụng kinh Pháp
Hoa dường như hoa sen trong miệng mọc ra vậy.
Sau
đó Pháp Đạt đọc kinh Pháp Hoa cho Tổ nghe đến Phẩm Thí
Dụ, Tổ bảo ngừng lại.
Tổ
dạy:
- Lòng
mê muội bị Pháp Hoa sai khiến.
- Lòng
tỏ ngộ xoay chuyển được Pháp Hoa.
Tụng
kinh trải qua bao thời gian rồi mà chẳng thông hiểu nghĩa,
thì làm cho người đọc kinh và nghĩa kinh càng nghịch lẫn
nhau.
Không
tụng thì thôi, nếu tụng thì đừng câu chấp văn tự, mà
phải tìm hiểu ý nghĩa rồi thực hành theo đó, nhờ nơi đó
mà làm điều chân chính.
Còn
như chỉ chuyên chú về mặt văn, không tìm hiểu ý nghĩa,
nhắm mắt làm càn, thì nhân đó mà làm điều tà vậy.
Bởi
vậy hoặc có tụng, hoặc không tụng đều chẳng nên tính
toán, kể lể công đức chi cả.
Có
như thế mới ngồi lâu dài trên cỗ xe trâu trắng được.
Tổ
dạy tiếp:
- Ba
cỗ xe ấy thật ra chẳng có.
Đó
là lời nói bóng dáng mượn đặng giải dạy trong thời buổi
xưa kia cho dễ hiểu. Còn đối với thời buổi hiện tại
thật sự chỉ có một cỗ xe Phật. Và chỉ dạy cho người
bỏ cái giả dối mà trở về cái chân thật.
Sau
khi quay trở về cái chân thật thì chân thật cũng chẳng có
tên.
Ngươi
nên biết, những của cải của ngươi vốn có, tất cả đều
toàn thuộc về ngươi, do ngươi thọ dụng. Lại nữa chớ
khá tưởng rằng của ấy do cha tạo ra hay con tạo ra, mà cũng
chẳng nên xem là vật vô dụng mà không tưởng dùng đến
nó.
Pháp
Đạt nhờ Tổ mở mang trí tuệ nên mừng vui không kể xiết,
nhân đó đọc một bài kệ:
Tụng
kinh được ba ngàn bộ
Nay
qua Tào Khê một câu cũng chẳng còn
Chưa
thông hiểu ý nghĩa tu hành xuất thế tới mức độ nào, thì
làm sao dứt được nợ đời ngây cuồng cho được. Ai biết
được lửa đang cháy trong nhà người ấy mới làm chủ được
tâm mình.
Tổ
nói: “Từ nay sắp sau ngươi mới có thể tự xưng là vị
Tăng biết đọc kinh”.
Từ
đó Pháp Đạt hiểu rõ ý tứ sâu kín của Tổ mà chẳng dám
bỏ bê việc tụng kinh.
Do
vậy, nên chúng ta cần phải thấu hiểu là đọc tụng, thọ
trì kinh Pháp Hoa là để đạt đến “Tri kiến Như Lai” chứ
không phải chuyên kể lể công đức đặng hưởng phước
báu nhân thiên.
Đến
đây Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà thuyết kệ:
Pháp
vương phá các cõi,
Hiện
ra trong thế gian,
Theo
tánh của chúng sinh,
Dùng
các món nói pháp,
Đức
Như Lai tôn trọng,
Trí
tuệ rất sâu xa,
Lâu
giữ pháp yếu này,
Chẳng
vội liền nói ra,
Người
trí nếu được nghe,
Thời
có thể tin hiểu,
Kẻ
không trí nghi hối,
Thời
bèn là mất hẳn,
Ca
Diếp vì cớ đó,
Theo
sức chúng nói pháp,
Dùng
các món nhân duyên,
Cho
chứng đặng chánh kiến.
Phần
trùng tụng trên với ý nghĩa Đức Thế Tôn là vua các pháp.
Ngài dùng sức trí tuệ soi sáng vô minh của chúng sinh đã
và đang bị vọng thức làm nảy sinh các cõi và đắm chấp
trong các cõi ấy. Ngài tùy theo chủng tính của chúng ta mà
nói pháp để cho chúng xa rời hư vọng mà vào nơi chánh kiến
của Phật.
Ca
Diếp ngươi nên biết,
Thí
như vầng mây lớn,
Nổi
lên trong thế gian,
Che
trùm khắp tất cả,
Mây
trí tuệ khắp nhuần,
Chớp
nhoáng chói sáng lòa
Tiếng
sấm vang xa động,
Khiến
mọi loài vui đẹp,
Nhật
quang bị che khuất,
Trên
mặt đất mát mẻ,
Mây
mù khắp bủa xuống,
Dường
có thể nắm tới,
Trận
mưa khắp bình đẳng,
Cây
cỏ đều thấm ướt,
Theo
thể tướng của nó,
Tánh
loại chia lớn nhỏ,
Nước
đượm nhuần vẫn một,
Mà
đều được sum sê.
Phần
trùng tụng trên với ý nghĩa vầng mây trí tuệ bao trùm, ngăn
trừ ác đạo, làm cho nhân hạnh ngũ thừa phát khởi, để
từ đó vươn lên tiến vào Phật đạo.
Đức
Phật cũng như thế,
Xuất
hiện ra giữa đời,
Ví
như vầng mây lớn,
Che
trùm khắp tất cả,
Đã
hiện ra trong đời,
Bèn
vì các chúng sinh,
Phân
biệt diễn nói ra,
Nghĩa
thật của các pháp.
Sau
khi đã nghe pháp tất cả chúng sinh đều tùy theo căn cơ của
mình mà đạt thành quả vị.
Tất
cả loại chúng sinh,
Được
nghe pháp của ta,
Tùy
sức mình lãnh lấy,
Trụ
ở nơi các bậc,
Hoặc
là ở trời người,
Làm
Chuyển luân thánh vương,
Trời
Thích Phạm các vua,
Đó
là cỏ thuốc nhỏ,
Hoặc
rõ pháp vô lậu,
Hay
chứng đặng Niết bàn,
Khởi
sáu pháp thần thông,
Và
đặng ba món minh,
Ở
riêng trong núi rừng,
Thường
hành môn thiền định,
Chứng
đặng bậc Duyên giác,
Là
cỏ thuốc bậc trung,
Hoặc
cầu bậc Thế Tôn,
Ta
sẽ đặng thành Phật,
Tu
tinh tấn thiền định,
Là
cỏ thuốc bậc thượng,
Lại
có hàng Phật tử,
Chuyên
tâm nơi Phật đạo,
Thường
thật hành từ bi,
Tự
biết mình thành Phật,
Quyết
định không còn nghi,
Gọi
đó là cây nhỏ,
Hoặc
an trụ thần thông,
Chuyển
bất thối pháp luân,
Độ
vô lượng muôn ức,
Trăm
nghìn loài chúng sinh,
Bồ
Tát hạng như thế,
Gọi
đó là cây lớn.
Đến
cuối phẩm:
Ca
Diếp ngươi nên biết,
Ta
dùng các nhân duyên,
Các
món thí dụ thảy,
Để
chỉ bày Phật đạo,
Đó
là ta phương tiện,
Các
Đức Phật cũng thế,
Nay
ta vì các ngươi,
Nói
việc rất chân thật,
Các
chúng thuộc Thanh văn,
Đều
chẳng phải diệt độ,
Chỗ
các ngươi tu hành,
Là
đạo của Bồ Tát,
Lần
lần tu học lên,
Thảy
đều sẽ thành Phật.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch