Phẩm
Tín Giải
Thứ
Tư
Tín
là tin.
Giải
là hiểu rõ một cách trọn vẹn hay cởi mở những điều
mình đã hiểu.
Vậy
Phẩm Tín Giải được thiết lập với mục đích để nâu
rõ việc tin và hiểu về "Pháp môn Nhất Thừa" của bậc trung
thượng căn như Ngài Tu Bồ Đề, Đại Ca Diếp, Đại ca Chiên
Diên, Đại Mục Kiền Liên. Sau khi các ngài nghe Đức Thế
Tôn tuyên bày thí dụ về nhà lửa, đến đây các Ngài đã
tỏ ngộ và trình bày chỗ tỏ ngộ của mình.
"Lúc
bấy giờ các Ngài Huệ Mạng Tu Bồ Đề, Đại Ca Diếp, Đại
ca Chiên Diên, Đại Mục Kiền Liên, từ nơi Phật nghe pháp
chưa từng có. Đức Thế Tôn đã trao ghi cho Ngài Xá Lợi Phất
sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên sinh lòng
hi hữu nhảy nhót vui mừng".
Tại
sao Ngài Tu Bồ Đề, Đại ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp...
lại được xưng là Huệ Mạng? Bởi vì các Ngài đã được
một phần "Tri kiến Như Lai", giờ đây các Ngài đã thấu
rõ Đức Thế Tôn vì thương xót chúng sinh mà dùng phương
tiện lập ra Tam thừa giáo pháp, mục đích để khai mỡ lý
đạo Nhất thừa.
Giờ
đây các Ngài cũng đã hiểu rằng: "Nhị thừa tức là Nhất
thừa" vì từ trước đến nay vì phân biệt nên các Ngài chưa
hiểu điều này. Nay Đức Thế Tôn "khai quyền hiển thật"
dự ghi cho Ngài Xá Lợi Phất thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, làm cho các Ngài sáng tỏ nên cho là đặng điều
chưa từng có.
Và
"liền từ chổ ngồi đứng dậy, sửa y phục, trịch áo bày
vai hữu, gối hữu chấm đất, một lòng chấp tay cung kính
chiêm ngưỡng dung nhan Phật".
Bởi
vì từ trước đến nay các Ngài đắm chấp nơi quả vị tu
chứng của mình. Giờ đây mới hiểu rằng quả vị kia chỉ
là phương tiện "liền từ chổ ngồi đứng dậy". Đó là
một ý chỉ thâm diệu về sự vượt thoát, tượng trưng cho
vấn đề không còn vướng chấp nơi quả vị của mình. Và
cũng giờ này các Ngài đã sửa soạn đem giáo pháp Đại thừa
để trang nghiêm cho nhân hạnh Phật thừa của mình, nên mới
có sự tướng sửa soạn y phục.
Hơn
nữa chính giáo pháp Đại thừa ấy đã hàng phục được
ý niệm phân iệt Tiểu và Đại thừa của các Ngài, nên phát
khởi sự tướng "trịch áo bày vai hữu, gối hữu chấm đất,
một lòng chấp tay" để thể hiện sự tỏ ngộ giáo nghĩa
Đại thừa mà Đức Thế Tôn xót thương khai thị.
Cảm
trọng ân đức ấy, các Ngài đã cung kính chiêm ngưỡng dung
nhan Đức Thế Tôn, nhằm phó chúc cho đời sau phát khởi nhân
hạnh Phật thừa.
Sự
quy ngưởng ấy làm trang nghiêm đạo tràng và nhân đó các
Ngài bạch cùng Đức Thế Tôn: "Chúng con là hạng người đứng
đầu trong hàng Tăng chúng, tuổi đã già nua, tự cho đã chứng
Niết bàn, không kham nhiệm gì nữa, chẳng còn tiến cầu đạo
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".
Đó
là những lời tác bạch chân thiết. Vì đứng trước đại
chúng các Ngài đã dám mạnh dạn đem chỗ suy nghĩ của mình
như: "Thứ bậc cao nhất trong hàng Tăng Chúng, niên kỷ quá
cao, chứng được Niết bàn, cho rằng như thế là tột cùng
mà chẳng tiến cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".
Các
Ngài nêu thêm: "Từ lâu chúng con theo Đức Thế Tôn nghe pháp,
lúc đó chúng con đang ngồi nơi toà thân thể mệt mỏi, chỉ
nhớ ba pháp : không vô tướng, vô tác, đối với các pháp
du hí thần thông, tịnh cõi nước Phật, thành tựu chúng sinh
của Bồ Tát lòng chúng con không ưa thích". Đó là sự kiện
của các Ngài hay của chúng ta hôm nay:
Thứ
bậc
Tuổi
tác
Hạ
lạp
Thân
thể mệt mỏi, lý Đại thừa chẳng thông, hạnh quả của
Nhị thừa chẳng đạt. Dong ruổi theo ngày tháng, ngồi đó
để nghĩ gì?
Các
Ngài đã thị hiển nhắc cho chúng ta thấy có hay có giỏi
lắm thì cũng chỉ nghĩ đến ba pháp: không, vô tướng, vô
tác.
Nghĩa là nghỉ rằng mình đã đạt đến chổ vô vi, không
còn bị phiền não trói buộc, nên gọi là không.
- Quán
được các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, nên gọi
là vô tướng.
- Mọi
việc xem ra chẳng có gì đáng làm, không còn gì để ưa thích,
nên gọi là vô tác.
Chính
vì ý nghĩ đó mà muốn thõng tay vào nơi thâm sơn cùng cốc
để yên nhàn.
Nhưng
giờ đây chúng ta đã thật sự quán triệt được ba pháp:
không, vô tướng, vô tác chưa?
Hay
còn đang dẩy đầy phiền não, đang bị cảnh duyên trói buộc
và bị ngũ dục cuốn lôi?
o
Thâm sơn cùng cốc khó vào
o
Chợ đời khó ở
o
Thế mà lắm kẻ đã tự ngôn chứng Thành.
Làm
sao nói đến việc "đối với các pháp du hí thần thông, tịnh
cõi nước Phật, độ thoát chúng sinh của hàng bồ tát".
Chính
các Ngài còn phải e dè ngần ngại. Tại sao các Ngài không
ưa thích việc làm của Bồ Tát?
Bởi
vì nếu dùng trí tuệ thần thông không thể nghĩ bàn để
độ thoát chúng sinh, trải qua vô lượng, vô số a tăng tỳ
kiếp, mà tánh mình vẫn thanh tịnh. Đó là việc làm của
bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, của hàng Bồ Tát
Đại thừa.
Vì
sao? Vì một niệm khởi là một sự buộc ràng, khó mà tránh
được vọng niệm đảo điên luân hồi sinh tử.
Thế
mà hôm nay "ở trước Phật nghe thọ ký cho Thanh văn sẽ đặng
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng đặng
pháp chưa từng có, chẳng ngờ hôm nay đặng pháp hi hữu,
tự rất vui mừng, nay đặng lợi lành lớn, vô lượng trân
bảo chẳng tìm cầu mà đặng".
Cũng
bởi từ lâu đắm chấp nơi tiểu pháp có tu, có chứng, cứ
tưởng rằng mình đã đạt đến quả vị Niết Bàn, như thế
là rốt ráo. Các Ngài không ngờ rằng, chính sự phân biệt
suy lường về thứ bậc tu chứng, niên kỷ và trụ hập nơi
quả vị mình đạt được, đó là bức tường dày đặc,
làm nghẽn lối vào "Giáo môn Nhất thừa".
Phá
bỏ cái vỏ cứng trụ chấp ấy, đạt đến ngã không, pháp
không, chính lúc ấy là lúc rỗng rang bước vào lý đạo Nhất
thừa.
Như
vậy các Ngài đã khéo trình bày trước đại chúng, vừa để
nói lên sự thông đạt của mình, vừa để phó chúc cho chúng
sinh đời sau, y theo đó mà tiến vào Phật đạo.
Đến
đây sợ rằng ngôn ngữ chưa chở nổi sự trực ngộ thâm
sâu nên các Ngài xin Đức Thế Tôn cho trình bày trước đại
chúng một thí dụ để làm sáng tỏ việc chứng ngộ hi hữu
vừa nêu.
"Thế
Tôn, hôm nay chúng con xin nói thí dụ để chỉ rõ nghĩa đó.
Thí dụ có người tuổi thơ bé bỏ cha trốn đi. Ở lâu nơi
nước khác hoặc 10 năm, 20 năm, đến 50 năm, người đó tuổi
đã lớn, lại thêm nghèo cùng khốn khổ dong ruổi bốn phương
để cầu đồ mặc vật ăn, dạo đi lần lần tình cờ về
bổn quốc".
Như
thế các Ngài muốn trình bày rằng: chúng con đã từ lâu trôi
lăn trong ngũ thú (trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh).
Sống
trong cảnh trần lao nhơ nhiễm chẳng có chút phước báu nào
cả. Chợt Đại thừa tâm phát khởi, lúc đó chúng con mi quay
về "thế tính viên minh" nơi quê cũ của mình.
Các
Ngài trình bày tiếp:
"Người
cha từ trước đến nay tìm con không đặng bèn ở lại một
thành trong nước đó, nhà ông giàu lớn có báu vô lượng,
kho lẩm thảy đều đầy dẩy, tôi tớ, thần tá lại dân
rất đông, cho vay thâu vào lời lãi khắp đến nước khác,
khách thương buôn bán cũng rất đông nhiều".
Với
ý nghĩa Đức Thế Tôn đã thuỳ từ lân mẫn thị hiện đồng
cư với chúng sinh. Ngài có đủ sức trí tuệ thần thông không
thể nghĩ bàn. Có công hạnh tự lợi và lợi tha khắp đầy
ba cõi, giáo hoá vô lượng vô số chúng sinh đầy đủ Tam
thừa Thánh chúng.
Các
Ngài xưa kia nhờ có vun trồng cội phúc, nay mới có duyên
lành gặp Đức Thế Tôn thị hiện, giống như gã cùng tử
kia "dạo đến các tụ lạc, trải qua xóm làng lần hồi đến
nơi thành của người cha ở".
Các
Ngài đã thưa trình tiếp với nội dung: "Đức Thế Tôn biết
rõ chúng sinh đắm chìm trong ngũ dục, triền miên trong sinh
tử luân hồi. Nhưng chúng vẫn có hạt giống vô lậu xuất
thế, chúng vẫn có kho tàng vô tận quý báu như Ngài đã có.
Với lòng thương xót bao la, với tinh thần bình đẳng tuyệt
đối, Ngài chỉ muốn khai thị cho chúng sinh ngộ nhập "Tri
kiến Phật" mà đoạn kinh đã ghi:
"Người
cha hằng nhớ con, cùng con biệt ly 50 năm, mà ông vẫn chưa
từng đối với người nói việc như thế, chỉ tự suy nghĩ
lòng rất ăn năn, ông tự nghĩ: già nua và có nhiều của cải,
vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, không có con cái,
một mai chết rồi thời của cải tản mất, không người
giao phó, cho nên cần nhớ luôn đến con. Ông lại nghĩ nếu
ta gặp đặng con, uỷ phó của cải cho nó là thản nhiên khoái
lạc không còn sầu lo".
Bởi
vì hạt giống "vô lậu xuất thế" nếu không phát khởi nẩy
mầm thì cái kho tàng quý báu, muôn đưc muôn hạnh viên dung,
sẽ xem hư tản mất và như thế thì nghiệp lực sẽ dẫn
dắt, lún sâu trong vũng lầy sinh tử biết bao giò thoát được.
Nghĩ đến cảnh vô thường sinh, lão, bệnh, tử, các Ngài
giật mình tỉnh giác, tìm cầu giải thoát. Nhưng vì vô minh
che khuất và phiền não trói buộc đã lâu, do vậy ở gần
Đức Thế Tôn tu tập đã nhiều mà vẫn chưa nhận ra "Pháp
thân thường trú", chưa nhận ra "giáo môn Nhất thừa" giống
như "gả cùng tử người làm thuê làm mướn lần hồi đến
nhà người cha, bèn đứng lại bên cửa xa thấy cha".
Thấy
cha mà chẳng biết đó là cha mình, cũng vì xa "quê cũ" quá
lâu. Điều đó các Ngài muốn nói lên rằng : vì căn trí của
chúng con hạ liệt, chỉ muốn y theo tiểu pháp mà hành, chẳng
dám ngó nhìn đại pháp.
"Thưa
Thế Tôn! Bây giờ gả cùng tử người làm thuê làm mướn
lần hồi đến nhà người cha, bèn đứng lại bên cửa sổ,
xa thấy cha ngồi giường sư tử, ghế báu đỡ chân, các hàng
Bà la môn, Sát đế lợi, Cư sĩ đều cung kính bao quanh. Các
vật báu chưng bày, phát ra, thâu vào, lấy cho... có các sự
nghiêm sức dường ấy, oai đức rất tôn trọng. Gả cùng
tử thấy cha có thế lực lớn liền sinh lòng sợ sệt".
Thật
đáng thương cho gả cùng tử, vì thân phận nghèo cùng, nên
chẳng dám nghĩ đến chuyện cao sang. Vì gả biết mình là
con ông trưởng giả. Chuyện cao sang đâu cần phải mong cầu,
mà gả vốn đã sẵn có. Thế mà thấy cha có thế lực lớn
lại sinh lòng sợ sệt.
Cũng
như thế, các Ngài chỉ trụ chấp nơi tiểu quả, cho đó là
rốt ráo ở trong cảnh tịch tịnh vô vi, chẳng mong cầu "Giáo
môn Nhất thừa" cho là Thanh văn vô phân, chẳng thấu rõ "Đại
thừa giáo pháp" kia vốn sẵn có ở nơi mình.
Giờ
đây chúng ta cũng thế, miệng từng nói mình là Phật tử,
nhưng có ai dám tự nhận mình sẽ thành Phật, sẽ thừa hưởng
tất cả những kho tàng vô giá của Như Lai chăng? hay chỉ
muốn đắm chìm vào câu kinh tiếng kệ, dưa muối qua ngày,
thế mới gọi là Phật tử? Hay chỉ muốn lăn lộn trong chốn
trần lao tìm cầu ăn mặc, tìm cầu danh vọng, sắc đẹp và
ngũ nghĩ rồi cho đó là hành đạo Bồ Tát.
Đọc
đến đoạn kinh này chúng ta tự soi mình, có lẽ chúng ta so
với gả cùng tử kia còn thấp kém hơn muôn triệu lần.
Chúng
ta chẳng những không giữ tròn giới hạnh để chứng đạt
cảnh giới Niết bàn, như các Ngài Huệ mạng Tu Bồ Đề,
Đại Ca Diếp, đang khi còn trụ chấp nơi cảnh giới Nhị
thừa. Mà chúng ta hiện giờ đang lừa dối hàng bạch y phá
giới hạng trai, ssi mê, tăm tối, chẳng thông đạt "giáo nghĩa
Đại thừa" lại dám ngồi trên pháp toà, để đem "đồ nhơ
đựng trong bát báu".
Chuyên
làm môi giới cho Thánh thần, học thuộc lòng một số kinh
điển, vài trăm câu kệ, vài ngàn từ ngữ trong giáo điển
để rồi đem ra mua bán làm lợi dưỡng cho thân mình.
Suốt
ngày những vọng niệm đảo điên liên tục thay nhau, nhân
nào quả nấy, làm gì tránh khỏi việc "mang lông đội sừng"
để trả nợ áo cơm cho tín thí.
Đến
đây đoạn kinh đã nêu về sự suy nghĩ của gã cùng tử:
"Chẳng bằng ta qua xóm nghèo có chỗ cho ta ra sức để đặng
đồ mặc vật ăn, nếu như ta đứng lâu ở đây hoặc rồi
họ sẽ bức ép sai ta làm, gã nghĩ như thế rồi liền chạy
mau đi thẳng".
Nhận
biết gã kia chính là con mình, lòng ông trưởng giả vui sướng
vô hạn. Ông chỉ muốn làm sao gặp con để trao cho nó kho
tàng vô tận, nên lúc đó " ông liền sai người hầu cận
đuổi gấp theo bắt lại, lúc ấy kẻ sứ giả chạy mau qua
bắt, gã cùng tử kinh ngạc lớn tiếng kêu oan: "Tôi không
hề xúc phạm nhân sao lại bị bắt". Kẻ sứ giả càng gấp
cưỡng bắt về. Khi đó gã cùng tử tự nghĩ: không tội chi
mà bị bắt, chắc định phải chết, lại càng sợ sệt ngất
ngã xuống đất".
Với
cảng tượng vừa trình bày ấy, các Ngài muốn cho chúng hội
rõ là các Ngài đã thấu được diệu lý của Đức Thế Tôn
vừa thuyết trong Phẩm Phương Tiện. Khi ở nơi đạo tràng,
xem kinh và kinh hành trong 21 ngày, Đức Thế Tôn đã quyết
định không thuyết Đại thừa ngay. Vì chúng sinh đang chìm
trong biển ái, khó mà tin nhận "giáo nghĩa Đại thừa". Nếu
không tin mà thuyết, chúng sinh sẽ phá pháp rơi vào ba đường
dữ.
Nhận
được ý chỉ ấy của Đức Thế Tôn, các Ngài đã tự biết
mình vì căn cơ hạ liệt mà khiếp sợ Đại thừa, không dám
trực nhận là chân Phật tử.
Đúng
như thế, Đức Thế Tôn đã không dùng giáo nghĩa Đại thừa
mà thuyết cho chúng hội ngay từ lúc chuyển pháp luân. Ngài
lại từ theo căn cơ mà dìu dắt chúng sinh phát khởi Tam thừa
chủng tánh. Ngài đã để cho chúng sinh "tùy ý" chọn các tiểu
pháp theo sở thích mình để thoát ly sinh tử.
Thấy
tiểu pháp quá vi diệu, dễ tu, dễ chứng, nên chúng sinh cho
đó là đặng điều chưa từng có.
"Cha
biết con mình ý chí hạ liệt, tự biết mình giàu sang làm
khiếp sợ cho con, biết chắc là con rồi mà dùng phương tiện
chẳng nói với người khác biết là con mình. Kẻ sứ giả
nói vi gã cùng tử : nay thả ngươi đi đâu tuỳ ý. Gã cùng
tử vui mừng đặng điều chưa từng có, từ dưới đất đứng
dậy qua xóm nghèo để tìm cầu sự ăn mặc".
Mặc
dù là tiểu pháp, phước tuệ chưa được viên mãn, nhưng
cũng đủ công năng tiêu huỷ các món phiền não và tam độc
tham, sân, si.
Hơn
nữa, chính nơi tiểu pháp ấy đã ẩn tàng đại pháp, nên
các Ngài đã trình bày:
"Bấy
giờ ông trưởng giả thầm kín sai hai người hình sắc tiều
tuỵ không có oai đức, hai người nên qua xóm nghèo kia từ
từ nói với gả cùng tử nơi đây có chổ làm trả gấp bội,
gã cùng tử nếu chịu thời dắt về đây khiển làm. Nếu
nó hỏi sai làm gì? Thì nên nói với nó rằng: Thuê ngươi
hốt phân, chúng ta hai người củng cùng ngươi chung nhau làm".
Tại
sao hai người cùng ngươi chung làm việc? Nghĩa là dùng phương
tiện Nhị thừa để dìu dắt chúng hội nhưng bên trong đã
ngầm chứa lý đạo Nhất thừa.
Làm
việc gì? Đó là việc hốt phân hay tẩy trừ phiền não, tẩy
trừ những nhơ nhiễm đang làm mờ tối trí tuệ của chúng
sinh.
Giáo
pháp Nhị thừa mà các Ngài đã và đang tắm mình trong ấy.
Đó là những bậc thanh vững chắc để bước vào "Giáo môn
Nhất thừa".
Chính
khi dùng phương tiện này Đức Thế Tôn cũng tự hạ mình
để đồng cư với chúng sinh, ngõ hầu chiều uốn uốn dần
dần cho đến lúc truyền trao giáo pháp "Tối thượng thừa".
"Người
cha thấy con thương xót và quái lạ, lại một ngày khác ông
ở trong cửa sổ xa thấy con ốm o tiều tuỵ, phân đất bụi
bặm dơ dáy không sạch sẽ, ông liền cởi chuỗi ngọc, áo
tốt mịn màng cùng đồ trang sức, lại mặc áo thô rách hôi
dơ, bụi đất lấm thân, tay mặt cầm đồ hốt phân, bộ
dáng đáng nể sợ".
Nhờ
dùng phương tiện đó mới gần con, khi đã được gần con,
ông ân cần khuyên nên: "Làm ở đây, đừng đi nơi khác".
Cho
đến 20 năm sau, gã cùng tử vào ra nhà ông trưởng giả một
cách thư thái, biết được tất cả vật dụng trong nhà. Và
bây giờ trưởng giả có bệnh, tự biết mình không bao lâu
sẽ chết, mới bảo gã cùng tử rằng: "Ta nay rất nhiều vàng
bạc, trân châu, kho đụn tràn đầy, trong đó có nhiều chổ
đáng xài dùng, ngươi phải biết hết đó".
Tuy
thế, "Chổ gã ở vẫn tại chỗ cũ, tâm chí hạ liệt cũng
chưa bỏ được".
Đoạn
kinh ấy cho chúng ta thấy rằng các Ngài đã nêu từ lâu Đức
Thế Tôn cũng đã thuyết Đại thừa giáo môn cho các Ngài.
Nhưng các Ngài chẳng hề ham thích, cũng chẳng có ý tham cầu.
Bởi vì căn cơ hạ liệt và cũng chưa đến lúc Đức Thế
Tôn tuyên bày thẳng cho các Ngài về giáo môn Nhất thừa,
mà Đức Thế Tôn đã từng chỉ dạy cho hàng Bồ Tát mà các
Ngài đã có phúc duyên nghe được nhưng các Ngài chưa thấu
rõ. Hôm nay căn cơ các Ngài đã thuần thục, quả vị Thanh
văn đã đạt thành. Đúng là lúc Đức Thế Tôn “khai quyền
hiển thật” khai thị cho các Ngài ngộ nhập “Tri kiến Phật”
một cách thản nhiên tự tại.
Liễu
triệt vấn đề khai thị ấy mà các Ngài đã dung thông ngã,
pháp. Đây là vấn đề cơ bản hi hữu để các Ngài bước
vào bậc “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” nên cho là
đặng điều chưa từng có, mà đoạn kinh đã viện dẫn.
“Lại
trải qua ít lâu sau, cha biết ý chí con đã thông thái trọn
nên chí lớn. Ông gọi con đến và hội cả thân tộc, quốc
vương, quan đại thần, dòng Sát lợi, hàng Cư sĩ.
Khi
đã nhóm xong, ông liền tự tuyên rằng: “Các Ngài nên rõ,
người này là con ta, của ta sinh ra, ngày trước trong thành
nọ, bỏ ta trốn đi, nổi trôi khổ sở, hơn 50 năm, nó vốn
tên ấy, còn ta tên ấy. Nay ta có bao nhiêu của cải đều
là con ta có. Khi đó gã cùng tử nghe cha nói thế, liền rất
vui mừng đặng điều chưa từng có”.
Điều
đó đã chứng minh rằng: “Nhất thừa giáo môn tức là do
“Nhị thừa quyền pháp” mà vào vậy".
Để
kết thúc ẩn dụ Ngài Ca Diếp đã bạch rằng: “Thưa Thế
Tôn! Vị đại trưởng giả đó là Đức Như Lai, còn gã cùng
tử chính là chúng con”.
Bởi
vì trước đây chúng con chỉ thấy ba món khổ: khổ khổ,
hành khổ, hoại khổ, do vì cảm nhận thân này vô thường
rất nhiều đau khổ, lại bị trần cảnh trói buộc, tạo
nên một lớp khổ nữa. Đã như thế đến lúc hoại diệt
đổi thay luân hồi lưu chuyển, lại cảm nhận khổ hơn. Nhận
chân được ba món khổ ấy mà các Ngài đã tu tập theo pháp
Tứ Đế, để đạt đến quả vị Niết bàn.
“Thưa
Thế Tôn! Chúng con vì ba món khổ nên ở trong sinh tử chịu
nhiều đau đớn mê lầm không hiểu biết, vui đắm các pháp
Tiểu thừa.
Ngày
nay Đức Thế Tôn khiến chúng con suy nghĩ dọn trừ những
phân nhơ là “pháp hí luận”. Chúng con ở trong đó tinh tấn
đặng đạt đến Niết bàn, giá trị chừng một ngày công
đã đặng rồi tự cho mình là đủ.
Nhưng
cảnh giới Niết bàn ấy chỉ mới vượt thoát phần đoạn
sinh tử, dứt được tâm nhơ nhiễm, nhận ra các pháp không
sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không còn dấy lên
những vọng tưởng điên đảo, cho như thế là đạt lý vô
vi tột cùng rốt ráo. Nhưng đó chỉ là công việc của một
ngày.
Vì
sao thế? Vì còn trụ chấp vào quả vị tu chứng nên chỉ
mới đạt được ngã không, nhưng pháp không còn vướng. Nếu
chỉ muốn ở nơi chỗ an lành, tâm không dấy động, sợ đến
chốn trần lao nhơ nhiễm để hóa độ chúng sinh trong vô lượng
vô số kiếp sẽ bị phiền não trói buộc, thì rõ đó chỉ
là người đạt tiểu pháp. Ví dụ như chúng ta đang ngồi
thiền hay trì chú hoặc niệm Phật, tụng kinh, lúc hành như
vậy cho là tâm định. Nhưng hết ngồi, hết tụng, hết trì,
thì định cũng hết theo. Định như thế là tiểu định hay
đại định?
Chỉ
khi nào dùng trí tuệ biết rõ cội nguồn các pháp, ngoài lìa
tướng, trong không loạn, lúc nào tâm thể cùng sáng soi, vắng
lặng, ứng hợp với thời cơ, diệu dụng hành xử mà không
vướng mắc ở một pháp nào cả, thì các định ấy mới
gọi là đại định.
Tuy
nhiên, trong khi tu theo pháp Tứ Đế, lúc ở đạo tràng các
Ngài không phải không nghe Đại thừa giáo pháp. Hơn thế nữa
các Ngài đã nương trí tuệ Phật mà thuyết Đại thừa cho
các vị khác nghe. Nhưng chính tự thân các Ngài lại không
có niệm ưa thích nơi pháp ấy.
“Chúng
con lại nhân trí tuệ Phật vì các Bồ Tát mà chỉ bày diễn
nói, nhưng chính tự mình lại không có chí muốn nơi pháp
ấy”.
Cũng
như thế, chúng ta ngày hôm nay, các tiểu pháp đã chẳng tu,
mà nhiều khi lại đem các pháp như bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định... để dạy cho hàng Phật tử.
Chính tự thân ta lại chẳng bao giờ thực hành được.
Chúng
ta thường bảo mọi người hãy từ bỏ tham, sân, si, từ bỏ
ngũ dục. Nhưng gặp ai làm điều gì ta bất ưng ý thì sao?
Gặp sắc đẹp, tiền tài, danh vọng, chúng ta có thấy vướng
chăng?
Như
vậy chúng ta chỉ học thuộc lòng, nào là Tiểu thừa như
thế này, Đại thừa như thế kia, kinh nào cũng biết, điển
nào cũng thông, thế mà tham, sân, si không từ bỏ, ngũ dục
không rời, làm sao dám xưng là Phật tử được. Phật tử
đây không có nghĩa là chỉ cho những người tại gia quy y
Phật. Mà Phật tử đây là con của đấng giác ngộ, không
luận tại gia hay xuất gia, không luận quả vị tu chứng từ
thấp đến cao. Miễn là kẻ ấy dám nhận cái kho tàng vô
giá, như ông trưởng giả đã trao cho gã cùng tử vậy. Chúng
ta hãy đọc lại câu ông trưởng giả đã nói: “Nó thiệt
là con ta, ta thiệt là cha nó, nay ta có tất cả bao nhiêu của
cải đều là của con ta cả”.
Nếu
chúng ta thừa hưởng trọn vẹn cái kho tàng vô giá Như Lai
tâm ta tự biết rằng cái kho tàng vô giá ấy cũng chính là
tự tánh nhiệm mầu, nên mới nhân danh xưng là Phật tử.
Chúng
ta hãy xem lại mình đã hành theo lời dạy của đấng Từ
Phụ chưa?
Hàng
ngày chúng ta thường phát khởi tâm từ bi, an ủi những người
khổ đau. Nhưng đến khi chúng ta gặp đau khổ thì họ an ủi
lại mình. Thế thì giữa ta và họ an ủi qua lại chứng tỏ
tâm ta chưa thật sự an định, mà còn theo cảnh duyên, nên
có sự buồn, vui, thương, ghét... Thế mà chúng ta dám đem
việc an định dạy bảo mọi người.
Đức
Thế Tôn từ “tánh giác viên minh” xuất nhập tự tại,
đem pháp nhũ ban bố cho cả hàng trời, người muôn loài chúng
sinh. Ngài đâu còn mang “tâm viên ý mã” để đi giảng pháp
cho muôn loài. Đức Như Lai có đủ mười hiệu: Ứng cúng,
Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải,
Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật
Thế Tôn. Chúng ta là Thích tử nếu không đủ mười hiệu,
thì ít ra cũng được 1/100.000 của một trong mười hiệu đó,
rồi mới dám ngồi trên pháp tòa để giải pháp, giờ đây
tham, sân, si còn đầy dẫy, cảnh duyên còn thúc bách, ngũ
dục cuốn lôi. Thế mà dám ngồi ghế pháp sư để giảng
đạo, nếu đã ngồi, chúng ta hãy cẩn trọng.
Qua
thí dụ về gã cùng tử, một lần nữa, Ngài Ca Diếp lại
tuyên đọc kệ cho chúng hội thâm hiểu hơn. Phần kệ đã
nhắc lại gã cùng tử lang thang cầu sự sống, dần dần về
bổn quốc, đến nhà người cha, thấy cha giàu sang sinh tâm
sợ sệt.
Bấy
giờ gã cùng tử,
Đi
tìm cầu ăn mặc,
Ấp
này đến ấp khác,
Nước
này sang nước nọ,
Hoặc
có khi đặng của,
Hoặc
có lúc chỉ đặng,
Đói
thiếu hình gầy gò,
Thân
thể sinh ghẻ lác,
Thơ
thẩn đi trải qua,
Đến
thành cha gã ở,
Lần
lữa làm thuê mướn,
Bèn
đến trước nhà cha,
Lúc
ấy ông trưởng giả,
Đang
ở trong nhà sang,
Giăng
màn châu báu lớn,
Ngồi
tòa sư tử cao,
Gã
cùng tử thấy cha,
Quá
mạnh giàu tôn nghiêm,
Kinh
sợ tự trách thầm,
Tại
sao đến đây chi,
Nếu
ta đứng đây lâu,
Hoặc
sẽ bị bức ngặt,
Suy
nghĩ thế vậy rồi,
Rảo
bước mà chạy thẳng.
Đó
là lúc đi tìm đạo, gần đến đạo rồi thấy khó quá lại
thối lui.
Phần
trùng tụng đoạn hai:
Ông
trưởng gải thấy con mừng vui khôn xiết, cho người đuổi
bắt, gã cùng tử sợ quá ngất xỉu. Ông trưởng giả bảo
người hầu cận thả nó ra, cho nó đi đâu tùy ý. Rồi ngầm
sai hai người đến dụ gã hốt phân.
Lúc
bấy giờ trưởng giả,
Ngồi
trên tòa sư tử,
Xa
trông thấy con mình,
Thầm
lặng mà suy nghĩ,
Ông
liền bảo kẻ sứ,
Đuổi
theo bắt nó về,
Gã
cùng tử sợ kêu,
Mê
ngất ngã lăn đất,
Trưởng
giả biết con mình,
Ngu
dại lòng hẹp hèn,
...............
Ông
liền dùng phương tiện,
Lại
sai hai người khác,
Mắt
chột thân lùn xấu,
Hạng
người không oai đức,
Các
người nên bảo nó,
Rằng
ta sẽ thuê nó,
Hốt
dọn các phân nhơ,
Gã
cùng tử nghe rồi,
Vui
mừng theo sứ về,
Việc
làm là hốt phân,
Sạch
sẽ các phòng nhà.
Đó
là Đức Thế Tôn biết rõ căn cơ của chúng sinh, dùng phương
tiện Nhị thừa để dẫn dắt. Với Nhị thừa dứt trừ được
phiền não, chứng đắc ngã không, nhưng chưa đạt pháp thông,
nên gọi là mắt chột. Hốt phân dụ cho dứt trừ phiền não,
dọn sạch ngôi nhà ngũ uẩn, dứt trừ tham dục, gọi là sạch
sẽ các phòng nhà.
Phần
trùng tụng đoạn ba:
Khi
gã cùng tử đã nhận hốt rồi dần dần ông trưởng giả
thay đổi y phục, gần gũi được con, nhận gã cùng tử là
con. Chỉ cho gia sản, sự nghiệp, tập cho gã quản lý, nhưng
vẫn chưa biết đó là gia sản của mình. Đến khi ông trưởng
giả biết con mình đã thuần thục trong việc quản lý. Bấy
giờ ông mời thân tộc cùng mọi người đến tuyên bố: gã
đó chính là con mình, sự nghiệp này chính là của nó, gã
cùng tử thấy mình đặng điều chưa từng có.
Cha
biết lòng con rồi,
Lần
lần đã rộng lớn,
Muốn
giao gia tài cho,
Liền
nhóm cả thân tộc,
Quốc
vương các đại thần,
Hàng
Sát đế lợi, Cư sĩ,
Rồi
ở trong chúng này,
Tuyên
nói chính con ta,
Bỏ
ta đi nước khác,
Trải
hơn năm mươi năm,
Đã
hai mươi năm rồi,
Phàm
của cải ta có,
Nhà
cửa cùng nhân dân,
Hãy
đều phó cho nó,
Mặc
tình nó tiêu dùng,
Người
con nghĩ xưa nghèo,
Chí
ý rất kém hèn,
Nay
ở nơi cha mình,
Đặng
quá nhiều của báu,
Lòng
rất đỗi vui mừng,
Đặng
điều chưa từng có.
Như
thế chúng ta mới thấy rõ Đức Thế Tôn, vị giáo chủ đầy
lòng từ bi và bình đẳng tuyệt đối. Ngài đã thị hiện
chiều uốn theo tánh dục của chúng sinh, chỉ bày cho chúng
sinh những tiểu pháp để vượt thoát vũng lầy sinh tử. Cho
đến khi thuần thục, Ngài truyền trao cho giáo pháp Tối thượng
thừa.
Giờ
đây chúng ta đã và đang tắm mình trong pháp nhũ đó, chúng
ta hãy nhất tâm tuyên đọc lại lời kệ của Ngài Ca Diếp
thị hiện phó chúc trong phần cuối phẩm:
Ơn
lớn của Thế Tôn,
Đem
việc ít có này,
Thương
xót dạy bảo cho,
Làm
lợi ích chúng con,
Trải
vô lượng ức kiếp,
Ai
có thể đền được,
Tay
lẫn chân cung cấp,
Đầu
đảnh lễ cung kính,
Tất
cả dâng cúng dường,
Đều
không thể đền đặng,
Hoặc
dùng đầu đội Phật,
Hai
vai cùng cõng vác,
Trong
kiếp số hằng sa,
Tận
tâm mà cung kính,
Cũng
không đền đáp xứng.
Do
vậy, muốn đáp đền ân sâu vô lượng của Đức Thế Tôn
một trong triệu triệu lần, thì chúng ta hãy dõng mãnh tinh
tấn chí cầu Phật đạo. Phát khởi tâm đại từ, đại bi
để hoằng hóa độ sanh, dứt trừ sự tham cầu nhơ nhiễm.
Các vị Tổ Đức, chư vị Pháp sư hiện hành, rỗng rang tự
tại, thông hiểu lý đạo Nhất thừa, không vì lợi dưỡng,
không vĩ ngũ dục, đã và đang truyền trao giáo pháp Đại
thừa, đó là những bậc có công ơn vô kể.
Thông
thường ai giúp ta được một việc gì chỉ trong một đoạn
đường, một thời gian ngắn, hoặc một cơn khủng hoảng
nào đó, ta đã cảm trọng ân đức của họ trọn đời.
Nhưng
chư vị Pháp sự, các bậc Tổ Đức truyền trao cho ta giáo
pháp của Đức Phật để chúng ta thoát ly sinh tử luân hồi,
tỉnh giác bước ra vòng nhiễm chấp, vượt khỏi tam giới,
trở về với “tánh giác viên minh”, với “pháp thân thường
trú” hưởng dụng bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh, không
hạn lượng không gian và thời gian, ân đức ấy làm sao trả
được.
Qua
phẩm Tín Giải, một lần nữa cũng tuyên bày thí dụ để
chúng ta trực nhận “Tri kiến Như Lai” một lần nữa chúng
ta vững tin rằng chúng ta sẽ ngộ nhập vào “Tri kiến Phật”.
Chúng ta mới có cơ may tiến sâu vào “Lý đạo Nhất thừa”,
gã cùng tử mà các Ngài ẩn dụ là để chúng ta nương theo
đó mà hành. Nhưng phẩn nhận chân rằng gã cùng tử ấy,
ta khó mà bằng kịp.
Hãy
tinh tấn, chuyên cần, hãy tỉnh giác, “Giáo môn Nhất thừa”
đang rộng mở đón chờ chúng ta.
Đọc
Thêm:
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Tịnh dịch
Kinh
Pháp Hoa, HT. Thích Trí Quang dịch
Kinh
Pháp Hoa Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Ðạo
Phật Ngày Nay, Một Diễn Dịch Mới Về Ba Bộ Kinh Pháp Hoa
Diễn
Giải Kinh Pháp Hoa
Lược
Giải Kinh Pháp Hoa
Pháp
Hoa Đề Cương, HT. Thanh Đàm, Tỳ Kheo Thích Nhật Quang dịch